Unions Network: “Leviathan” (Thủy Quái) là tác phẩm kinh điển của nhà triết học chính trị người Anh Thomas Hobbes (1588 – 1679). Ngoài việc đặt ra khái niệm “khế ước xã hội” mà các triết gia đời sau thường dùng, cuốn sách này còn phát triển các nguyên tắc cơ bản của tư tưởng tự do phương Tây: quyền được bầu cử của các cá nhân; quyền bình đẳng tự nhiên của tất cả mọi người; tính nhân tạo của địa vị chính trị; quan điểm tất cả quyền lực chính trị hợp pháp phải mang tính “đại diện” và dựa trên sự đồng thuận của nhân dân; và sự diễn giải luật khá phóng thoáng cho phép mọi người được làm bất kỳ điều gì mà pháp luật không cấm.

Xét tầm quan trọng đặc biệt của tác phẩm, Mạng lưới Nghiệp đoàn xin mạo hiểm chuyển ngữ “Leviathan”. Do tác phẩm được viết bằng tiếng Anh cổ, với cấu trúc câu phức tạp, bản dịch đầu tiên của chúng tôi chắc chắn sẽ chứa nhiều sai sót. Xin độc giả hỗ trợ bắt lỗi bản dịch bằng cách gửi tin nhắn đến fanpage Mạng lưới Nghiệp đoàn.

Click vào ĐÂY để đọc các chương đã dịch, vào ĐÂY để đọc bản gốc tiếng Anh, và vào ĐÂY để tham khảo bản tiếng Pháp.

*

Phần I – Bàn về Con người

Chương III – Về tính nhân quả, hay tính xâu chuỗi của các suy nghĩ

Khi nhắc đến tính Nhân Quả, hay tính Xâu Chuỗi của các Suy Nghĩ, tôi muốn nói về sự tồn tại của các suy nghĩ trong cùng một thời điểm, nhưng nối tiếp nhau, suy nghĩ này tiếp nối suy nghĩ khác. Chúng ta hãy gọi đó là sự “Diễn Ngôn trong Tâm Trí”, để phân biệt với Diễn Ngôn bằng câu chữ.

Khi một người bắt đầu nghĩ về một sự vật, Suy Nghĩ kế tiếp mà anh ta có thường không nảy sinh ngẫu nhiên như nó trông có vẻ như vậy. Không phải bất cứ Suy Nghĩ nào cũng có thể nối tiếp một Suy Nghĩ có trước mà không tạo ra sự khác biệt. Cũng như ta không thể Tưởng Tượng một sự vật khi chưa có Cảm Giác về một phần hay toàn bộ sự vật đó; ta không thể Chuyển từ hình ảnh Tưởng Tượng này sang hình ảnh Tưởng Tượng khác khi bước Chuyển đó chưa có trong Cảm Giác của chúng ta. Lý do là thế này: mọi Tưởng Tượng đều là những Chuyển Động bên trong chúng ta, tức vết tích của những chuyển động bên ngoài mà ta từng ghi nhận bằng Cảm Giác. Các chuyển động nối tiếp nhau theo cách nào khi ta Cảm Nhận chúng, thì cũng nối tiếp nhau sau theo cùng cách đó sau khi ta Cảm Nhận. Chuyển động trước được tái hiện và chiếm chỗ trong tâm trí như thế nào, thì chuyển động kế tiếp cũng theo chân; với sự gắn kết tương tự như khi vật chất chuyển động, chẳng hạn: vũng nước trên mặt bàn nằm ngang sẽ chảy theo hướng của một vệt nước mà ngón tay ta quệt sẵn. Nhưng vì trong thế giới cảm giác, cùng một việc mà ta đang nhận thức có thể được tiếp nối bằng việc này hoặc việc kia; khi ta Tưởng Tượng về bất cứ thứ gì, ta không thể biết chắc hình ảnh Tưởng Tượng nào sẽ nối tiếp. Ta chỉ biết chắc một điều: hai thứ nối tiếp nhau trong Tưởng Tượng cũng là hai thứ có thể nối tiếp nhau trong Cảm Giác.

 

Những Chuỗi Suy Nghĩ Không Định Hướng

Những Chuỗi Suy Nghĩ này, hay “Diễn Ngôn trong Tâm Trí”, bao gồm hai loại. Loại thứ nhất là những chuỗi suy nghĩ Không Định Hướng, Không Được Dẫn Dắt, và dễ thay đổi. Những chuỗi thuộc loại này không chứa một Suy Nghĩ Nồng Nhiệt [Passionate Thought] – thứ đủ mạnh để khiến các suy nghĩ còn lại hướng về phía nó, với tư cách đích đến hoặc phạm vi của một ham muốn hay một cảm xúc nồng nhiệt. Do đó, những suy nghĩ trong chuỗi thuộc loại này đi lang thang, không liên quan đến nhau, giống như trong một Giấc Mơ. Con người thường có những chuỗi suy nghĩ thuộc kiểu này khi họ vừa ở một mình, vừa không chú tâm đến chuyện gì cụ thể. Dù tâm trí họ vẫn hoạt động bận rộn như mọi lúc, các suy nghĩ của họ giờ đây không hài hòa với nhau, giống như âm thanh của một cây đàn lute lệch tông, hoặc của cây đàn chơi đúng tông trong tay người không biết gảy. Tuy nhiên, ngay cả khi tâm trí của chúng ta đi hoang như vậy, ta vẫn thường nhận thức được cách đi của nó, và sự lệ thuộc của suy nghĩ này vào suy nghĩ kia. Chẳng hạn, trong Diễn Ngôn về cuộc nội chiến hiện tại, dường như câu hỏi “Một đồng bạc La Mã đáng giá bao nhiêu?”, mà ai đó đã đặt ra, là chẳng mấy liên quan. Nhưng với tôi, sự Gắn Kết ở đây đã rõ ràng: Suy Nghĩ về cuộc chiến dẫn đến Suy Nghĩ về việc giao nộp Nhà Vua cho Kẻ Địch; từ đó dẫn đến Suy Nghĩ về việc giao nộp Jesus cho quân La Mã; từ đó dẫn đến cái giá 30 đồng vàng của tội phản bội này; và từ đó dẫn đến câu hỏi ác ý kia, tất cả chỉ trong một khoảnh khắc của thời gian, vì Suy Nghĩ xảy ra rất nhanh chóng.

 

 

Những Chuỗi Suy Nghĩ Có Định Hướng

Kiểu chuỗi suy nghĩ thứ hai có tính ổn định cao hơn, do chúng được Điều Tiết bởi một số ham muốn hoặc mục đích. Ấn tượng hình thành từ những thứ mà chúng ta ham muốn hoặc sợ hãi là rất mạnh mẽ và lâu bền, chúng sẽ nhanh chóng xuất hiện trở lại dù có tạm biến mất; chúng mạnh đến mức có thể cản trở hoặc phá vỡ giấc ngủ của chúng ta. Ham Muốn sẽ khơi dậy Suy Nghĩ về các phương tiện giúp chung ta đạt được mục đích; tiếp đó là Suy Nghĩ về những phương tiện giúp chúng ta đạt được số phương tiện này; cứ như vậy, cho đến khi chúng ta tìm được một xuất phát điểm nào đó trong tầm với của mình. Và vì Mục Đích, do độ lớn của ấn tượng, thường xuyên hiện diện trong tâm trí chúng ta; ngay cả khi các suy nghĩ của chúng ta đi lang thang, chúng cũng có thể tập hợp lại để tạo thành con đường đến đích. Nhờ quan sát thấy điều này, một trong bảy nhà thông thái đã phát biểu một châm ngôn mà ngày nay đã trở thành sáo mòn: “Respice Finem” (tiếng Latin: “Nhìn vào kết cục”); theo đó trong mọi hành động của bạn, hãy thường xuyên nhìn vào điều mà bạn sẽ đạt được, dùng nó để hướng các suy nghĩ của bạn vào con đường giúp đạt được nó.

 

Sự Hồi Tưởng

Các Chuỗi Suy Nghĩ Có Định Hướng có thể được chia làm hai loại. Ở loại thứ nhất, sau khi tưởng tượng một kết quả, chúng ta tìm kiếm nguyên nhân hoặc phương tiện có thể dẫn đến kết quả đó. Cả con người lẫn động vật đều có loại suy nghĩ này. Ở loại thứ hai, sau khi tưởng tượng một chuyện bất kỳ, ta tìm kiếm bất cứ kết quả nào có thể hình thành từ chuyện đó. Nói cách khác, ta tưởng tượng xem nếu ta có một hiện tượng, thì ta sẽ làm gì với nó. Tôi chưa từng chứng kiến một dấu hiệu nào cho thấy sự tò mò này tồn tại ở những sinh vật không phải con người – những sinh vật không có Ham Muốn nào khác ngoài những ham muốn xác thịt, như cơn đói, cơn khát, tình dục, và sự tức giận. Tóm lại, Diễn Ngôn trong Tâm Trí, khi được định hướng bởi một mục đích, sẽ không là gì khác ngoài việc Tìm Kiếm hoặc việc Sáng Tạo, hai thứ được gọi trong tiếng Latin là Sagacitas và Solertia. Đó là cuộc săn tìm các nguyên nhân của một kết quả trong hiện tại hoặc quá khứ, hoặc cuộc săn tìm các kết quả của một nguyên nhân trong hiện tại hoặc quá khứ.

Thỉnh thoảng, khi một người tìm kiếm một vật bị mất, từ  thời điểm và địa điểm mà anh ta thấy mình mất đồ, tâm trí anh ta sẽ truy ngược lại từ thời điểm này đến thời điểm khác, từ địa điểm này đến địa điểm khác, để tìm ra mình vẫn cầm món đồ đó vào lúc nào và ở đâu. Nói cách khác, phương pháp tìm kiếm khởi đầu bằng việc tìm ra một khoảng thời gian và không gian giới hạn, cụ thể. Kế tiếp, tâm trí anh ta rà soát khoảng thời gian và không gian ấy, để tìm xem mình có thể đánh mất đồ vật vì hành động hoặc tình huống nào. Ta gọi việc này là Hồi Tưởng, tức Reminiscentia trong tiếng Latin, chỉ việc nhìn lại những hành động ta từng có.

Thỉnh thoảng, khi một người biết một địa điểm xác định, nằm trong khoảng không mà anh ta phải tìm kiếm, tâm trí anh ta rà soát toàn bộ khu vực đó, theo cách người ta quét một căn phòng để tìm vật trang sức bị thất lạc, hay cách một con chó Tây Ban Nha chạy quanh cánh đồng cho đến khi thấy mùi con mồi, hoặc cách một người rà theo bảng chữ cái để tìm cách ghép vần điệu.

 

Sự Khôn Ngoan (Prudence)

Thỉnh thoảng, khi một người muốn biết một hành động sẽ đem lại kết quả nào; anh ta sẽ nghĩ về một hành động tương tự trước đó, cùng chuỗi kết quả mà nó đem lại, với giả định rằng hành động giống nhau sẽ đem lại kết quả giống nhau. Chẳng hạn, để thấy trước điều gì sẽ xảy đến với một Tội Phạm, anh ta có thể nhớ lại những gì đã xảy đến với một Tội Ác tương tự trước đó, và có những suy nghĩ theo tứ tự như sau: Tội Ác, Cảnh Sát, Nhà Tù, Quan Tòa, Giá Treo Cổ. Dạng chuỗi suy nghĩ này được gọi là sự Tiên Đoán (Foresight), sự Quan Phòng (Providence), sự Thận Trọng/Khôn Ngoan (Prudence), hoặc đôi khi là sự Thông Thái (Wisdom); dù những hoạt động dự đoán như vậy rất dễ rơi vào sai lầm, do gặp khó khăn trong việc quan sát mọi tình huống có liên quan. Nhưng ta có thể chắc chắn về điều này: một người càng có kinh nghiệm về quá khứ hơn những người khác bao nhiêu, thì anh ta càng Khôn Ngoan hơn bấy nhiêu, và các dự đoán của anh ta càng hiếm khi làm anh ta thất vọng. Hiện Tại là thứ duy nhất tồn tại trong Tự Nhiên, những điều từng xảy đến trong Quá Khứ chỉ tồn tại trong Ký Ức, còn những điều thuộc về Tương Lai thì không hề tồn tại. Tương Lai chẳng là gì khác ngoài một hư cấu do tâm trí tạo ra, khi gán hậu quả của những hành động trong Quá Khứ cho những hành động trong Hiện Tại. Điều này chỉ được làm một cách chắc chắn bởi những người có nhiều Kinh Nghiệm nhất, nhưng thực ra họ cũng không thể hoàn toàn chắc chắn. Và dù ta gọi việc này là Tiên Đoán, ngay cả khi Dự Đoán của ta khớp với Kết Quả, nó vẫn chỉ có bản chất là một Giả Định. Khả năng nhìn trước những việc sẽ xảy đến, tức Quan Phòng, chỉ thuộc về đấng làm cho những việc đó xảy ra. Ngài là nguồn gốc duy nhất của những Lời Tiên Tri siêu nhiên. Còn trong lĩnh vực tự nhiên, Nhà Tiên Tri giỏi nhất là người suy đoán tốt nhất; tức người có học và thành thạo nhất trong những lĩnh vực mà anh ta suy đoán. Anh ta là người nhận biết được nhiều Dấu Hiệu nhất để đưa ra suy đoán của mình.

 

Những Dấu Hiệu (Signes)

Một Dấu Hiệu có thể là Tiền Đề của một Hậu Quả, và cũng có thể là Hậu Quả của một Tiền Đề. Chẳng hạn, mây đen có thể là dấu hiệu cho thấy trời sắp mưa, cái cây bốc cháy có thể là dấu hiệu cho thấy nó vừa bị sét đánh trúng. Để nhận biết được Dấu Hiệu, ta phải quan sát những Hậu Quả tương tự từ trước đó; và Hậu Quả càng được quan sát thường xuyên bao nhiêu thì Dấu Hiệu càng chính xác bấy nhiêu. Do đó, người có nhiều kinh nghiệm nhất trong bất kỳ lĩnh vực nào sẽ nhận biết được nhiều Dấu Hiệu nhất, dự đoán Tương Lai tốt nhất, và vì vậy là người khôn ngoan nhất. Kẻ mới bước vào lĩnh vực này cũng không thể ngang hàng với anh ta nhờ bất cứ lợi thế nào từ trí thông minh đột xuất hoặc bẩm sinh, dù nhiều người trẻ có thể nghĩ ngược lại.

Tuy nhiên, sự Khôn Ngoan không phải là thứ giúp phân biệt con người với con vật. Có những con vật mà khi được một tuổi, chúng đã quan sát nhiều hơn, và theo đuổi những thứ tốt cho mình một cách khôn ngoan hơn, so với một đứa bé mười tuổi.

 

Việc Phỏng Đoán Quá Khứ

Sự Khôn Ngoan đến từ việc Phỏng Đoán Tương Lai dựa trên Kinh Nghiệm về Quá Khứ. Tương tự, có hoạt động Phỏng Đoán về những việc đã xảy ra trong Quá Khứ, dựa trên những việc khác cũng nằm trong Quá Khứ chứ không nằm ở Tương Lai. Nếu một người từng chứng kiến, theo con đường nào và ở mức độ nào, mà một Quốc Gia hưng thịnh đã rơi vào nội chiến rồi sụp đổ; thì khi chứng kiến sự sụp đổ của bất cứ Quốc Gia nào khác, anh ta cũng có thể đoán rằng nước đó đã trải qua một con đường tương tự và một cuộc chiến tương tự. Nhưng Phỏng Đoán của anh ta cũng thiếu chắc chắn như các Phỏng Đoán về tương lai, do cả hai đều chỉ dựa trên Kinh Nghiệm.

[Ngoài những hoạt động vừa kể,] tôi không nhớ còn hoạt động nào khác của tâm trí con người có thể hình thành trong anh ta một cách tự nhiên. Vì vậy, để sử dụng tâm trí của mình, ta chỉ việc sinh ra là con người và sống với năm Giác Quan sẵn có. Những Năng Lực khác mà chút nữa tôi sẽ nói đến – thứ dường như chỉ có ở con người – sẽ được tiếp thu và cải thiện thông qua học tập và lao động. Hầu hết mọi người học chúng qua quá trình dạy dỗ và rèn luyện, thứ được tiến hành nhờ sự ra đời của Ngôn Ngữ. Dù tâm trí con người không có chuyển động nào khác ngoài Cảm Giác, Suy Nghĩ và Chuỗi Suy Nghĩ; sự hỗ trợ của Ngôn Ngữ và Phương Pháp có thể nâng những Năng Lực này lên một tầm cao, cho phép phân biệt con người với tất cả những Sinh Vật khác.

Mọi thứ mà chúng ta tưởng tượng đều Hữu Hạn. Vì vậy, không tồn tại ý tưởng, hoặc quan niệm, về bất cứ thứ gì mà chúng ta gọi là Vô Hạn. Không ai có thể chứa trong tâm trí mình một Hình Ảnh có kích cỡ vô hạn; hoặc nhận thức một tốc độ vô hạn, thời gian vô hạn, sức mạnh vô hạn. Việc không nhận thức được điểm kết hoặc giới hạn của một vật đã được chỉ đích danh không mang đến cho chúng ta Quan Niệm về vật này; nó chỉ mang đến Quan Niệm về sự thiếu năng lực của chúng ta. Do dó, Tên của Chúa được sử dụng không phải để Nhận Thức ngài, mà để tôn vinh ngài (vì ngài là Bất Khả Tri, và sức mạnh cùng sự vĩ đại của ngài là không thể nhận thức được). Thêm nữa, như tôi đã nói, vì chúng ta chỉ nhận thức được những gì mình từng cảm nhận bằng giác quan, dù là cảm nhận toàn bộ hay từng phần; con người không thể có những suy nghĩ đại diện cho những thứ không phải là đối tượng của cảm giác. Vì thế, con người không thể nhận thức bất cứ thứ gì nếu không mường tượng địa điểm của nó, kích thước của nó, và chia nó ra thành từng phần. Một vật không thể tồn tại cùng lúc ở hai địa điểm, và hai vật không thể tồn tại cùng lúc ở một địa điểm. Những việc như vậy chưa từng, hoặc không thể, xảy đến với cảm giác; chúng chỉ là những phát biểu vô lý được tín nhiệm nhờ những Triết Gia, Học Giả lừa gạt, hoặc bị lừa gạt.

(Còn tiếp. Click vào ĐÂY để đọc các chương đã dịch)

Dịch bởi Nguyễn Hoàng Nam, Nguyễn Vũ Hiệp
Đăng lần đầu trên Mạng lưới Nghiệp đoàn

Xin ghi rõ nguồn để tôn trọng công sức của người dịch.

Chú thích:

[1] Trong câu này, Hobbes muốn đề cập đến những trường đại học đang giảng dạy triết học chịu ảnh hưởng từ Aristotle vào thời điểm đó.

 

Hits: 29

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *