Vở kịch này được viết vào khoảng 1595 – 1596 và in lần đầu tiên năm 1600.

Cốt truyện hoàn toàn do Sếchxpia sáng tạo ra, nhưng một số nhân vật và chuyện tình duyên của họ thì tác giả rút ra từ sách cổ đại Hi Lạp và La Mã (Thidiơx và Hipôlita từ Plutac, Pirơmơx và Thidơbi từ Ovit) còn Păc, anh chàng ngỗ nghịch và thế giới quần tiên của Obêrơn và Titania thì đi từ truyền thuyết dân gian Anh vào kịch của Sếchxpia.

Các nhà nghiên cứu phương Tây đã bàn khá nhiều về cái tên của vở kịch. Midsummer Day trong tiếng Anh là ngày lễ Thánh Xanh Giăng, tức ngày 24 tháng Sáu hàng năm. Thành ra A Midsummer Night’s Dream phải dịch đúng ra là Giấc mộng đêm lễ Thánh Xanh Giăng. Nhưng trong vở kịch thì tác giả cho ta biết rằng câu chuyện xảy ra vào đêm hôm trước ngày mồng Một tháng Năm. Vì sao có sự không ăn khớp này? Có nhiều cách giải thích, nhưng ta không cần dừng lại. Chỉ biết rằng cuối cùng người ta thống nhất với nhau rằng vào những đêm ấy của mùa hè, một số loài hoa và cây cỏ bỗng có ma lực thần thông, giống anh linh tiên cốt thường xuất hiện, các cặp tình nhân dễ đắm đuối mơ màng và mọi người trở nên cuồng si rồ dại!

Quả nhiên, Giấc mộng đêm hè dẫn dắt người xem vào một thế giới hoang đường kì ảo, trong đó trí tưởng tượng của nhà thơ tự do bay bổng một cách diệu kì.

Toàn bộ vở kịch như một giấc mơ, giấc mơ giữa rừng khuya, dưới ánh trăng mờ ảo, trong tiếng gió rì rào trên cành lá, người trần sống lẫn quần tiên, mà ai nấy đều tràn đầy sức sống, biến thành những khách tình si, nửa mê nửa tỉnh, tưởng đời là mộng, biến mộng thành đời…

Oberon, Titania and Puck with Fairies Dancing circa 1786 William Blake 1757-1827

Giấc mộng đêm hè là một vở kịch đầy chất thơ, có lẽ thơ nhất trong các hài kịch của Sếchxpia. Tác giả trộn lẫn ở đây thực và ảo, trữ tình và hài hước, cao cả và kệch cỡm, nghiêm túc và buồn cười. Bàn tay nhà nghệ sĩ đã nhào nặn những chất liệu khác nhau ấy thành một chỉnh thể thống nhất, toàn vẹn.

Trong vở kịch cả hai thế giới – hiện thực và hoang đường – song song tồn tại cùng nhau. Trong từng thế giới lại có những tuyến tình tiết khác nhau.

Cuộc hôn nhân giữa quận công Aten và nữ chúa bộ tộc Amadôn là khung cảnh của toàn bộ câu chuyện. Vở kịch mở đầu trong lâu đài của Thidiơx, bằng việc báo tin về cuộc hôn lễ sắp tiến hành và kết thúc cũng trong lâu đài của Thidiơx bằng một cuộc vui trong chính ngày hôn lễ. Cuộc tình duyên này không hề có sóng gió, không trải qua những xung đột có tính kịch. Đôi trai tài gái sắc này thật xứng đôi vừa lứa, họ yêu nhau tha thiết và nóng lòng chờ đợi ngày hạnh phúc đang đến gần. Đây là thế giới của sự hài hòa tuyệt đối. Những nhân vật này thông minh, tỉnh táo, nhưng hình tượng của họ trong vở kịch nằm ở bình diện thứ hai và được xây dựng một cách tĩnh tại.

Cảnh thanh bình nơi cung điện của Thidiơx lập tức bị phá vỡ khi xuất hiện những cặp tình nhân khác: Laixanđơ và Hecmiơ, Đimitriơx và Hêlen. Đây mới là môtip trung tâm của vở kịch. Những xung đột có tính kịch bắt nguồn từ trái tim sôi nổi yêu đương của họ. Trước hết, có mâu thuẫn giữa hai thế hệ, cha mẹ và con cái, mỗi bên tiêu biểu cho một nền luân lí khác nhau. Igiơx, cha của Hecmiơ, đòi khẳng định quyền đặt đâu con ngồi đấy của kẻ sinh thành và quyền này được pháp luật ủng hộ. Hecmiơ chống lại nguyên tắc đó, nghe theo tiếng gọi của trái tim, đòi được tự do lựa chọn người yêu và bạn đời. Quyết tâm đấu tranh cho hạnh phúc của mình, Hecmiơ và Laixanđơ chạy trốn vào rừng. Bị tình yêu thúc đẩy, Đimitriơx và Hêlen cũng đuổi theo vào đây. Và rừng là một thế giới riêng biệt, đây là nơi thiên nhiên thống trị chứ không phải luật pháp, lệnh cha, hay lề thói xã hội như ở trong đô thành. Chúng không đe dọa cuộc sống con người nữa: tình cảm được tháo cũi sổ lồng, sẽ lộ ra một cách cực kì chân thật, tự do.

Nhưng cũng chính giữa cảnh thiên nhiên hoang dại này, chúng ta bắt gặp một loại nhân vật khác. Đây là thế giới kì ảo của các thần tiên, với vị thống soái Obêrơa và nữ chúa Titania, anh chàng Păc hay đùa cợt và lũ tiên đồng nhởn nhơ. Nếu như trong xã hội loài người, kẻ thống trị dùng pháp luật để bắt mọi người thần phục thì ở đây, trong thế giới thần tiên, Obêrơn lại dùng pháp thuật. Obêrơn cũng mâu thuẫn gay gắt với Titania – sự tranh chấp của họ gần như làm rối loạn cả vũ trụ, – nhưng cuộc xung đột này không gây ra một đổ vỡ tan hoang nào, mà chỉ dẫn đến một trò đùa vui vẻ: bị mê hoặc bởi nhựa tình, Titania yêu say đắm anh chàng thợ dệt Bottơm, ngồi vuốt ve tán tỉnh cái đầu lừa của hắn!

Con người cũng mắc vào cái trò chơi lí thú này của hội quần tiên và người xem được chứng kiến những cảnh vui nhất của vở kịch khi thấy Laixanđơ, dưới tác động của tiên thuật, bỗng nhiên ruồng bỏ Hecmiơ để theo đuổi Hêlen hoặc khi Laixanđơ và Đimitriơx bị Păc đánh lừa, đuổi theo nhau để đấu kiếm ở trong rừng.

Cuối cùng thì mọi lầm lẫn đều qua đi, mọi trở lực bị dẹp tan, tình yêu tự do đã thắng lợi. Thidiơx đồng ý cho hai cặp thanh niên lấy nhau theo ý nguyện và làm lễ cưới đúng vào ngày hôn lễ đế vương. Như vậy vở kịch kết thúc bằng một cuộc hòa giải ở trên trời và ba cuộc hôn nhân ở dưới đất. Thiên nhiên tỏ ra mạnh hơn luật pháp và đạo đức xã hội. Với Giấc mộng đêm hè của Sếchxpia, những quan điểm nhân văn chủ nghĩa của thời kì Phục hưng về vấn đề tình yêu và hôn nhân đã nói thêm một lời khẳng định.

Cũng đến từ thế giới thực và đi vào rừng, ngoài những nhân vật quý tộc, còn có một nhóm nhân vật bình dân: mấy người thợ thủ công diễn tập một vở kịch, chuẩn bị cho cuộc vui ngày hôn lễ ở cung đình Aten. Đây là những con người ngây ngô, chất phác, rất nghiêm túc trong công việc của mình. Nhưng do trình độ và bản chất của họ, do quan niệm của họ về nghệ thuật, họ trở thành những vai hề trong vở kịch. Họ cũng bị lôi cuốn vào trò chơi của hội quần tiên, chứng kiến những sự biến hòa kì ảo mà họ không biết, lại càng không thể hiểu. Khi mà mọi cơn ảo mộng đã qua đi, sự hài hòa đã trở lại trong thế giới thần tiên cũng như trong thế giới người trần thì cuộc trình diễn rất nghiêm trang của họ vẫn là trò vui cho tất cả mọi người trong ngày đại lễ. Mối tình mà họ diễn lại là một bi kịch: Pirơmơx và Thidơbi đều tự sát. Nhưng giữa cái cử tọa ấy, tấn bi kịch này lại được tiếp nhận như một hài kịch. Không phải chỉ là cách trình diễn của mấy anh kép hát này ngây ngô, cổ lỗ, mà chính là vì giữa cái thế giới trong đó những tình cảm tự nhiên của con người vừa thắng lợi một cách huy hoàng, giữa niềm hoan lạc của những cuộc hôn nhân hạnh phúc, cái chết bi thảm và vô duyên của pirơmơx và Thidơbi tỏ ra lạc lõng, khôi hài. Tiếng cười của cử tọa hôm ấy là tiếng cười của cả một thời đại, muốn tống tiễn cái nghệ thuật Trung cổ – cả nội dung lẫn hình thức – đi vào quá khứ, là sự khẳng định một bước tiến mới của loài người trên con đường tự giải phóng mình.

Tuy nhiên, không nên nghĩ rằng trong vở kịch này, Sếchxpia đã ca ngợi một chiều sự giải phóng tình cảm của con người. Với cái tinh tế của một nghệ sĩ thiên tài, biết nắm bắt cuộc sống từ nhiều phía, Sếchxpia đồng thời cũng chỉ ra những mâu thuẫn nảy sinh trong con người khi tình cảm trở thành động lực chính trong cuộc đời, thống trị tư tưởng và hành động của con người.

Nếu như hoạt động của những người thợ Aten có màu sắc kịch hề thì một nụ cười hài hước, nhẹ nhàng luôn luôn phảng phất đi theo những mối tình chồng chéo, lầm lẫn của hai cặp Laixanđơ – Hecmiơ và Đimitriơx – Hêlen. Tình yêu có thể nâng con người lên đỉnh cao của những chiến công, nhưng trong những trường hợp nhất định, khi bị dục vọng mù quáng chi phối, thì con người có thể lầm lẫn, hành động một cách kì quái điên rồ, trở thành nực cười đối với mọi người xung quanh. Cái thứ nhựa tình mà theo lệnh của vị vua và các loài tiên, anh chàng Păc đặt vào mắt những kẻ si tình đang nằm ngủ, có thể xem như một thứ biểu tượng: cái gì sẽ xẩy ra, nếu người ta không làm chủ được trái tim mình, đột ngột thay đổi tình yêu, hoàn toàn bỏ rơi lí trí khi hành động?

Cái hài hước chủ yếu của vở kịch liên quan đến sự biến đổi đột ngột này trong tình cảm của các nhân vật, khi họ tuân theo một cách mù quáng mãnh lực của tình yêu. Nhưng nụ cười của Sếchxpia ở đây thật hiền lành, độ lượng, không hề có một chút chua chát, độc địa nào. Ở cuối vở kịch, vị quận công Aten luôn luôn tỉnh táo đã chẳng so sánh và đặt ngang hàng “người tình”, “người điên” và… “nhà thơ” đó sao? Họ đều là những người “cuồng nhiệt”, “tràn đầy tưởng tượng”, “nắm bắt được những điều mà trí tuệ lạnh lùng không bao giờ hiểu được”, “tạo ra cho cái hư không một hình hài, một tên tuổi và một nơi trú ngụ”!?

Sếchxpia, tác giả của Giấc mộng đêm hè, chính là một nhà thơ kiểu ấy. Trí tưởng tượng bay bổng của ông đã đưa người xem vào một thế giới huyền ảo, hư hư thực thực. Ngay các nhân vật chính trong vở kịch cũng mỗi người trải qua một giấc mộng. Thần tiên chen lẫn với người trần, gây ra mộng mị bằng pháp thuật. Nhưng chính nữ chúa của loài tiên cũng không tránh được ma lực của nhựa tình, khiến cho tình yêu của nàng đảo điên rối loạn. Mộng lành hay mộng dữ đều có, tùy theo từng người. Nhưng đối với người xem, thì lành hay dữ cũng đều là chuyện nực cười đem lại một niềm vui khoái trá.

Khi mọi người tỉnh dậy thì thanh bình đã trở lại: mộng dữ đã biến đi, còn mộng lành thì lại biến thành sự thực, tất cả là một giấc mộng vàng thật đẹp. Không phải tình cờ mà Sếchxpia trùm lên tất cả vở kịch một ánh trăng đêm huyền diệu. Chỉ có một cảnh xảy ra ban ngày trong vở kịch là cảnh 1 hồi IV, nhưng đây cũng là vào lúc ban mai sớm sủa ở trong rừng. Trước lúc hạ màn, anh chàng Păc hiện ra xin lỗi khán giả, tự xưng là những “hình bóng” và những “ảo ảnh” chập chờn: “Chỉ xin nghĩ rằng các ngài đã ngủ mơ ở nơi đây… Và câu chuyện vô duyên, kém cỏi này không gì hơn là một giấc mơ, vậy xin các ngài đừng lên án…”

Tưởng chừng như đằng sau Păc, nhà soạn kịch cũng hiện ra và mỉm cười, bảo với chúng ta:
“Tất cả những điều bạn vừa thấy diễn ra chỉ là chuyện hoang đường, chỉ là trò đùa của trí tưởng tượng, nhưng trong trò đùa ấy cũng có khá nhiều sự thật”.

Đọc “Giấc mộng đêm hè” tại ĐÂY.

Nguồn: Song Xuân – Tuyển Tập Tác Phẩm William Shakespeare

 

Hits: 24

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *