Lời tác giả: Đây là bài viết thứ ba của một Bài-ba-tập – gọi là một trilogie cũng được, về một giai đoạn lịch sử nhìn theo hướng tỏa rộng dần: 1/ “Hành trình khởi phát của một anh hùng” nhìn từ một cá nhân; 2/ “Nhà ta: người Miền Dưới” như lời nhận định từ bên trong về một tập đoàn tông tộc; và 3/ “Ả Trần, Mai Kiện, Hồi Hột – Phía khuất của sử-được-kí” đặt vấn đề một giai đoạn lịch sử Việt Nam trong tính chất quốc tế của khu vực. Sức mạnh ào ạt của hệ thống đế quốc Sa mạc – Trung nguyên tràn xuống nam va chạm mạnh với một tập đoàn sông nước vừa thu thập quyền bính đất đai nhưng vẫn chưa tách khỏi trọng tâm bềnh bồng phía biển, khiến biến động lây lan đến toàn khu vực nước được nối kết. Lịch sử triều Trần, lịch sử thời đại này, do đó, xứng đáng được hưởng một lối nhìn khác, không giản dị như của sử thần xưa về một triều đại riêng biệt, hay của sử gia mang tinh thần dân tộc chủ nghĩa được nâng cấp lên đến đỉnh cao trong cuộc chiến vừa qua. Cho nên nối kết chuyện xưa, chuyện nay không theo quy trình thông thường, chính thức của ngành sử không phải là một lỗi lầm làm văn tệ hại, bởi vì chỉ cần một người đọc không thông minh lắm tách rời ra là xong. Nó giúp tác giả, nhân tiện, viết sử đời Tùy (ý) như ông Tây Sắc xúi (talawas 27-10-2006), để phải chép lại một vài điều đã ghi trong Sử Việt, đọc vài quyển, (Nxb. Văn mới, California 2004) mà thôi.


Giữa năm 1289, trong thời gian bình công luận tội về trận chiến với quân Nguyên, sử quan ghi rõ có hai hương Bàng Hà và Ba Điểm vì “quân dân” hàng giặc nên quân thì bị đồ làm lính của vương hầu, dân bị buộc làm nô tì cho các quan lớn trong triều. Và viết thêm: “Trước kia, người Nguyên vào cướp, vương hầu, quan lại nhiều người đến doanh trại giặc xin hàng. Đến khi giặc thua, bắt được cả một hòm biểu xin hàng. Thượng hoàng (Thánh Tông) sai đốt hết đi để yên lòng những kẻ phản trắc”. Hú hồn! Tuy nhiên, sử quan cũng không thấy rằng Thánh Tông đã mua sự an toàn của dòng họ mình bằng hành động có dáng bao dung kia.

Tuy là không kể rõ từng “vương hầu” khác nhưng không thể phủ nhận các tang chứng rành rành nên phải có thái độ đối với những người mang tăm tiếng rõ rệt: Trần Ích Tắc, Trần Kiện (cháu nội Trần Liễu), Trần Văn Lộng (cháu Trần Thủ Độ). Còn có Trần Di Ái nữa, nhưng việc đã xử xong tức thời rồi. Hãy nhìn xem cách xét xử để rõ tình thế.

Sau những năm bị bức bách sang chầu, đến 1281, Thánh Tông (Thượng hoàng, và đối với Nguyên là vua Việt) bất đắc dĩ phái một sứ bộ sang Nguyên, cầm đầu là ông em họ Trần Di Ái. Gặp dịp chộp được một tôn thất Trần, Nguyên liền ra lệnh thay thế Thánh Tông, cho Di Ái về nước (1282) theo bước sứ thần Sài Thung đã ngênh ngang đến Thăng Long trước để truyền báo lệnh Thiên tử lớn (1281). Toan tính của Hốt Tất Liệt không thành, vả lại đâu có nề hà gì một con cờ thí nhỏ, nên toán “Việt gian” không có quân bảo vệ khiến ngay chính sử quan cũng ghi bình thường “…bọn Trần Di Ái đi sứ về nước.” Lê Tắc cũng nhận rằng Di Ái (hiểu là toàn sứ bộ) “sợ, ban đêm trốn về nước” – không có quân hộ tống. Kết quả thấy rõ: Hai tháng sau, Di Ái (được sử đổi tên ghi là “Ải”) bị đồ làm lính Thiên Trường, nhân viên dưới tay bị đày vào đơn vị Tống binh. Không có ai bị giết hết. Thánh Tông đã xử sự rất đúng. Sao ông không cử mấy ông em ruột (khác mẹ) như Trần Nhật Duật từng được ca tụng là một Quách Tử Nghi của Đường, một mình đi vào đất địch với lời nói hiên ngang: “Nếu nó có giáo giở với ta thì triều đình còn có vương khác đến”? Sao không cử Trần Ích Tắc cho tiện thể lộ mặt chống đối khỏi phải dài dòng về sau? Hay gửi Trần Quang Xưởng khuất lấp mà tên lưu lại sử sách chỉ nhờ một gia thần gặp lúc đắc thế? Gửi đi một ông em họ là Thánh Tông cũng đã có ý nghĩ dùng một con cờ thí tồi rồi. Ông biết phần lỗi có ở mình dù đó là do tình thế cực chẳng đã. Cho nên đày ông em, tiếng là làm “lao công chiến trường” nhưng ở quân Thiên Trường của nhà mình thì chỉ là về quê ghi sổ sách tôm cá tanh tưởi, than củi đen điu mà thôi. Các nhân viên khác của sứ đoàn hưởng lây ân huệ từ đó để khỏi phải chết phanh thây, xẻo thịt.

Với tình hình “phân biệt đối xử” như vậy nên Trần Kiện, Trần Văn Lộng phải đổi làm họ Mai trong lúc Trần Ích Tắc chỉ bị chê là nhát như đàn bà mà thôi. Trần Kiện có cái thù của ông nội thêm mối hận mới là giành gái với Trần Đức Việp (em Nhân Tông, ông vua đương thời thực thụ đối với dân Đại Việt). Thế rồi phải trấn giữ ở đất xa, thật thuận tiện cho ý nghĩ đầu hàng được thực hiện – Trần Văn Lộng chắc cũng một phần giống như thế. Sử quan phục vụ chủ Trần nên không cần nhắc đến một gia thần của Kiện mà sử gia ngày nay một thời chà đạp để nêu danh yêu nước của mình, cam chịu mù kiến thức thay vì tìm chút sự kiện của thời đại không thấy ở đâu khác: Lê Tắc chỉ nổi danh (xấu) vì một quyển sách để lại, nếu không thì người ta cũng chẳng biết ông là ai. An Nam chí lược [1] được văn nhân Trung Quốc ca tụng vì mớ kiến thức về đất nước ông rời bỏ nhưng điều quan trọng ở một hướng khác, là những lời tha thiết đối với chủ cũ và những người liên quan đã chứng tỏ vai trò phụ thuộc của riêng mình và địa vị thấp của nho sĩ đương thời – địa vị mà họ cảm nhận thành thật, chỉ dám kiêu ngạo với hoạn quan dốt nát như trường hợp Đinh Củng Viên lên mặt để hưởng nhờ cậy, với Lê Tông Giáo, ông “bõ” quản lí đất gốc Thiên Trường của dòng vua. Tuy nhiên việc hầu hạ dòng vua cũng không hấp dẫn lắm đâu: Có ông Bạch Liêu đỗ trạng nguyên ở vùng thứ hai của nước, vùng Trại, lại chê không làm quan triều đình, chỉ chịu làm “môn khách” / gia thần cho ông Đại Vương Trần Quang Khải thôi.

Các biến động phù trợ dòng vua đẩy hào sĩ / nho sĩ lên một bực như Đỗ Khắc Chung mang họ Trần – trường hợp độc nhất lập công trong nguy khốn cùng cực, còn thì ông Phạm Ngũ Lão văn võ toàn tài, chiến công lai rai, giàu đến mức không thèm chiến lợi phẩm, giàu có đủ để con ông vua lê lết đến làm quen nhờ cậy, rốt lại cũng chỉ lấy được con nuôi ông Đại Vương – đứa con gái nào đó, rồi len lỏi đẩy con vào cung vua thì vẫn không được đoái hoài, rốt cục xin vua đi tu, chết già! Ông “Học sĩ (đọc / biết) Ngàn Chương sách” Nguyễn Sĩ Cố có mả chôn rộng cả ngàn mẫu nhưng chức chỉ là đặt cho có tên, còn một ông đồng liêu khác thì trông coi mấy cái mũ quan quân! Cho nên đến cuối đời, Nghệ Tông đẩy luôn ông Chu An cao quý trồi sụt vào miếu Khổng Tử ngồi chung với ông Trương Hán Siêu “chơi với kẻ không đáng chơi”, với Đỗ Tử Bình “ăn chặn vàng đút lót” của Chế Bồng Nga, chạy về bỏ vua chết tươi trên mặt trận, thêm ông quý tộc Trần Nguyên Đán “ bó tay bỏ mặc vận nước”, trở cờ gả con cho họ Hồ để cầu an thân – lối sắp xếp này không mang “ý thức dân tộc”, “đề cao Thánh giáo” nào cả mà chỉ là một cách phân loại, xếp chung một nhóm mà thôi. Danh tiếng “kẻ sĩ”, “sĩ phu” – không đi theo với “hào kiệt”, chỉ có khi gắn vào bia đá thế kỉ XV, và hơi nổi trội dưới thế kỉ loạn lạc XVII, XVIII mà thôi.

Việc hàng Nguyên của hai người trước có thể coi là thụ động, cơ hội nhưng với Trần Ích Tắc thì sử quan chỉ rõ là có ý thức, có toan tính, vì ông “từng gửi thư riêng cho khách buôn ở Vân Đồn xin quân Nguyên xuống Nam.” Dù cho rằng đó là vì ý xấu muốn tranh ngôi với anh (Nhân Tông) nhưng sử quan vẫn không ngớt lời khen Ích Tắc “thông minh hiếu học, thông hiểu lịch sử lục nghệ, văn chương nhất đời” chi li cả đến những loại nghề vặt như đá cầu, đánh cờ… Đến lúc ông hàng Nguyên, sử quan dường như muốn bào chữa cho ông còn viện dẫn linh thiêng, nhắc rằng ông là thần nhân báo mộng đầu thai, thần nhân ba con mắt như Siva thành người, hẹn sẽ “về phương Bắc”. Chứng cớ bất thường này có vẻ như một vướng víu của tình hình đương thời mà sử quan, qua thời tuyệt tình một lần nữa với việc chống Minh, đã không rứt bỏ được. Có chút gì bình thường của quá khứ còn rơi rớt mãi đến lúc sử quan cầm ngọn bút lên?

Giai đoạn chống phương Bắc của Trần thường được coi chỉ mang một tính chất trong cả ba lần đánh nhau. Tựa đề “Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông…” (điểm một tên tình cờ) của Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1975) [2] là một ví dụ. Gom góp sự việc vào một đề mục gọn gẽ giúp cho người ta mau hiểu nhưng cũng khiến tập tính biếng lười, lầm tưởng việc đời lúc nào cũng là giản dị như vài nét chữ gộp lại. Thật ra Trần chỉ chống quân Nguyên có hai lần: 1285, 1287-88, lần đầu 1257-58 là chống quân Mông Cổ. Đây không phải là chuyện “chơi văn giỡn chữ”, không phải đặt căn bản ở sự chính danh cầu kì mà là vạch ra sự khác biệt về tính chất lực lượng cùng tham vọng thời đại khác nhau của đoàn quân phương Bắc. Đành rằng người lập nên triều đại Nguyên là Hốt Tất Liệt đã có mặt trong toán quân chiếm Vân Nam năm 1252 nhưng ông chỉ chính thức làm vua Trung Quốc (1280) sau khi đánh tan Nam Tống. Trận chiến 1257-58 ở Đại Việt chỉ là của một toán quân Mông Cổ và phụ lực, tìm đường đánh ép tiêu diệt Nam Tống mà không thành công thôi. Đánh tan quân Tống (1279), chiếm Trung Nguyên, Hốt Tất Liệt – không là Khan của Sa mạc nữa, mà là Hoàng đế toàn Trung Nguyên, có cả một vùng đất mới, rộng lớn, kết tập được lực lượng mới, đưa tầm mắt ra xa hơn cùng với những hệ lụy của khả năng vừa gộp thêm trong vòng tay. Về phía Đại Việt, cách thế ứng xử cũng đổi thay theo tình thế mới đó: Bắt nhốt sứ Mông Cổ đến ngất ngư năm 1257 nhưng Sài Thung năm 1281 lại một mình một ngựa xông vào cửa kinh thành, ngênh ngang không thèm tiếp tể tướng Việt chịu nhũn đến sứ quán cầu chuyện. Sự liên tục của hệ thống chỉ huy trên cao làm cho người đương thời đã không thấy được sự đổi thay tính chất sử dụng quyền bính sẽ mở ra những hướng tiến nhiều nẻo về sau, trong đó có cả sự rủi ro không nằm trong toan tính lúc đầu. Còn đối với người sau, sự liên tục của thời gian là điểm tựa nối kết xuyên suốt để cho óc nhân tuần [3] bám giữ luận cứ đã thành hình.

[Như cuộc chiến Ba mươi năm vừa qua. Úi dà! Sách vở viết thành đống ném ra Chợ trời đọc không hết, trong nước chất đầy kệ bán không trôi mà còn đòi xen vào! Nhưng ở đây chỉ lược qua điều khuất lấp, điều bị lấn át. Lịch sử không lặp lại nhưng bản tính con người vẫn có chút gì tương đồng – để người nay đọc mà hiểu được người xưa. Huống hồ lịch sử vốn là quá khứ hiển hiện lại bởi người thời nay nên dễ rộng lượng dung chứa một ít đòi hỏi điều chỉnh. Không phải lan man, vô định hướng mà là ước mong nhận chân quá khứ sít sao hơn.

Trong khoảng trống quyền lực ở vùng châu Á, trực tiếp hay gián tiếp gây nên do đế quốc địa phương Nhật Bản xô đổ các đế quốc Tây Âu rồi lại thất bại tan rã, các thuộc địa thừa cơ nổi lên đi tìm đường riêng của mình trong đó, Việt Nam với thế lực chính trị có tổ chức nhất vì thêm ưu thế yểm trợ quốc tế, đã nhất quyết đi theo con đường xã hội chủ nghĩa – kẻ địch gọi là “nhuộm đỏ Việt Nam”, người bình dân gọi nôm na là “làm cọng/cộng sản”. Tính chất xuyên suốt bề ngoài của một phía trong ba mươi năm chiến tranh giành độc lập được gìn giữ bởi hình treo của các lãnh tụ lúc nào cũng trẻ như ba mươi, bốn mươi, của dáng vẻ tiên phong đạo cốt đậm đà tình thân ái khiến cô giáo dạy văn vào Nam vẫn khóc mùi mẫn khi nhắc đến đôi dép của Người, khóc không ngượng ngùng giữa đám bạn đồng nghiệp mất-dạy, vô-lương được “lưu dung” mà còn “ăn nói linh tinh”. Các lãnh tụ Việt đến hơi sớm trong lịch sử, khỏi phải chịu cảnh thần tượng F. Castro té lăn cù lồm cồm bò dậy trước ống kinh truyền hình thế kỉ XXI, mà lại được bồi đắp dồn dập bởi kĩ thuật tuyên truyền tinh vi, trong đó công lớn còn phải kể từ nơi kẻ địch hào phóng của họ. Chứng cớ mới nhất là trong lúc người ta “phần thư”, triệt hạ mồ mả để tiêu diệt quá khứ đối phương (giữa khi sử gia “yêu nước” tha hồ chửi Gia Long và đồng bọn!) thì Mĩ giữ và trao trả tập nhật kí của cô bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm khiến “tác phẩm” thành một best-seller nhờ công nhà nước đẽo gọt, cổ động mua, và cô, thay vì nằm thui thủi trong nghĩa trang nào đó lại được lên tượng đồng, bia xi măng ở Quảng Ngãi nối kết tình “vì miền Nam”, thêm một cái đinh cho cái ghế người cầm quyền chưa đổ nhưng hơi lung lay – bồi đắp dù mới sầy sướt cũng vẫn là hay hơn!

Những người làm chính trị chuyên nghiệp bôn-sê-vích không chừa một sơ hở nào cho sự dẫn dụ: Họ làm cách mạng giải phóng dân tộc là để làm cách mạng xã hội chủ nghĩa. Giải phóng dân tộc chỉ là phương tiện cho cách mạng xã hội. (Cũng như không nói chia ruộng cho dân cày là để sau này thu góp chung lại làm hợp tác xã vậy.) Không tin cứ giở Văn kiện Đảng ra xem, đứa nào ngờ nghệch cả tin, ráng chịu! “Vừa đánh vừa đàm”, đàm xong đánh tiếp cho đến khi đạt mục đích, phái đoàn Canada giám sát hiệp định Paris biết rồi nên la làng, bỏ chạy. Ai tin ở mấy tờ giấy kí kết đó thì cứ cãi nhau cho vui đi. Nói cho ngay tình: không chịu cũng phải ráng mà chịu. Con cá trong lờ giương đôi mắt đỏ. Năm 1955, mới vừa ở “vùng Tự do”, biết chuyện bà già có liên hệ thân tộc bị bắt quỳ trên đá dăm, giang tay đỡ cục đá, đầu đội thúng cứt cho người ta xối nước lên, ra đến “vùng Tạm chiếm” nghe bà già ngồi trên xe lửa ga Nha Trang kể chuyện đấu tố như thời Chu Văn Vương bên Tàu vẽ vòng trên đất nhốt tội nhân (“gọi địa chủ ra ‘kể khổ’, ‘đấu lí’ nếu nhận tội thì cho về”, khoẻ re), nghe xong mà quay cuồng đầu óc, thấy trời đất không còn chỗ nào để dung thân được nữa! Nhìn lên bản đồ thế giới: một mảng đỏ rực phía tây đẩy tư bản chân trên bờ chân dưới biển, trách nào người hùng chống Cộng Kravchenko của J’ai choisi la liberté, J’ai choisi la justice không kê khẩu súng vào màng tang, bóp cò (1946). Phía đông, mảng đỏ thò ngón tay qua bán đảo Triều Tiên, xuống đến bờ Bến Hải với các ngón khác giấu kín hành quân theo Issara Lào, Issarak Miên, quân du kích Việt Hoa ở Thái Lan, ở Mã Lai, với hàng triệu đảng viên cộng sản ở nước Hồi giáo Nam Dương, với quân du kích Huk ở Philippin… Cho nên học sinh trường Kiến Thiết Sài Gòn (và nhiều trường khác) chuyền nhau dưới bàn tờ giấy kêu gọi ra khu tập kết. Con cá ngoài mương lấp ló muốn vô… Không phải loại cá lòng tong, cá chốt mà cả thứ thường vỗ ngực tự phụ hay được xã hội cho là cá thu, cá chép…

Sự lầm lẫn cũng là bình thường với con người chỉ có một thời gian để sống và một không gian cụ thể để cựa quậy / vùng vẫy – ông Nguyễn Hiến Lê biết rõ muộn màng điều ấy, nhưng hơn người khác là đã công khai thú nhận ở bản hồi kí bị cắt xén trong nước. Nhiều người, khi mới ngậm cái đầu dê treo quảng cáo, có kẻ vội vã khen “Sống ở trên đời…”, rồi thấm thuốc bị allergie, ụa mửa, ợ ngáp (“Ông Bà hành”), văng ra bên lề té bò lê bò càng, gặp người nhạo chê, lại trả lời ương bướng: “Hình thức, đường lối sai lầm chứ bản chất vẫn là tốt, phải xây dựng lại.” Trời đất, vài triệu người chết với hàng trăm ngàn nằm theo tục Bỏ mả của người Bà Na, chưa chịu coi là đủ sao? Ai wỡn đâu mà chịu khó đẻ con cho anh làm thí nghiệm cách mạng wài vậy cà? Ờ, nếu còn đủ dũng khí thì cứ làm cách mạng mình-ên đi. Chứ cứ hỏi con cháu anh Ba anh Tư, anh Văn anh Võ xem có muốn xây dựng lại không, cái thứ cách mạng đã chuyển qua thời đi Mercedes, đổi giống, vào chat room, viết blog, trai/gái giung giăng giung giẻ với bà già / ông già… ngày nay đã khác xa rồi đó. Một phía thì kín mít như bưng – kín đối với cả từng phân đoạn khu vực bên trong, có rỉ ra cũng không có bằng chứng nhãn tiền, huống chi đưa bằng cớ ra cũng vẫn không tin, hay bào chữa: “Quân Triều Tiên, Trung Quốc có bi nhiu đâu, Mĩ mới là nhiều!” Phía khác thì “hở” (tôi không nói “mở”) để phóng viên ngoại quốc bây giờ hồi tưởng lại, khen đó là thời kì “hành nghề tự do” nhất. Thập (vạn vạn) mục sở thị, thập (vạn vạn) thủ sở chỉ, xứ sở toang hoác ra, các anh lãnh tụ chết ngay từ trong trứng nước, ráng / may mắn còn sống thì như kiếp thiêu thân, hay vật vờ kẻ khiêng người đỡ, muốn tự đứng cũng không đứng được. Đang đánh nhau sống chết mà cứ ba, bốn năm đổi Tổng tư lệnh một lần – qua bầu cử cãi nhau chí choé, tận diệt nhau, cái trò chơi dân chủ đó đắt giá quá đến giàu như Mĩ cũng phải buông tay. Không đủ hình ảnh để người ta thấy tình thế đã đổi khác. “Quốc gia” của Bảo Đại còn là sự lợi dụng (nhưng chính trị nào không là sự lợi dụng lẫn nhau?) nhưng điểm kí kết ở Genève là một bước ngoặt: sự đối đầu của Chiến tranh lạnh có thêm một địa điểm là Việt Nam. Đó là điểm ngoặt để ông cựu Đệ tứ Hồ Hữu Tường tung ra thuyết Trung lập chế của ông, là thời điểm tưởng có nền tảng kéo dài để ông Nguyễn Thế Truyền rời bỏ quá khứ “một phần (mang tên) Nguyễn Ái Quốc” của Việt Nam hồn mà ghi danh ứng cử Tổng thống VNCH.

Lịch sử có khía cạnh vô thức của nó, theo đó một chút lùi của thời gian sẽ giúp nhìn ra được phần tích cực bị các biến động tức thời và sự ồn ào phụ họa phù-thịnh, che khuất. Về phía Mĩ, những ngày tháng 4-1975 cho thấy thuyết Containment thất bại một phần vì không giữ được Nam Việt Nam nhưng ván cờ domino ĐNÁ sau đó không đổ lại chứng tỏ hơn 50 ngàn lính của họ đã chết không uổng phí. Trên rẻo đất có đời sống mỏng manh hai năm được quy định cho rồi-việc, một bọn người tan tác nhờ Mĩ đưa lên, chống đỡ – mang cả xác con em họ chống đỡ giùm, bọn “bán nước đó cầm súng Mĩ (không phải A. K[alachnikov]) bắn giết đồng bào”, hục hặc bóp cổ lẫn nhau mà kéo dài đời sống được đến hai mươi năm – yểu tướng nhưng lại đủ để một xã hội công dân sơ khởi thành hình khiến sau chiến thắng quân sự người ta còn phải tìm cách tiếp tục tận diệt. “Phòng (?) trưng bày tội ác chiến tranh Mĩ Ngụy” ở TP. Hồ Chí Minh sau 1975 còn vướng víu quá khứ (chứng cớ là tác giả một quyển sử viết không giống các danh gia Miền Bắc, đứng lù lù ở đấy), đến “Phòng (?) trưng bày chứng tích chiến tranh” (2005) đàng hoàng hơn, to/cao đẹp hơn thì chỉ còn Đảng ta và Pháp Mĩ, không thấy ngụy đâu nữa. Dưới chiếc đũa thần của Đảng, hai mươi năm VNCH biến mất trong nháy mắt, pho tượng Tiếc thương từng hớp hồn người dân trong vùng đã bị nấu chảy tuyệt tích, nghĩa trang Gò Vắp đã xoá sổ (có bao nilông bọc xác từ chiến trường về, đào lên lùng nhùng nước nhầy, thịt xương, áo quần), chút còn lại là mấy cái mả ở Biên Hòa, rồi với thời gian sẽ xây cao ốc lên là xong.

Tuy nhiên hai mươi năm VNCH đó đã khiến cho CHXHCN VN tiếp thu một khu vực có dân chúng nằm trong vùng “mở”, họp cùng với lớp dầu mỏ thay cho củi rừng được bứng tận gốc của thời khai hoang vỡ hóa Lí Trần Lê, tất cả làm đà cho Đổi mới thành công. (Đọc Đêm trước Đổi mới Nxb. Trẻ 2006, để thấy sau lưng Đảng là lù lù ngụy đẩy cán bộ địa phương ra đại diện xí-gạt trung ương Hà Nội. Có người thấy tỉnh Đồng Nai đổi mới thành công, lên tiếng khen thì được trả lời: “Nhưng mà Trung ương thu hết (?) ông ơi!”) Hai mươi năm đó khiến cho thế giới không thấy xuất hiện các nước CHND Lào, Kampuchia, Thái Lan, Mã Lai, CHND Sư Tử Quốc / Singapore – thành phần thứ tư của MỘT nước Trung Hoa bốn chế độ, không thấy chiến hạm (cũng) CHND Trung Quốc tuần hành ở bờ biển đối diện Australia, khiến cho tàu thuyền thế giới xuyên đông tây, nam bắc phía đông châu Á không phải nạp tiền mãi lộ vì đi ngang qua phần biển có Đảng Lao Động Việt Nam và Thủ tướng Phạm Văn Đồng thêm một lời công nhận chủ quyền, khỏi chờ đến năm 1974 góp chút công lao vào cuộc chiến Hoàng Sa. Lẽ tất nhiên nếu đứng vào quan điểm thế giới đại đồng, thái bình an lạc Pax Sinica thì lại là vấn đề khác.

Người dân thường không thể thấy được điều đó, không thể biết chuyện ông Lê Duẩn “quần kết” (chữ nghe được từ 1956) để đánh tiếp – chuyện bây giờ, xong rồi, người ta công khai ca ngợi, “Ai làm gì ai nào!” Đem gộp tập họp chữ rời rạc “yêu nước” và “XHCN” thành nhóm từ “Tổ quốc XHCN” mang niềm tin tôn giáo để tự huyễn hoặc và đàn áp người, họ có quần chúng để thúc đẩy tiến chiếm quyền hành. Còn sử dụng được “tinh thần yêu nước” thì người ta còn la: Mĩ đem quân sang Việt Nam vậy là xâm lăng chứ Việt Nam (cộng) không đem quân qua Mĩ…” Giỡn sao, cha nội! Năm 1988 đánh nhau với Trung Quốc còn tiếp tế Trường Sa bằng chiếc tàu cũ của VNCH thì làm sao mở đường HCM-trên-biển, bơi qua Thái Bình Dương để làm “nghĩa vụ quốc tế” cho được? Kể ra cũng còn thua Cuba đã chĩa mấy cái SAM xuống Washington D.C., đã đem Chí nguyện quân đến tận Angola, Mozambique đánh tay sai tư bản giẫy chết, chận chủ nghĩa Đại Hán trên đất Phi Châu xa xôi. Việt Nam chỉ có thể làm điều đó trong mức độ thấp hơn: đánh đế quốc hạng cá kèo qua tay tù binh Algérie, làm nhiệm vụ “phức tạp” ở Kampuchia, đe dọa có lật đổ ở Thái Lan như là một “tất yếu của lịch sử” như ông Uỷ viên trung ương Đảng Trần Quỳnh nói năm 1976 với người Đại biểu nhân dân lỡ đà Nguyễn Công Hoan. (Hình như cả hai đều còn sống đấy. Câu nói được in trên sách Mĩ mà chuyển ra đúng như từ miệng của một chính uỷ thì có thể tin được, chắc-như-bắp.) Nhưng xưng làm kẻ đứng ở tuyến đầu của một phe, đi đánh cái tiền đồn của “thế giới Tự do”, với danh nghĩa gì đi nữa thì cũng là mở rộng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, một khi người ta đánh lại tất phải đụng đến cái luỹ tre có AK bảo vệ đó, sao lại la “Tui có làm gì đâu mà người ta dội bom lên đầu nhân dân con cháu vua Hùng/Bác của tui?”

“Preventive war” không phải là lí thuyết chiến tranh độc đáo của riêng Tổng thống Bush đang điêu đứng, bị nhạo chê chỉ vì không thành công. (Rõ rệt chứng minh trái lại, là khi Mĩ kéo đổ tượng Saddam Hussein xong thì Pháp dịu giọng, Liên Hiệp Quốc – bị khinh rẻ trước đó, cũng nhảy vào định chia phần nên ăn đòn dân Irak hậu-Xađam.) Anh cựu tù binh gốc Chàm Bố Đông có citizenship Đại Việt mang tên Kim Trung Liệt, khi giữ thành Đa Bang cho Hồ Quý Li đã hiến kế cho chủ mới (nói tiếng Việt Chăm lơ lớ): “Hay đanh quan Minh tư ngoài cõi!” Đó là đòn “Đánh phủ đầu” theo kinh nghiệm năm 1075 của Thằng Cặt / (Lí) Thường Kiệt, bậc tiền bối của G.W. Bush! Dân Việt Nam loại bán nước hay vật vờ theo thời thế – “sao cũng được”, không nói làm gì nhưng những người “yêu nước không chịu hối cải”, hay đang thừa hưởng thành quả 75, vẫn nhất quyết, kiên trì không nhận rằng Đảng đã khiêu khích Mĩ qua! (Nói tội nghiệp, để thông cảm: “Họ chỉ còn có chừng ấy để hãnh diện thôi mà!”) Tuy nhiên màn kịch yêu nước vẫn luôn luôn có hiệu quả. Kịch Shakespeare mấy thế kỉ rồi đâu có thiếu người dàn dựng, nhắc nhở?

Đáng lẽ phải nhắn trước “Thấy mất lòng thì xin đừng đọc” hay “Đọc qua rồi bỏ”.]

Vậy là trong hai trận chiến sau, Nguyên và Trần đã đánh nhau trên cơ sở xuất phát khác. Nam Tống tuy yếu ớt binh lực nhưng có cả một nếp sinh hoạt nghệ thuật cao độ (chứng cớ có ông vua nghệ sĩ Huy Tông) mở rộng theo nguồn thương mại dồn dập từ phía đại dương sau khi bị các bộ lạc sa mạc Kim, Liêu cắt đứt Con đường Tơ lụa phía lục địa. Nguyên có đất Nam Tống nên nhân danh một triều đại Trung Quốc đòi Đại Việt bắt những người Tống di tản – người “Hồi Hột”, trả về nước cho họ. Họ sẽ tiếp tục truyền thống đó, lần này có thêm sự thúc đẩy cường ngạnh chưa mất từ sa mạc, để đè áp lực trên các nước bên kia đại dương. Và điểm đến chuyên chú đầu tiên không phải là Việt Nam mà là Chiêm Thành.

Vòng cung đất nhô ra biển của Chiêm Thành là điểm tiếp nhận các thuyền buôn đến, đi từ nam Trung Quốc khi né tránh các rạng san hô, đá, cát ngầm ngoài khơi. [Chỉ ở thời chiếm hết đất liền rồi nhìn ra biển phân định biên giới, với mỏ dầu chưa nổi mà đã đánh động trên các ống khoan thăm dò người ta mới tranh giành cật lực Hoàng Sa, Trường Sa thôi.] Lê Tắc ở gần đó, với kinh nghiệm trước 1285, nói về Chiêm Thành, nêu được điểm chủ yếu: “Lập quốc tại mé biển, thương thuyền Trung Quốc vượt biển đi qua các nước phiên bên ngoài, thường tập trung tại đây để chứa củi và nước, là bến tàu lớn nhất tại phía nam.” (Tôi nhấn mạnh) Đại Việt và Chiêm Thành đánh nhau không phải chỉ để cướp của, chiếm đất mà còn là giành bến đỗ nữa. Năm 1303, Đoàn Nhữ Hài đi sứ Chiêm, tuy biết rằng không thể cấm được nhưng vẫn lấy danh nghĩa nước lớn, treo bảng cấm buôn bán ở cửa Tì Ni / Sri Banoi / Chiêm Thành Cảng (1282) / cửa Nước Mặn (Đàng Trong) / cửa Cách Thử (nay đã lấp). Tuy có ưu thế thu lợi về quyền bến đỗ nhưng chuyện cướp phá thuyền buôn vẫn là điều không tránh khỏi. Tống muốn bảo vệ thuyền buôn của mình đã nhiều lần đòi hỏi Chiêm Thành ngăn cấm nhưng không thực hiện được. Với Nguyên còn tràn đầy sức mạnh sa mạc thì không phải chỉ đòi hỏi qua người địa phương mà tự mình đi thực hiện. Vì thế không phải là vô lí mà Hành tỉnh [4] Chiêm Thành đã thành lập trước của Giao Chỉ. Không phải ngẫu nhiên mà trận đánh Chiêm xảy ra trước, vào năm 1282-83, và chuyến đánh sang Đại Việt 1285, đòi “mượn đường sang Chiêm Thành” không phải chỉ là lời nói dối.

Cuộc chiến ở Chiêm Thành được ghép với Đại Việt và được sử gia Việt Nam lưu tâm (cho nước mình) nên trở thành lớn rộng, cao cả hơn mức thực tế. Tất nhiên người Chiêm không thụ động trong việc giữ gìn đất đai của họ. Quả đã có Toa Đô đem quân đánh Vijaya không bắt được chúa Chiêm, có lần thất bại trong cuộc tấn công trên núi nhưng ông cũng đã dẫn quân chiếm vùng Cựu Châu (Quảng Nam) để đánh thông sang Việt với Thoát Hoan đang ở đấy. Nhưng ông ta chỉ đem có 5.000 quân cựu-Tống, số lượng rõ ràng ghi trên những toán xuất phát, lại còn chia người cho toán đi Chân Lạp – không về là phải. Với quân số như thế thì trận thất bại ở núi Nha Hầu là dĩ nhiên. Thất bại lớn nhất của Toa Đô là không bắt được chúa Chiêm – cũng như trong trận 1257, tướng của Ngột Lương Hợp Thai vì không bắt được Thái Tông mà phải tự tử. Khác với những điều hay nói về “chiến tranh nhân dân”, chiến trận ngày xưa thường chỉ kết thúc khi bắt được chủ tướng. Với lực lượng có trong tay như thế mà đã không bắt được chúa thì vấn đề sứ giả điều đình qua lại hẳn nhiên không thể coi như một chiến thuật khôn khéo, tài ba tột đỉnh của người Chiêm, trong đó nhân vật phía Chiêm thực ra vẫn cho thấy tính cách lợi dụng để lấy lợi riêng cho mình, đến khi thấy không thành tựu thì bỏ trốn. Quân của Toa Đô lúc thắng thế cũng có mặt hai hoàng tử Chàm theo về (rồi xoay chiều lẩn mất), lúc ra bắc cũng có các quan chức Chàm theo, sau khi thất trận bị Đại Việt trả về nam. Trong tình hình khó khăn như thế mà Toa Đô giải quyết như lịch sử đã ghi thì khi thấy đầu viên tướng này, Nhân Tông lên tiếng thương tiếc thật cũng đã biết đánh giá đúng người.

Trận chiến Chiêm tất yếu dẫn đến Đại Việt. Nắm được lực lượng chiến thuyền và thương thuyền của Tống, Nguyên đã mở rộng quyền hành về phía biển. Cuộc chiến lần thứ ba (1288) nặng về thủy quân chứng tỏ khả năng thu tóm đó tuy rằng điều tiêu cực cũng hiện rõ, là khi trao điểm sống chết của chiến dịch vào tay quân tướng đầu hàng (Trương Văn Hổ và thuyền lương tiếp tế) thì thất bại đã có điềm thấy trước. Tuy nhiên Nguyên bao gồm Tống đã khiến các tập họp phía mặt biển dao động. Điều này dẫn đến vấn đề Trần Ích Tắc. Đã thấy tông tộc Trần gốc biển, “đời đời làm nghề đánh cá”. Và tập họp biển đó không thuần nhất, còn riêng họ Trần-mới-làm-vua thì cũng không phải lúc nào cũng thuận thảo với nhau.

[Nhắc: “Bỏ qua đừng đọc”, hay “Đọc qua rồi bỏ”. Một cá nhân, tập đoàn trong phát triển, gặp tình thế lớn rộng không vừa với khả năng sẵn có của mình thường thấy phát sinh những rối loạn bản thân, nội bộ mà các tay chính trị chuyên nghiệp lạc quan đặt tên là “Cơn sốt vỡ da”, không biết có được ông bác sĩ nào đồng ý không. Như chuyện không (dám) nói về người Danh nhân Văn hóa hụt của UNESCO. Được đào tạo theo cung cách một chuyên viên lật đổ, phối hợp tinh thần Tam Điểm của nơi đào tạo với Thiên Địa Hội của nơi xuất phát, chàng thanh niên Nguyễn Ái Quốc trở thành Hồ Chí Minh già dặn, một lúc đầu mang khả năng đó qua mặt Quốc tế Cộng sản lấn lướt các đảng viên “cấp tiến” kiểu Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập… gạt gẫm Quốc Dân Đảng Trung Hoa, ve vãn Mĩ, từ vùng “biên khu” nhẹ áp lực truy bức của Pháp Nhật tạo dựng lực lượng riêng cho mình, tuy nhỏ bé nhưng cũng đủ “thừa hư lấy Kinh Châu”, lập nước một phương – sau này tự khen: “nước XHCN đầu tiên của châu Á” trước cả đàn anh! Chút hơi âm mưu vẫn có tác dụng trong thời hỗn loạn tiếp theo còn mang tính phe phía hội kín, người đó cho phe mình ẩn náu, tránh né với bên ngoài bằng tiếng “giải tán Đảng”, để dùng quyền lực chính thống công khai tiêu diệt các tập đoàn chống đối bên trong (vụ Phố Ôn Như Hầu, Hà Nội), lấy vàng thu vét từ lòng ái quốc không toan tính của dân chúng đem đút lót cho Tàu khỏi can thiệp lật đổ, mời gọi Pháp vào thay thế, tưởng dễ đòi hỏi bằng lời nói như thời mang cục gạch nóng (?!) ở Paris xưa cũ. Nhưng thời thế đã khác, khả năng xây dựng đảng-hội-kín không đủ để quản trị nước (chưa nói đến tính từ “văn minh”), điều yếu kém đó được chiến tranh che chắn nhưng càng lúc càng bộc lộ khiến phải có sự can thiệp của những người kế tục, các đệ tử này phải vận dụng đến cả phương thức dùng thân xác lãnh tụ như phương tiện cho mục đích tiến chiếm quyền hành.

Trong chiến tranh kháng Pháp, ngoài chuyện “Đêm nay Bác không ngủ, ngày mai Bác ngủ bù…” và các tấm hình ghé nhìn sa bàn… còn thì chỉ thấy ông cặm cụi dịch sách Nga khoe khả năng ngoại ngữ, từ tủn mủn Sửa đổi lề lối làm việc lại vụt thoát qua khu vực viễn tưởng của Giấc ngủ mười năm (1949), rồi hụt hơi, chuyển trao việc huấn luyện đại quân, tổ chức điều hành xã hội theo phương thức Mao cho người Bạn lớn. Bởi vì các đệ tử (và ông) chỉ được thầy-chú Côn Đảo, Bà Rá, Sơn La… cấp phát bằng “Đại học” giúp hào quang đi chiếm đoạt, bám giữ chính quyền chứ không đủ để làm nhiệm vụ cầm quyền. Dự phóng làm Cách mạng dân tộc tư sản rồi sẽ làm Cách mạng xã hội được bày vẽ từ Quốc tế giúp họ an tâm với mẫu mực có sẵn, không cần chuẩn bị cho mình, và không để cho ai tranh việc quản lí đất nước. Họ không cần người “khác” họ, như ông Phạm Văn Đồng (1945) chê: “Thằng Phan Thanh thì được, còn cái thằng Hoàng Xuân Hãn, không xài được!” (Hoàng Văn Chí kể.) Giống như 30 năm sau, với thế giới tiến thêm một cấp dài nữa, họ lo “tiến về Sài Gòn (ta) chiếm nhà mặt tiền”, móc lưới (chống) B40 dày đặc, vẫn với bài bản sao chép bậc hai từ Stalin, Mao, Kim Nhật Thành (lí thuyết “Ba cuộc Cách mạng… mà Cách mạng kĩ thuật là then chốt” – Donald Macdonald, The Koreans, Contemporary Politics and Society, 1990: 179). Giống như bây giờ với các anh sinh viên VNCH bỏ học biểu tình, khôn khéo / may mắn luồn lọt được qua thời thế với cả các anh “B quay”, với các anh từ hầm Củ Chi khoét rộng cho du khách chui xuống được, với những công thần hậu phương, những Con Ông Cháu Cha thời mới…

Bởi vậy về Hà Nội, có đất đai được công nhận, có thủ đô với đại sứ các nước, ông Chủ tịch cũng còn quá nhiều thì giờ rảnh xắn quần lội ruộng để chụp hình tát nước, rảnh rang để đọc truyện ngắn của con ông Bí thư mình (Vũ Thư Hiên), không bàn được việc lớn mà tẳn mẳn sửa đổi câu chữ trong các bản văn đưa trình (ghi của phóng viên Xuân Ba), làm lộ ra dấu vết đào tạo theo khoa bảng ngày xưa, rị mọ lựa chọn từng chữ, từng câu cân đối để đưa vào trường ốc hòng “bia đá đề danh”. (Phát hiện “thần sầu quỷ khốc” này của người viết là từ kinh nghiệm gia đình đấy, tuy không dám đem ra so sánh với bậc vĩ nhân.) Đến tình trạng như vậy thì các đệ tử phải ra tay bao che cho lãnh tụ. Tố Hữu nói nhẹ nhàng: “Bác đã lẫn…” Còn ông Lê Đức Thọ thì gạt ngang không cho Chủ tịch phát biểu, không phải lấn lướt (như ông Nguyễn Văn Trấn than thở, kiểu “Giá còn có Bác…”) mà là để Người khỏi lộ cái “lẫn” trước nhĩ mục quan chiêm, trước quần chúng thân yêu. Họ hiểu “Bạc là dân…” mà! Trong mặc cảm phải chia xẻ chủ nghĩa thực dân, các học giả Âu Mĩ đã nhìn sự êm ả tương đối của chính quyền Hà Nội – trái với những biến động thanh trừng sắt máu ở Liên Xô, Trung Quốc – cho đó là do vai trò ông Chủ tịch (bất lực) đứng trên cao điều hòa mâu thuẫn mà không nhận ra thực tế chịu đựng, nín nhịn để cứu vớt danh vọng trong quá khứ, để cùng tồn tại với nhau của tập đoàn lãnh đạo đó.

Kẻ coi thường người có quyền chức, trước hết thường là những nhân viên thân cận, gần gũi – cũng như ông Nguyễn Hữu Hanh mạt sát các viên chức cao cấp VNCH mà né tránh mơn man các lãnh tụ CHXHCN VN, không được lại đổ thừa cho đồng nghiệp xưa chơi xấu. (Lúc này ông đang từ dưới thấp ngước lên xin việc thôi mà! Ông không được ôm hầu bao đi theo các Anh Lớn, chán nản với cái “lỗ không đáy” Việt Nam để thốt ra lời mỉa mai Phó thủ tướng Lê Thanh Nghị là “anh Bị Gậy” / The Beggar.) Ông được đào tạo theo trường phái Tây phương nhắm vào việc đẩy mạnh sự phát triển cá nhân, một chừng mực nào đó cũng giống như các người vừa đi theo kháng chiến, trọng nể thì có nhưng không có niềm say mê thần tượng. Cho nên lúc đầu, khi các văn nghệ sĩ chưa quen nịnh bợ mà không ngượng miệng, và cũng không thể đợi đến thế kỉ XXI có dân chữ-nghĩa thất nghiệp để thuê mướn, ông Hồ không có người viết tiểu sử, đành phải tự mình nhân lúc rảnh rang việc nước (?!), “vừa đi vừa kể chuyện” Bác. Các đệ tử sau đó mới nhận ra ích lợi của huyền thọai chồng chất – chỉ với người xa, nhất là xa tận phía Nam, nên không nói rõ Bác đang nằm khoèo buồn bã ở bên Tàu mà cho Bác đọc lời kêu gọi “Tiến lên…” vào đêm giao thừa Tết Mậu thân. Dù sao thì hào quang cũng đã dựng lên, không thể để cho tắt nên khi Người đi-xa phải “Xin phép trái lời Bác, ướp xác Bác để một mai cách mạng thành công, bạn bè năm châu đến viếng thăm, còn thấy mặt.” (Nhớ loáng thoáng và có sửa đổi lời nói lấn lướt ngang ngạnh một cách ngọt ngào của ông Nguyễn Văn Linh.)

Tất nhiên là có người đến coi vì tò mò nhưng lại chê là “không văn minh!” Trước kia họ không biết tận mặt đã đành nhưng có thấy cũng chỉ là nhìn người theo hình ảnh của phong trào thời đại tạo dựng lên mà thôi. Có ai chú ý đến bài tường thuật cuộc phỏng vấn Đại tướng Võ Nguyên Giáp của O. Fallaci, nhận thấy nó như một trò hề trình diễn vụng về mà ngang ngược để suy từ đó ra cái chế độ mà đương thời người ta ca tụng ngất trời không? Có ai nghe những lời của B. Russell mà thấy rằng, té ra trong một khối óc vĩ đại cũng vẫn có những ngóc ngách ngu độn tối tăm, cứ lặp lại ý kiến của anh cán bộ thông tin xã “Anh hùng Núp”, không cần suy nghĩ?

Cái thế không thích ứng với thời cuộc cũng thấy ở những người khác, nếu bó gọn trong vị trí cá nhân thì hoặc chỉ là chuyện nhàn đàm hoặc là mới ảnh hưởng đến bản thân mà thôi. Như chuyện Bác Tôn không có việc gì làm, muốn xem đá bóng cũng khó có vé nên các người bảo vệ phải mang xe đạp hư (không hư cũng tháo ra cho hư) để Bác loay hoay vạn bù lon con ốc chữa cho lành. Nhưng ông lại là Phó chủ tịch nước! Ngày xưa người ta cũng đặt chức tản quan để đền ơn những người có công nhưng có đâu đưa cho lên đến chức Phó vương, Phó Hoàng đế? Cứ tưởng thời vua Lê chúa Trịnh đã qua từ lâu trên đất Hà Nội rồi chứ! Lạ kì là với cung cách nhào nặn thần tượng cho đám dân chúng cả tin như thế mà khi thuật lại người ta không những coi như chuyện vui mà còn như là dịp, là bằng chứng để đề cao lãnh tụ nữa! Người nữ sinh viên già làm Bài thơ [1986] gây chấn động dư luận… “đêm trước Đổi mới” (Nxb. Thông tấn 2006) đã cẩn thận núp bóng Bác, đưa cho lãnh đạo đọc trước, được khuyến khích cho công bố (Vũ Mão, Lê Đức Thọ), được nhắn nhe “Trung ương thấu rồi! Về lại lớp đi!” (Phạm Văn Đồng). Thế mà lúc bị tai nạn – “Có người đòi treo cổ tôi”, vẫn không thấy ai lên tiếng ra tay cứu giúp, phải sống “du mục” ở thủ đô, “một mình xây nhà giữa Sài thành”, được xúi vượt biên, tránh quê nhà Bình Định hăm he “Để đợi nó về đây…” cho đến hơn mười năm sau, mà năm 2002 người con còn thấy vướng vào tiếng nhơ “con phản động”. Rồi người ngoại quốc đánh động (3-2003), tháng 3-2006 người ta viết báo, in sách khoe công lao bảo bọc của lãnh tụ, khoe sự can đảm của cấp truyền thông thuộc hạ dù cũng hé cho thấy ông Lê Đức Thọ oai quyền trùm trời mà vẫn phải né tránh đám âm binh do mình dựng nên, đang phản kích. Đâu có ai dại như ông Trần Xuân Bách.

Người ngoại quốc cứ trông chờ các Đại hội Đảng mà không biết rằng các lãnh tụ không có tí can đảm nào, “trên bảo dưới không nghe”, mắt phải lo canh chừng thành phần “cơ cấu”, lực lượng bảo thủ “bảo vệ Đảng đến cùng” đang nằm ở lớp cán bộ huyện, tỉnh (thêm sức mạnh tiền bạc thời đổi mới), ở các tổ Đảng phường xã với các đảng viên già về hưu nhớ tiếc thời bao cấp an bình trong sáng đi theo hình ảnh Bác, được tô vẽ thêm từ những luận thuyết thạc sĩ, tiến sĩ của Học viện Hồ Chí Minh. (Có người được khuyến khích cật lực, rủ vào Đảng cho xứng với chức Trưởng phòng gì đó không ai đảm đương nổi, nhưng khi nạp đơn khai có ông bác ở Mĩ liền bị bác ngay – ông bác đó suốt hơn 20 năm, đêm đêm ngồi cắt chỉ, đạp máy may, ráp áo quần để nuôi con ăn học, đem xe đến chở đi Las Vegas cũng không đi!) Tình thế đó là yếu tố đe dọa ngược lên các cấp uỷ trên cao chót vót, sự đe dọa thấy cả từ vài người “đối lập” hiện nay, có bài phổ biến trên báo chí hải ngoại nhớ tiếc quá khứ của mình! Thật may mắn cho dân Việt biết bao nếu quả đúng là có ai đó trong nước cố đẩy Việt Nam vào vòng sinh hoạt thế giới (vào WTO chẳng hạn), không phải theo kiểu “thấy người ta ăn khoai cũng vác mai chạy quấy” mà là để mượn tình thế bên ngoài, đàn áp đám âm binh do chính các lãnh tụ tạo ra mà không quản lí nổi cũng chỉ vì phải dựa vào chúng để tồn tại!

Các sử gia bây giờ mắc lo tán tụng, không đủ tâm trí rảnh rang để vẽ ra sự thay đổi đến chóng mặt của dân Việt Nam từ trong lạc hậu (có bị mắng là “nói xấu dân tộc” thì cũng xin chịu thôi), lạc hậu không phải kể từ thời điểm xung đột khởi đầu với bên ngoài mà còn tăng tiến tụt hậu trong thời gian có tranh chấp nữa – ở đó khoảng cách cấp độ văn minh cứ tăng lên qua những thời điểm đánh dấu, ví dụ 1945, 1955, 1975, 1986… Người ta thả bom nguyên tử thì dân Việt thấy cái radio còn chạy ra phía sau xem có người nào núp ở đấy không. Người ta xây cao ốc ngước nhìn rớt nón cối mà không ngờ người chiến thắng đứng trên Đỉnh cao của thời đại dùng làm chỗ nuôi heo, xả phân làm nghẹt ống nước đến phải xách từng thùng nước ăn ì ạch lên các bậc cấp thang gác… Tính chất hội kín căn bản, chuyển qua trong hệ thống cai trị hai-tầng có cấp uỷ Đảng ẩn mặt với bên ngoài, lại thấy trong hệ thống hành chính công khai qua thời đấu tranh Cải cách ruộng đất 1956, sau 1975 với thời Đánh tư sản bù thiếu hụt ngân sách sau khi tiêu hết 16 tấn vàng, thời Bán vé chính thức đi biển để thu tiền thanh lọc ngụy (The Rust Bucket Inc.), lại vẫn tiếp tục đến thời Hội nhập bây giờ, qua những cuộc vận động “quần chúng” đàn áp đám đối lập lẻ tẻ, yếu xìu… Trên bình diện quốc tế thời đã qua, là Hà Nội đóng vai chính quyền công khai, đàng hoàng tử tế xây dựng một chủ nghĩa xã hội không ai được quyền nói khác, còn Mặt trận đóng vai hội kín nổi dậy làm “cách mạng dân tộc dân chủ”, hưởng tất cả những ưu thế dành cho một phong trào quần chúng rộng đường múa may với các hoạt động hợp pháp, “nửa hợp pháp”, bất hợp pháp đối với thế giới, đối với chính quyền VNCH. Với thời gian, sự sử dụng đồng thời quyền lực công khai và thảo khấu đó đã chứng tỏ có hiệu quả, đã thành truyền thống rồi, khó bỏ. Khó thể ước mong có một nước Việt Nam trọng pháp như quan niệm bình thường của thế giới ngày nay được.

Không muốn đưa những chứng dẫn “tầm thường” thì hãy mượn ở nơi người ta nói nhiều, ở văn học với “truyền thống làm thơ” chẳng hạn, truyền thống khiến các lãnh tụ lớn nhỏ muốn chứng tỏ mình văn võ toàn tài, cứ phải làm thơ Con cóc, tuy không khiến cho nghệ thuật được nâng cao nhưng lại cung cấp dồi dào bằng cớ cho sử gia làm tài liệu mà không phải mang tiếng xâm phạm đến ngành khác. Có lẽ nhờ vết tích Vijaya mà Bình Định có một Collège Quy Nhơn cho dân các tỉnh nam Trung Kì, dân trời-ơi-đất-hỡi đến học tập và chắc chắn do tầm mức kiến thức của vùng, đã sản sinh ra các nhà thơ được Hoài Thanh gọi là Nhóm Bình Định. Không cao bởi vì đến trước Thế chiến II, Collège Quy Nhơn cũng chỉ mới có vài lớp ở bậc ngày sau gọi là Trung học Đệ nhất cấp / Trung học Cơ sở. Không cao nên không làm được văn mà chỉ mới làm thơ. Không cao nhưng cũng đủ cao hơn người khác nên Chế Lan Viên mới lầu bầu: “Cái thằng Hoài Thanh đụng gốc đa nào cũng vái!” Đủ cao nên Xuân Diệu đòi xem đá bóng khỏi trả tiền, đòi cung phụng, và kết quả khi đi-xa cũng được có tên nơi một “ngõ” của Hà Nội chật chội chen lấn, rướn thêm về Bình Định thì được thay ông Nguyễn Huệ trên bờ biển thênh thang, theo thuận chiều gió thời thế khiến người địa phương không bao giờ ngạc nhiên tự hỏi: “Sao ở đất Tây Sơn mà không thấy tên người khởi xướng phong trào vang danh đó: Nguyễn Nhạc?”

Họ, cũng như một số nhà Thơ Mới khác đi theo Kháng chiến, được biến cố 1945 giúp khỏi kéo dài đời sống gượng gạo. Vì nội lực chỉ có thế mà thôi. Hoài Thanh vẽ ra sự tiến triển của Thơ Mới qua ảnh hưởng của dòng thơ Pháp mà không cho thấy ông Thanh Tịnh mượn hẳn của thi sĩ Pháp “Rồi một hôm nếu về cha hỏi…” – giỏi hơn ông Hữu Thỉnh với thơ Đức (dịch) vừa bị phác giác. Cho nên, một phía, Quách Tấn chuyển sang viết địa phương chí với nhiệt tình của nhà thơ, mà người biết chuyện phải thấy dè dặt khi muốn lấy làm tài liệu dẫn chứng. Phía kia, trong khi Yến Lan mờ nhạt (cũng như Thanh Tịnh, Lưu Trọng Lư, Anh Thơ…) thì Xuân Diệu phải có thêm giải thưởng của Nhà nước, của Đảng. Huy Cận lo làm Bộ trưởng. Chế Lan Viên dừng lại ở Điêu tàn, chuyển sang Vàng sao (Vũ Ngọc Phan đã chê: “thành công sớm nên hơi dóc!”), trên đà đó nói chuyện triết lí phục vụ Đảng (pha chút dân tộc), nhiệt tình quá trở thành Muốn nói gì thì nói: “Bọn sĩ quan ngụy mỗi khi ra trường nấu cháo đầu người ăn để hăng hái phục vụ đế quốc tận tình.” Thơ mới cụt đường, được cứu vớt vì chuyển qua Thơ Phục vụ.

Biến động đảo lộn ngắn không đủ kịp nhận định cứu thân xác nên ông Khái Hưng nghe người của chính quyền mới mời gọi lại vẫn đĩnh đạc mang cặp, thắt cà-vạt ra đi! Có kịp thấy nguy hiểm thì nhóm Đệ tứ cũng không thoát khỏi bàn tay tận diệt của đối thủ Đệ tam đã nắm được chính quyền, đối thủ mà lúc còn đế quốc làm trọng tài, họ cãi nhau ngang hàng, không lường được lúc kẻ kia có quyền hành, có vũ khí. Và nhóm Đệ tam, trên đà hăng say đã đụng độ với các nhóm quần chúng cuồng nhiệt của các tôn giáo mới, tạo những thế tử đạo tân thời (diệt Cao Đài ở Nam, Ngãi, giết Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ ở Nam Bộ), kéo dài thành những mối thù truyền kiếp. Thù dai dẳng cả từ một phía đã nắm quyền, trên chân như khi tỉnh uỷ Quảng Ngãi không cho thân nhân bốc mộ Bích Khê vì “tội (tiếng đồn) là Đệ tứ”. Biến động lớn gây đảo lộn khiến cho người thường, chỉ qua một giai đoạn ngắn ngủi năm mười năm mà đọc lại quyển sách cũ từng say mê (kể cả của ông Kim Dung), thấy nhạt nhẽo, vô duyên chi lạ. Ông Nguyễn Tường Tam vượt được Nho phong, Người quay tơ của phong kiến, thuộc địa An Nam, đem không khí Paris về tạo lập Đôi bạn, Đoạn tuyệt, Bướm trắng cho Nhất Linh nhưng không đủ bình tĩnh để chịu đựng sự thất bại của Phong hóa Ngày nay tục bản (1958?), không nhận ra Giòng sông Thanh Thủy thiếu cái lãng mạn hào hùng phảng phất của Đôi bạn, để co lại ở Xóm Cầu Mới tủn mủn u buồn hơn cái phố huyện Cẩm Giàng xưa kia – cô Mùi đó lại xuất hiện giữa Sài Gòn đảo chính và bắt đầu twist, à terre! Lời tuyệt mệnh “Đời tôi để lịch sử xử…” thường được coi là chứng tích khảng khái của kẻ sĩ nhưng có mấy phần là nỗi thất vọng của một nhà chính trị lỡ thời, của một văn gia nhận ra buổi chiều tàn xế bóng của thân danh?]

Không kể đến vấn đề Trần Quốc Tuấn, có những biến động tranh chấp trong dòng họ chỉ được ghi lại bằng những lời sơ sài, không đầu đuôi: “Tháng 2 (âl. 1283, trước khi quân Nguyên sang), trị tội Thượng vị Hầu Trần Lão, cho chuộc tội 1.000 quan tiền, đồ làm lính, lăng trì tên Khoáng là gia nô của Lão ở chợ Đông, vì tội làm thư nặc danh phỉ báng nhà nước.” Lệnh năm 1250 “xuống chiếu cho thiên hạ gọi vua là Quốc gia” đã bị người dịch Toàn thư (1993, II, 22) sửa lại là “quan gia” vì cho rằng “chưa có sách nào gọi vua là ‘quốc gia’”. Nhưng nguyên văn chữ “nhà nước” trên chính là “quốc gia”, đúng là chỉ người đương quyền: Nhân Tông, đâu có cần tìm sách nào cho xa! Tước Thượng vị Hầu chứng tỏ Trần Lão là con một bà Phi theo thứ tự sắp xếp năm 1241. Lê Tắc nhắc đến một người bị tội, cầu cứu quân Nguyên, tên Trần Thôi, là “quốc đệ”, theo cách nhìn từ phía Nguyên, là em (thượng hoàng) Thánh Tông, hẳn là Trần Lão của sử Việt (chắc tên riêng bị bỏ, chỉ còn là “thằng cha / già / lão Trần”). Cho nên Trần Ích Tắc muốn giành ngôi của Nhân Tông không phải là kẻ lạc loài. Trong lúc sử quan ghi sơ sài vài gia thần của các tông thất khác thì với Ích Tắc đã kể ra đến 20 người được tập họp ở học đường bên phải phủ đệ, cấp cho ăn mặc, đào tạo thành tài, đủ để làm một bộ tham mưu cai trị nước khi đảo chính xong! Người sưu tập ngày nay, ngoài tiền mang niên hiệu vua, chỉ thấy loại tiền của Trần Ích Tắc đúc mà thôi, không có của vương hầu nào khác. Phần rất lớn tiền của các vua, lãnh tụ Việt, đúc ra không phải để tiêu dùng vì lượng tiền Trung Quốc đầy dẫy trong nước, tiền vua chỉ để tiêu riêng, như một bằng chứng uy thế của mình mà thôi, cho nên sự kiện Ích Tắc có tiền đúc riêng chứng tỏ một ý muốn độc lập với chính dòng vua – và đủ khả năng tiền bạc để bày tỏ sự độc lập ấy. [Học giả Nhật đã dựa vào thư pháp để xác định được khoảng thời gian ngắn (1325-1350) của dòng chữ “Thiên Trường phủ chế” trên gốm Trần vậy mà không chịu để tâm nghiên cứu đến thư pháp dồi dào trên các đồng tiền Đại Trị. Thế mới biết nhà nghiên cứu cũng có thể là kẻ chỉ đi theo “phong trào”!]

Trần Lão – chắc là ông em, đã thất bại, Ích Tắc phải trông chờ nơi khác. Sự trông chờ này chỉ mang tính phe phía, không phản bội “dân tộc / đất nước” như người sau kết án, bởi vì như đã nói, “vùng sông nước” ở cuối trung châu Đại Việt là phần lẫn lộn, nhập nhòa tập đoàn, thuận tiện cho “Ích Tắc đưa thư nhờ lái buôn Vân Đồn xin quân Nguyên xuống nam”. Tính chất hải đảo của Vân Đồn lệch bên ngoài trung tâm Thăng Long khiến điểm tập kết buôn bán này tùy thuộc vào Miền Dưới hơn là Miền Trên. Và khi tóm thâu quyền hành trên vùng duyên hải của Tống, thế lực của Nguyên do đó cũng lấn lướt hơn ở Vân Đồn, ở Miền Dưới, ảnh hưởng đến quan niệm chủ quyền địa vực của Trần Ích Tắc để ông ngiêng về phía bắc. Tính chất lờ mờ của “chính nghĩa” đương thời đó đã khiến cho sử quan giải thích việc “về Bắc” của Trần Ích Tắc như đã được thiên đình định trước, qua dấu vết của một thần nhân, không phải là kết quả phản bội của một nhân vật trần thế.

Nhóm Trần Miền Dưới tiến lên Thăng Long trải qua những giai đoạn bị Nguyên uy hiếp nhục nhã khiến ý thức về một khối Đại-Việt-của-họ trở nên rõ ràng hơn (trước Hịch tướng sĩ còn bó gọn trong tông tộc trị nước đã có những lời phẩm bình cay đắng của Lê Văn Hưu 1272). Chiến thắng trên quân Nguyên đem lại sự tự tôn không phải chỉ ở tông tộc cai trị mà còn tỏa rộng đến đám dân dưới quyền – bị cai trị sít sao hơn, cho nên về sau (1374) có lệnh cấm ăn mặc theo người Bắc (Trung Quốc), cấm nói tiếng Chiêm, Lào theo những chuyển biến thời Trần vững vàng quyền hành tiếp theo. Cho nên Nguyễn Đại Phạp đi sứ Nguyên (1292) mới có thể trả lời Trần Ích Tắc: “Việc đời thay đổi, Đại Phạp trước vốn là tên biên chép / thư nhi cho Chiêu Đạo Vương (Trần Quang Xưởng), nay là sứ giả, cũng như Bình chương xưa kia là con vua, nay lại là người đầu hàng giặc.” “Việc đời thay đổi…” mà Trần Ích Tắc lại không biết thân phận mình để cho có kẻ thuận thời thế lên mặt dạy dỗ, từ đấy không còn ngồi ở Hành tỉnh khi sứ thần Việt qua, không còn dịp để nhìn một khuôn mặt quen thuộc, thấy một dấu vết của quê cũ, biền biệt… Ông đành chấp nhận sự lựa chọn thất bại, chỉ có thể ngồi lãnh trợ cấp của nước đến nhờ vả, lâu lâu chờ vua mới lên ngôi, tiến kinh để nhắc nhở xin phần tưởng thưởng đặc biệt… Có chút an ủi nào cho ông không khi có nguồn sử cho rằng con ông là Trần Hữu Lượng, nhân vật Trưởng lão Cái bang đầy mưu mô sâu hiểm của Kim Dung, là người chống Nguyên, lập nên nhà Hán vắn số trước khi bị Chu Nguyên Chương tiêu diệt? Tính chất lạc loài của một nhân vật trong khu vực, cố ý chen chân hay vô tình bị đưa đẩy vào biến động quốc tế cũng thấy ở một nhóm người khác mang cái tên núp lén: Hồi Hột.

Hồi Hột / Cốt là tên do sử gia Việt bây giờ nhận ra về lớp người Tống năm 1274 tránh quân Nguyên, đem 30 thuyền chở đầy của cải vợ con vượt biển đến cánh đồng La Cát (?) rồi được đưa về Kinh thành. Tống cũng có mặt trong quân của Trần Nhật Duật, hãnh diện với một tên “gia tướng” Triệu Trung của dòng vua Nam Tống, những người không những chiến đấu bằng vũ khí mà còn tác động đến tâm lí của quân cựu-Tống dưới quyền Nguyên nữa. Có thành phần Tống binh làm nơi đày ải nhân viên sứ bộ Trần Di Ái. Phe phía làm chủng loại lẫn lộn khiến nảy ra nhận định tức cười của sử quan: “Người Tống (phe ta) và người Thát tiếng nói và y phục giống nhau”. Sự cập nhật của danh xưng làm cho người ra đi phải mang tên của phía họ rời bỏ dù đã về nơi lựa chọn mới: “quân Thát của Chiêu Văn”, khác với quân họ hô “sát Thát!” Là kẻ của thân phận lao đao phụ thuộc vào chủ, Lê Tắc đã ghi về hành trạng quanh quất phức tạp theo tình thế dời đổi của những người Tống chạy qua Việt khi nước mất (1279). Có người tự tử theo vua nhưng được cứu sống, làm thân lưu lạc lại trở về với kẻ thù cũ, quên việc đất nước đã đổi chủ, bởi vì với những người đó, lúc này, đất nước chỉ là ý niệm trừu tượng không thể sánh bằng tình quê hương cụ thể. Có người đổi xoay vì ân oán riêng tư. Có người như Trần Trọng Vi (chỗ khác viết: Huy) được Thánh Tông trọng đãi, quyết tâm “Lưu lạc thà làm ma nước Việt”, chết đi được vua làm thơ điếu nhưng con lại theo phe Trần Thôi, em Thánh Tông, trở về với quân Thoát Hoan khiến Thánh Tông sai quật quan tài trị tội. Hiện tượng tương tự cũng xảy ra trên đất Chiêm Thành tuy ta không có một Lê Tắc ghi chép mà phải qua dấu vết từ phía Bắc. Quân Toa Đô thắng ở dọc biển khiến những người Tống lưu vong trên đất này trở cờ theo quyền lực mới, còn một tên Tăng Diên để lại. Chiêm phải giết cả hàng trăm người nhưng cũng không ngăn được kẻ khác chỉ cho quân Nguyên biết nơi trú ẩn của chúa họ để đến vây bắt.

[Còn nhiều người khác từ trong biến động của một thời đại. Phong trào vượt biên ở phía Nam gây khích động phía Bắc, xúi người “đánh bạc với Liên Hiệp Quốc, có mất hào đếch nào đâu… qua Hồng Kông lấy bảy chỉ rồi về cho nhanh, kịp mùa gặt” (Đỗ Quyên 1997) nhưng vẫn để lại 2000 người giữa đảo Hải Nam, không thành Hoa, hẳn là không Việt nữa mà Mĩ thì quá xa vời (P. Hattaway 2000, mục “Vietnamese”.) Với ông Trần (Văn) Trường vượt biên thì qua thời gian làm chức sắc đạo Vô Vi có người lòn trôn tâm phục, Mĩ cũng không còn hấp dẫn nữa. Ông đòi làm vua cứu nước Việt, rồi thấy việc ca tụng một ông vua có sẵn là dễ dàng hơn nên quấy đảo cộng đồng Bolsa (1999), tự biến thành con chiên ghẻ, phải mang chiếc lá tàn rụng về cội (2005). Không biết có thuyết phục nổi nhà cầm quyền trong nước bằng lời hứa đòi hai tỉ rưỡi đôla nhờ quen với gia đình Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân không mà bị chút tai nạn với tỉnh Đồng Tháp, ông không hề hấn gì. Chỉ có điều là không còn đường ra biển nữa. Lớp người khác, dân “áo pull quần jean thay áo gấm, về xứ” có ai nhớ đến những người bị hải tặc bán cho nhà thổ Thái Lan, được Liên Hiệp Quốc cứu về lại trốn đi vì không còn mặt mũi nào nhìn đồng bào nữa? Những người đó bây giờ đang tàn tạ nơi xó rừng, góc phố tối tăm nào, ai có tâm để nhớ, những người một thời là em, là chị, là mẹ, từng có cuộc sống tuy không cao vời gì nhưng vẫn đáng được hưởng một đời bình thường, đâu phải chui nhủi vì là con cờ rủi ro của biến động, của một thời làm dân hạng nhì ở chính nơi mình sinh ra và lớn lên? Thà là họ chết đi trong bụng cá!]

Tác động trên lãnh vực thương mại, sản xuất được chứng thực ngay từ lúc đương thời. Không phải bỗng nhiên mà Thánh Tông cho đem người lạ về ở Thăng Long. Dân chạy loạn trên 30 thuyền biển kia đã chứng tỏ khả năng mang lại phồn thịnh cho nơi ở mới nên sử quan mới chịu khó ghi chép về một tên riêng là “người Kê (sửa là Cốt/Hột) quốc” với các “hàng vải lụa, dược phẩm, bày hàng mở chợ buôn bán riêng”. Và chúng ta ngày nay có một bằng chứng về hoạt động của họ và con cháu trong vấn đề “gốm Chàm / gốm Bình Định / gốm Gò Sành” theo phát hiện khảo cổ của thời đại mới.

[Có lẽ không cần căn dặn nữa. Bản thân chúng tôi trước năm 1975 đã thấy một vài miếng gốm được mang tên Gò Sành nhưng vì “bận việc nước” nên không để sự tò mò đi xa hơn. Sau 1975, cả nước làm-ve-chai: phía Nam bán ve chai còn phía Bắc “mua” ve chai. Vào.vơ.vét.về, chuyện bình thường của lịch sử, có gì mà phải xấu hổ, tô vẽ? Hết của trên mặt đất, người ta lục lọi phía dưới. Hợp với lúc các nhà khảo cổ Miền Bắc loay hoay mãi đến cạn kiệt các di chỉ kiểu Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn mà chứng minh không ra một ông Hùng Vương cụ thể, nên như một cách thế “tự giải phóng”, họ vác cuốc xuổng đi vào vùng đất mới chiếm được, gây ra một phong trào nhân dân làm Khảo cổ học Đào mả. Chuyện lộ ra đến toà án thì có mấy cái hoa tai gì đó của bà Từ Dũ được cho phép nấu chảy để định giá trị thị trường mà luận tội khiến cho ông ngụy Vương Hồng Sển kêu trời với ông cách mạng Nguyễn Đắc Xuân – ý hẳn cho rằng ông học trò cũ có quyền lắm, như cách thức các ông “nhảy núi” lúc đầu ở khu về lộ ra cho người ta thấy. Trong dân gian thì cứ mỗi sáng ra, người ta lại thăm hỏi nhau: “Hồi hôm ở phía nào? Gò nào?” Chẳng ai biết gì cụ thể về tên tuổi các cán bộ khai quật, về hiện vật thu được, vì nếu có ai tò mò đến gần chỗ lao xao thì nghe có tiếng lên cò súng lắc cắc ghê hồn!

Bộ môn Đào mả mới nếu mở rộng ra có thể thấy mấy cái mả chôn ngồi ở Bình Thuận, Ninh Hòa (khoảng 1945 trở đi), mấy cái mồ tập thể, lấp đất rồi còn nghe tiếng rên ở Quảng Ngãi (1945) của kẻ chặt người cùn rựa, thấy độ chừng mươi cái mả chôn đứng ở Bình Định (1975) mà người sống tự nguyện đào huyệt cho mình, tự nguyện bước xuống đó để bị đập đầu cá lóc trước khi bạn bè còn lại lấp đất rồi bản thân người cuối mới nhờ người Giải phóng thức hiện khâu san bằng. (Có ai cung cấp thêm “tư liệu” không? Tư liệu về thân phận những Nghĩa quân, lớp người từ lính tới trung đội trưởng, lúc sống trong chiến tranh chỉ được hưởng quyền lợi “đánh giặc gần nhà”, khi chết không có một dấu hiệu dù là cáo phó trên báo, còn khi “tan hàng” tuyệt tích thì vẫn không một dòng trên các KBC hải ngoại, nói gì đến sự lưu tâm của các chính khách an lòng không thấy “tắm máu”?) Vài trăm năm sau có nhà khảo cổ học nào tò mò thấy ra, sẽ làm báo cáo khoa học về người Việt cổ ờ Bình Định từng có táng thức lạ: chôn đứng! (Kết luận giản dị giống như các nhà khảo cổ học ngày nay thấy mấy bộ xương chôn ngồi, nằm co, xác định không thắc mắc vì không biết đến tính chất rigor mortis của khoa pháp y.) Mà nhằm-nhò-gì-ba-cái-lẻ-tẻ. Vụ tàn sát ở Dakson (1967) khuất lấp vì là “chuyện xứ Mọi”, vụ Huế 1968 ồn ào một chút chỉ là do Mĩ ngụy tạo bằng cớ giả (Trần Độ), đánh trống lảng che lấp tội ác Mĩ Lai của chúng. Đâu có đáng chú ý bằng hình của Nick Út, hình Đại tá Loan bắn người, bằng các tin trên tờ Times của Phạm Xuân Ẩn đưa! Phương Đông có tinh thần hắc bạch phân minh, phe phía rõ rệt, đã chọn “phe” (có “bản chất” tốt) thì không thắc mắc gì về hành động của phe mình, cứ “cầm gươm ôm súng xông tới” giết, nếu vì lẽ gì phải tha ngoài ý muốn thì đó là “vì lòng nhân đạo / lượng bao dung trời biển của Lãnh tụ và Tổ chức”. Khác với Âu Mĩ mang tinh thần tự trách (“Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng”) nên cứ thắc mắc ngay cả lúc cần để chiến thắng (Hiroshima 1945), lúc trên chân (Mĩ Lai / Sơn Mĩ 3-1968), thấy chưa đủ, đến 30 năm sau khi thua còn kể tiếp. Trong lúc đó, người phe ta mang tinh thần Xuân thu Chiến quốc, thì huênh hoang khoe rằng đã lừa gạt được người với những phương cách không chừa đến cả nguyên tắc đạo lí căn bản nhất của chính nền văn hóa mình hãnh diện, như việc đưa đám ma mang hòm chứa vũ khí vào thành phố để tấn công ngày rước ông bà về vui vầy… Cán bộ Đồng Khởi Bến Tre khoe chuyện “ôm hè, giựt súng” dân vệ không cần nghĩ rằng bọn ác ôn kia không được huấn luyện để bắn đàn bà con gái! Kết quả thật là tốt đẹp như đã thấy nhưng đất nước cứ theo đà đó mà trượt đi. “Đêm trước” Đổi mới đầy những chứng cớ về người nắm quyền vi phạm luật pháp do chính mình đặt ra bắt dân chúng phải theo, lừa trên gạt dưới, phục vụ cấp trên / lãnh tụ theo cách vừa sợ vừa coi thường, miễn sao cho sống được để sau cùng khoe khoang về sự thành công “khôn ngoan” của mình. Ở xứ khác, trong chế độ khác những điều ấy vẫn xảy ra nhưng người ta đâu có hãnh diện, khoe khoang? Bản thân người ta tự thấy xấu hổ, quần chúng cũng không nín nhịn chấp nhận những người ấy đứng trên đầu mình mà cai trị…

Đúng là kể chuyện đánh nhau giữa các người cùng văn hóa xem ra ít nhức đầu hơn. Chuyện con cháu lính Đại Hàn (thâm nhiễm một nền văn hóa khác) tố cáo cha anh họ “mạnh tay”ở miền Trung liền bị chìm ngay tức khắc, thật khoẻ. Chừng mực nào đó thì cách đối phó với kẻ địch cũng giống quân Giải phóng gài lựu đạn trên xác lính ngụy để có thể tiêu diệt địch quân cả sau khi im tiếng súng. Họ bắn vào người y tá lồm cồm mang túi cứu thương chạy qua chạy lại, giết chắc-ăn hơn người lính chiến đang núp kĩ, huống chi bắn y tá là giết trước cả số người bị thương về sau không còn kẻ băng bó. Ông đại tá bắn người biệt động mặc áo dân thường chắc chắn gặp được sự tương đồng với người ông bắn giết hơn là với đồng minh của ông, bởi vì kẻ địch ông cũng nửa đêm lôi đầu người đâm một dao đổ ruột bỏ ruồi bu kiến đậu – những người chết đó cũng mặc áo dân thường đấy! Gần hơn, có thể kể chuyện trong thời các nhà văn nghệ hát Nối vòng tay lớn nhỏ, thì trong trại cải tạo giữa rừng người ta lôi tù hàng binh ra bắn vài con số lẻ để dỗ yên giấc ngủ. Có người soạn thảo Công ước Genève nào đứng đó để giám sát đâu. Ông E. Adam cũng không có mặt để chụp thêm tấm ảnh đặt vào bên cạnh hình Đại tá Loan trong sự nghiệp của mình.

Sự lệch chuẩn văn hóa đã khiến ông đại tá phải tàn tạ thân danh chỉ vì sự việc qua ống kính ngoại quốc, lên báo chí đã đẩy ông vào một vùng văn hóa có tiêu chuẩn khác. Cũng vậy, người dân Mĩ đang nằm dài trong phòng ngủ có máy điều hòa không khí đã la ó, xốn xang khi nhìn lên truyền hình thấy người lính dí ngọn đuốc vào mái nhà tranh. Chiến tranh với Mĩ đưa Việt Nam vào điểm trung tâm chú ý của thế giới, theo văn vẻ của các nhà truyền thông quý tộc, trở thành “đỉnh cao của loài người”, “lương tâm của nhân loại” nên người ta càng dễ xúc động. Cho đến khi đánh với Trung Quốc, Việt Nam trở lại thành một chiến trường địa phương, tin tức không sôi nổi như cũ về sự tàn phá ở các thành phố biên giới mà phi công Mĩ chừa ra nguyên vẹn, dù có anh nổi hứng ngông ngênh đòi đưa kẻ địch “trở về thời kì đồ đá.” Từ đó không ai chú ý đến lời người phóng viên địa phương về việc Hồng quân khi rút khỏi thị xã Lạng Sơn đã đập nát cả đến những cái nồi đất. Phải là người suy nghĩ cùng văn hóa mới thấy điều này là không bất thường: cái nồi nấu cơm kia là vật dụng nuôi sống kẻ địch, nên là kẻ địch phải tiêu diệt. Phải đem điều đó nói với người dân Mĩ (hay ai khác) sống sung sướng quá nên trở thành khờ dại: Cái nhà tranh kia có hầm bí mật, chứa giấu cán bộ, vũ khí bên dưới, dù chỉ có hũ gạo nuôi quân cũng là một địa điểm gây nguy hại cho quân nhà, và đốt nó không phải là đốt một túp lều rách nát, dễ thương, vô tội mà là phá huỷ một chiến luỹ đầy cạm bẫy chết người thật sự, xét về quy luật của chiến tranh thì không cần gì phải ân hận cả. Chính sự lệch chuẩn văn hóa được che khuất thêm bằng cách biệt mức sống đã gây nên nhận thức sai lầm. Từ điểm chuẩn là cái nhà tù Mĩ nơi tù nhân đòi kiện chính quyền vì không có tivi xem giải trí, Don Luce đã tố cáo cái Chuồng cọp với các khoen xích dài theo thanh sắt trên nền nhà tối tăm, âm u nhưng rộng rãi thênh thang ở Côn Đảo. Ông không có cơ hội được thấy cái cùm tập thể làm bằng nguyên thân cây xẻ đôi, khoét tròn nham nhở, ban đêm phập xuống cổ chân lở lói của tên tù cải tạo chỉ có 4 tấc bề ngang cho mỗi người.

Nhưng, nói cho cùng thì một lập luận cũng chỉ có giá trị khi có sức mạnh kèm theo mà thôi.]

“Gốm” của khảo cổ học tương đương với chữ céramique nhưng trong dân chúng nó chỉ các vật dụng đất nung không men, thường là đồ gia dụng. Gốm có men thô là sành, cao cấp là sứ, nhưng gốm thu lượm được trên gò Sành ở xã Nhơn Hòa, huyện An Nhơn, Bình Định là sành cao cấp – tạo ra tên riêng của gò, của làng, theo đà bán ve chai được đưa ra thị trường, lọt vào mắt một nhà nghiên cứu Úc, từ đó hình thành khái niệm về một loại hình gốm lấy tên từ nơi xuất hiện đầu tiên, gọi là gốm Gò Sành, gốm Bình Định, và do thời điểm chế tạo đoán định, được gọi là gốm Chàm, là điều chúng ta sẽ bàn nơi đây.

Ở gò Sành có dấu vết của hơn 20 lò gốm cổ. Cùng loại gốm còn thấy ở nhiều “gò” khác trên đất hai huyện An Nhơn, Tây Sơn (Bình Khê cũ). Cuộc khai quật của các nhà khảo cổ học Nhật, Bỉ, Việt các năm 1993-95, 2002 thu được một số lượng hiện vật gốm tráng men, văn in chìm nổi… phong phú và độc đáo. Gốm Gò Sành còn xuất hiện ở các vùng xa trong nước (Phố Hài ở Bình Thuận, Đại Lào, Đại Làng ở Lâm Đồng nơi có lẫn gốm Long Tuyền thế kỉ XIII, gốm Nhật thế kỉ XVIII) và trên thế giới, ở bán đảo Sinai (Ai Cập), trong địa tầng di chỉ khảo cổ Juffa (Vương quốc Ả Rập Thống nhất), trong các thuyền đắm ở Philippin với tiền Vĩnh lạc (1403-27) cùng đồ sứ Trung Hoa nửa sau thế kỉ XV, nửa đầu thế kỉ XVI. Và còn thấy cũng trong thuyền đắm ở nam Trung Quốc, Thái Lan (niên đại 1403-1442).

Với nhà nghiên cứu trong nước (Đinh Bá Hòa) thì trận thắng 1471 của Lê Thánh Tông là dấu ấn lịch sử rõ rệt quyết định điểm tàn rụi của gốm Gò Sành – hoạt động trong thế kỉ XIII, XIV. Còn với học giả Nhật (Yogi Aoyagi) thì với các chứng tích không tùy thuộc vào biến động ở Việt, họ cho rằng các lò gốm này hoạt động trong khoảng thế kỉ XI – XIV và vẫn còn tiếp tục sản xuất tập trung trong thế kỉ XV-XVI, thậm chí còn đến thế kỉ XVIII. Chính vì thời gian tồn tại đó mà học giả Nhật, được giải thích từ chữ gò/”mound” có nghĩa là “làng” (Momoki Shiro 1993) và gợi ý từ tên gò Hời chỉ một tộc người lạ (thật ra chỉ người Chàm) nên chuyển dịch là “village of foreigners”, để cho rằng ở đây hình như là làng của người Hoa hay có liên hệ một cách nào đó với Trung Quốc. Và dẫn đến kết luận là loại gốm Chàm này chịu ảnh hưởng Trung Quốc hay có thể thợ là người Hoa. Như thế cũng là tiến bộ rồi vì trước khi có các phát hiện ở Bình Định thì người ta thường ghép chúng vào với gốm Trung Quốc. Tuy nhiên vẫn còn sự dè dặt về vấn đề chủ nhân, là vì người ta đã đặt tên “gốm Chàm”, cho nó phải là của người Chàm, chủ nhân cũ vùng đất Vijaya/ Bình Định. Người ta chỉ mới nghĩ thêm rằng thợ ở các lò gốm kia là người Hoa mà không dám nghĩ rằng chủ nhân cũng chính là người Hoa, người Tống lưu vong khi quân Nguyên xua đuổi họ đến đất mới, không về lại nơi cũ nữa.

[Lẽ tất nhiên đời nay không phải là đời xưa nhưng những gì chúng tôi chứng kiến năm 1970 ở một vùng Bình Thuận đã để lại ấn tượng sâu sắc. Tôi đã thấy cung cách làm gốm của người Chàm qua đủ cung đoạn. Hình như người phụ nữ Chàm vì làm chủ gia tộc nên lãnh nhận hầu hết các công việc, để đàn ông cà-nhỏng làm công tử vườn rong chơi, với thời thế thì đi lính nghĩa quân theo tiêu chuẩn sắc tộc để khỏi xa nhà, hay nhậu nhẹt theo các ông Xế ở các lễ hội cổ truyền, theo các ông chức sắc Việt bàn chuyện cứu dân (Chàm) cứu nước (Việt). Anh trung sĩ đơn vị tôi chỉ vác cuốc ra các ụ mối ngoài đồng đem về một mớ đất sét rồi bỏ đó cho bà vợ với chú bé chập chững bên cạnh, đập vụn đất, nhào trộn nước, nắn từng khoanh đất sét tròn đặt trên cái bệ gỗ, tự mình đi quanh, từng vòng từng vòng nhỏ to chồng chất làm nên cái nồi, cái ấm, cái trả, cái trách… đem cất ở khoảng êm mát nào đó trong nhà rồi đi nấu cơm, dệt vải. Một ngày làm vài cái, để đó đến khi chỗ chứa đã chật thì đem ra khoảnh đất trống, quơ củi đốt, khói bay mù trời!

Tất nhiên đó chỉ là gốm gia dụng nhưng không thể ngăn sự suy luận đi xa hơn. Toàn cảnh làm chúng tôi liên tưởng đến chuyện thi đua xây tháp được nghe kể và sau này thấy ông Nguyễn Đình Tư đem vào sách Non nước Phú Yên của ông, với tên nhân vật lịch sử Lương Văn Chánh, quan trấn thủ đương thời. Ông ta vốn là người “yêu chuộng hòa bình”, không muốn gây tranh chấp binh đao tàn hại đến cả dân tộc dưới-tay, nên đề nghị với người Chàm hai bên thi đua xây tháp xem “ai thắng ai”. Trong khi người Chàm hì hục đào đất, lụi hụi nhào trộn nước, đúc gạch… thì ông quan bảo lính lấy tre đan kết tháp, phất giấy lên, xong ngay! Muốn cho bọn Hời tâm phục khẩu phục, ông lại đề nghị đốt tháp xem ai hoàn thành việc tiêu thổ nhanh hơn ai. Kẻ ưu việt thắng là quy luật đương nhiên của lịch sử. Chuyện đời xưa nhưng cũng có chút gì là “vang bóng một thời”. Người ta suy ngẫm đến việc xây tháp của người Chàm. Tất nhiên đến nay thì đã có rất nhiều thí nghiệm khoa học, phân tích chất liệu… để đưa ra nhiều lời giải thích khá thoả đáng. Nhưng với người “tay không” thì nhìn không thấy một cái lò gạch nào của người Chàm để lại, phối hợp chuyện đốt tháp với thực tế đốt gốm giữa trời, người ta phải nghĩ rằng người xưa đã thực hiện theo cung cách đó, tất nhiên với một tổ chức phức tạp hơn. Điều đó cũng dính dáng đến vấn đề các trang trí trên phần gạch của tháp. Trước năm 1975 có ông đạo diễn buôn đồ cổ, xây tháp Chàm trong vườn ở Sài Gòn, cũng khắc, cũng chạm nhưng các hình voi ngựa, garuda… xù xì thô kệch vì gạch nung đã chín, khó tạo hình. Thế mà nhìn tượng con voi trên tháp Bà Nha Trang (tháp nhỏ?) trơn láng, uyển chuyển đường nét, chỉ có thể hiểu rằng nó đã được thực hiện lúc cái nền còn là đất mềm, không quá mềm để chảy nhão ra, còn chịu đựng được sức nặng chồng lên theo một chừng mực tính toán nào đó, chạm hình xong người ta mới nung toàn thể lên để cố định hình dạng. Mà thôi, đừng lấn sang chuyện người khác!]

Chỉ có thể thấy là người Chàm cho đến nay không biết đến bàn xoay để làm vò hũ, nồi trả, nói chi đến làm đồ sành cao cấp. Trên tháp Chàm không hề thấy vật dụng sành sứ gắn theo như trên lăng vua Khải Định! Gốm Gò Sành có dấu gạch / ngói (tiles) tráng men mà không thấy trên tháp Chàm, trước nhất là loại hiện diện trong vùng Bình Định, vốn được cho là xây cất trong các thế kỉ XI, XII, XIII (không đến 20 năm cuối của thế kỉ này vì tình hình chiến tranh với Nguyên.) Gốm tráng men celadon là chuyên ngành của người Hoa, là chứng tích riêng biệt của gốm Tống, Nguyên kế tục Tống. Tất nhiên tới địa phương khác đất gốc nó phải có ứng biến đổi thay mà vì chúng ta chỉ phát hiện được vật-câm, nên chỉ có thể đoán mà thôi. Gốm Gò Sành (tên khoa học nên không cần thay đổi) được gọi là gốm Chàm vì xuất hiện trên đất Chàm xưa, nhưng là của những người Tống lưu vong sản xuất, chủ cũng như thợ, không cần phải chỉ là thợ. Dấu vết thế kỉ XI mà học giả thấy trên gốm của họ là di chủng của quá khứ (thế kỉ XI còn là của thời đại Tống) bởi vì đã không thấy chúng trên các tháp ở Bình Định / Vijaya, nghĩa là chúng chỉ xuất hiện trong thời bình về sau, sớm nhất là những năm cuối thế kỉ XIII, qua thế kỉ XIV, thời gian tương đồng với phỏng đoán của các nhà khảo cổ học. Gốm đó là chứng tích của một tập đoàn dân tộc bỏ chạy đến đất Chàm, có kẻ bị giết vì sự xung đột của các đối phương nơi họ sống gây vạ, trong đó không phải họ không có phần trách nhiệm, cuối cùng một lớp người bám trụ được, như bà con họ ở tất cả các nơi khác, đem lối sống, kiến thức kĩ thuật từ quê gốc, thực hiện trên đất mới. Những con người đã chết, những kết quả phi vật chất đã tan biến, hòa lẫn với địa phương không còn có thể nhận ra, nhưng dấu vết vật chất thì khó huỷ họai: Các đồ gốm sành cao cấp đã theo thương thuyền đi khắp thế giới, và còn lại nơi dấu vết các lò nung sụp đổ, chìm lấp.

Với cung cách luồn lách trên đất lạ để tồn tại, tạo thịnh vượng còn được chứng kiến đến tận ngày nay, tập đoàn lưu vong đó có thể thoát qua biến cố xung đột Chàm Việt, rồi khi đất thuộc về Việt, họ lại luồn lách qua các thủ lãnh địa phương mà chúa Nguyễn nuôi dưỡng bằng cách thu tiền phong chức như Lê Quý Đôn còn thấy. Tiền mua chức của các thổ hào hẳn không sai chạy là có sự đóng góp của các chủ lò sành sứ trong vùng. Con cháu họ tàn tạ dần theo sự chuyển hướng dòng thương mại chung, hoặc mua ruộng thành địa chủ, hoặc thuê ruộng thành tá điền, hay cùng với những lớp người sau, đóng chốt ở các “thị tứ” Nước Mặn, Cảnh Hàng, Đập Đá (có Canh Hãn xã, Thạch Kiều trên bản đồ 1774), An Thái theo dọc sông Côn từ dưới biển lên nguồn Tây Nguyên… Không biết có nhà cổ tiền học có khả năng nào chịu khó nhìn vào đống tiền đồng – vẫn các niên hiệu Tống nhiều nhất, không thấy dấu vết triều Nguyễn, đang được cất giữ ở nhà Bảo tàng tổng hợp Bình Định để đưa thêm một suy ngẫm về tình hình thương mại thời chúa Nguyễn trở về trước của vùng này không. Chịu khó một chút mới có thể tìm thêm kiến thức còn không, cứ lấy (tiền đồng) của người làm (tiền đồng) của mình thì vẫn chỉ là ngông ngênh với nhau mà thôi.

Một dấu vết về sản xuất gốm như thế cũng thấy ở Đại Việt tuy khuất lấp hơn vì ở đây đã có truyền thống bàn xoay, gốm sành sứ trước Trần, không đợi đến người Tống bỏ xứ lưu vong vì quân Nguyên. Người ta thấy gốm Trần có loại hình Long Tuyền của Trung Quốc. Gốm Gò Sành ở Đại Làng, trong con thuyền đắm ở Pallawan cũng nằm chung với gốm Long Tuyền. Khu sản xuất Chu Đậu chìm khuất, chỉ mới phát hiện từ 1984, được cho rằng có đời sống từ thế kỉ XIV, phát triển và tàn tạ chung một nhịp với Gò Sành gợi ý ra một ảnh hưởng cùng thời. Và cùng loại với Chu Đậu còn có Thanh Khơi, Hợp Lễ… Dù có những rối loạn triều chính, đất nước Đại Việt sau hồi thắng Nguyên cũng tiếp tục đi theo những bước phát triển riêng của nó. Triều đình Nguyên với cái chết của Hốt Tất Liệt (1293), bãi bỏ lệnh chinh Nam (1294), đã trở thành giải đãi, dịu bớt sức hăng của thời ở sa mạc. Cho nên Chu Đạt Quan đi sứ Chân Lạp (1296) đã chỉ quan sát xứ sở đó như một du khách (Chân Lạp phong thổ kí) [5] chứ không xoi mói như một sứ thần nước lớn. Khuôn mẫu tổ chức chính trị, xã hội theo mẫu hình Trung Hoa đẩy từng lớp nho sĩ Đại Việt vào triều nhiều hơn theo với các kì thi, với nhu cầu giảm dần gia thần của các vương hầu Trần. Cho nên đến năm 1323 thì sử quan nho gia thấy đầy phấn khởi: “Nhân tài rộ nở”. Người nhiều hơn chức nên mới có ông Thiên chương học sĩ Nguyễn Sĩ Cố đã nói, và Nhân Tông mới phàn nàn với ông con (chuyện năm 1320): “Cái nước bằng bàn tay mà sao phong quan tước nhiều thế!” Và theo lời Nghệ Tông (1370), vào khoảng năm Đại Trị (1358-1369) “bọn học trò mặt trắng được dùng, đem phép cũ của tổ tông thay đổi theo tục phương Bắc… nhiều không kể xiết.”

Điều đáng chú ý ở đây là cũng năm 1323 đó có việc đúc tiền kẽm, không nói rõ tên nhưng chắc là lấy theo niên hiệu đương thời: Đại Khánh, Khai Thái. Việc đó chỉ thực hiện được một năm thì huỷ bỏ chứng tỏ người ta thấy bất lợi – có thể là không cạnh tranh được với tiền đồng, hay gây khủng hoảng như với chúa Nguyễn thế kỉ XVIII sau này. Nhưng điều đó cũng chứng tỏ là một nhu cầu có thật đã xuất hiện theo với sự phát triển thương mại trong vùng, bởi vì sau niên hiệu Khai Thái ta có niên hiệu Đại Trị đã đúc tiền đồng hiện nay còn lại trong sưu tập với số lượng tương đối lớn, nhiều kiểu dáng, nhiều hơn hẳn các niên hiệu khác của Trần. Thế rồi sự phát triển của sản xuất, thương mại tuy không đưa đến sự xoá bỏ tầng cấp xã hội nhưng cũng làm dịu sự cách biệt: Con ông vua lê lết đến chơi nhà ông gia thần (Phạm Ngũ Lão), ông vua (Dụ Tông) đánh bạc với nhà giàu trong dân, ông Trần Khắc Chung ngay lúc còn mang họ Đỗ khuất lấp đã khiến hình quan không dám xử em mình, đến lúc chen vào tông tộc quý hiển của đất nước, làm “Thủ tướng”, lại khen vợ con “quân nhân” biếu món ăn ngon, Trương Hán Siêu làm quan đề cử của vua trông coi chùa lại gả con gái cho người nô của chùa… Họ Trần từ bỏ vai trò chủ ruộng của Lí, lên làm chủ nước nên để người thay mặt trực tiếp trông coi ruộng đất, tích trữ làm giàu, tìm cách bứt phá khỏi tầng cấp xã hội dành cho họ.

Trên vùng có sách sử ghi chép, bằng cớ quân lưu vong Tống tỏ rõ ảnh hưởng rộng lớn, sâu xa hơn ở đất Chàm. Dấu vết của nhóm người Tống không phải chỉ ở tầng lớp trên của Đại Việt mà đã đem ảnh hưởng chồng chất thêm một lớp văn hóa của mình trên một nơi thờ cúng địa phương. Từ biến động kinh hồn của trận chiến Nhai Sơn (1379), tác động đến Đại Việt như sử quan ghi “Qua 7 ngày có đến hơn 10 vạn xác chết nổi lên mặt biển”, cửa Cờn của Nghệ An vốn là một nơi thờ cúng cá Ông (voi), đã trở thành chỗ bà cung phi Tống hiển linh đoạt quyền thần Po Riyak, không nổi sóng lớn, giúp cho Trần Anh Tông đem quân đánh thắng Chiêm Thành (1312). Rồi hai thế kỉ sau, lại thêm ông Hùng Vương XIII chen vào thành một thứ thần pha trộn, đủ để thờ, để sợ mà không cần thắc mắc đến gốc gác nơi đâu. Giống như xa tận về phía nam, một đền thờ thần Balaha của Thủy Chân Lạp chuyển qua thần Bạch Mã của Việt lại trở thành chùa Ông Bổn, giằng co giữa Thành hoàng (bổn cảnh) và Thái giám Trịnh Hòa [6] !

Có tướng đầu hàng đánh trận giúp chủ mới cho đến chết (Trương Hiển 1298), có người đem trò du hí (Đinh Bàng Đức) góp vui thêm cho cuộc sống dân dã. Trâu Tôn về hàng, chữa bệnh cho các vương hầu trở thành giàu có. Con là Trâu Canh vào cung mà khả năng chuyên môn đủ sức cứu bản thân dù có làm liều: Cứu thái tử khỏi chết, chữa bệnh liệt dương cho vua, không những bằng thuốc mà còn bằng ngôn từ lí thuyết, chỉ dẫn thực hành (“hay dùng những câu kì lạ, những kế quỷ quyệt để dụ” Dụ Tông, chuyển phương pháp chữa trị qua bà công chúa chị Thiên Ninh), “đụng” đến cung nữ mà khỏi chết, còn truyền trong dân gian rằng lẩn khuất ở bờ ao, bờ mương đâu đó có sợi dây leo “tăng cường sinh lí”. Và cuối cùng, nhưng chưa hết, có người phường hát Lí Nguyên Cát mang đến đất Việt lối “tuồng truyện” đã quyến rũ danh tướng Trần Nhật Duật “không ngày nào không mở cuộc hát xướng, làm trò”, lối du hí đã đi vào cung, suýt lật đổ triều đại sớm hơn 30 năm, với con của người đào hát: Dương Nhật Lễ.

Có thể nghĩ rằng việc cải cách âm nhạc, ăn mặc theo lối người Bắc của nhóm nho sĩ vào triều năm 1323 cũng có đà từ sự hiện diện của nhóm Tống lưu vong, nhưng lối “cải cách không kể xiết” đó đã gây phản ứng bất lợi cả về mặt sản xuất. Sự suy tàn của gốm Chu Đậu trùng hợp với chính sách “dân tộc hóa” cụ thể bằng lệnh trở về thời Khai Thái của Nghệ Tông (1370), của lệnh cấm ăn mặc theo lối người Bắc (1374) làm cạn kiệt nguồn tiếp tế nhân lực, kĩ thuật từ ngoài vào. Sự suy tàn của gốm Gò Sành thì khác, có lẽ là do nguyên nhân biến động địa mạo nơi này. Nhà khảo cổ ngày nay thấy một khu lò bị bỏ vì con đường nước ra sông lớn bị bồi lấp. Nhìn ở tầm mức rọng hơn cũng thấy có hiện tượng tương tự. Đường nước thông ra biển: Sri Banoi / Chiêm Thành Cảng / cửa Tì Ni / cửa Nước Mặn đang trên đà cạn dần. Đã có vùng đất bồi sau này mang tên Gò Bồi, quê mẹ Xuân Diệu, xuất hiện xa hơn Nước Mặn về phía đông (vì dòng chảy đã yếu đi?) chặn lối ra biển trong khi các đụn cát dồn lên từ phía bờ đông nối hòn đảo có núi Rổ Đó Khổng Lồ của “…Bình Nam đồ” thành bán đảo Phương Mai ngày nay. Phải nói đến tác động của địa mạo vì sự phát triển của gốm Gò Sành không thấy có nguyên nhân lụn bại vì yếu tố chính trị mà có thể nói nó đã là yếu tố xây dựng triều đại vinh quang cuối cùng của vương quốc Chiêm Thành: triều đại Chế Bồng Nga.

Kì lạ, không thấy dấu tích trên đất Chàm tên ông thủ lãnh khi tiến quân ra Thăng Long đã làm cho vua tôi Việt khóc lóc chia tay, kẻ được lệnh đánh giặc, người chạy trốn theo tiền của cất giấu. Không thấy một bia Chàm nào mang tên có thể xác nhận tương đương với Chế Bồng Nga của sử Việt. Niên giám Hoàng gia của Chàm đưa ra tên (Po) Binosuor nhưng niên đại thì không giống: 1328-1373. Người ta đã chỉ cho chúng tôi một vùng cát trắng ở (Hòa Đa?) Bình Thuận bảo rằng ở đó có mả một ông vua không được nằm trong các đền miếu thờ cúng vì mất đầu. Chi tiết đó có vẻ hợp với Chế Bồng Nga bị Trần Nguyên Diệu cắt đầu định đem về Trần lập công chuộc tội, nhưng nếu như thế thì lớp tro được La Ngai đem về chôn trong nước phải ở Bình Định / Vijaya chứ sao lại là Bình Thuận? Tuy nhiên dù coi Chế Bồng Nga đã đem đến giai đoạn cực thịnh của Chiêm Thành hay chỉ là tia nắng quái chiều hôm của lịch sử nước này, thì ông cũng là một nhân vật nổi bật chưa từng thấy trong tương quan Việt Chàm. Điều đó phải có lí do sâu xa từ trong hiện tình đương thời của đất nước này. Cả sử quan cũng phải ghi nhận: “Chiêm Thành từ đời Lê Lí tới đây, quân lính hèn nhát, hễ quân ta đến là đem cả nhà chạy trốn hoặc họp nhau khóc lóc xin hàng. Đến Bồng Nga, La Ngai mới tập họp dân họ lại bảo ban dạy đỗ, thay đổi dần dần thói cũ, trở nên can đảm hăng hái, chịu được gian khổ nên thường hay sang cướp, trở thành tai họa của nước ta.”

Sự kiện có những người nổi bật như thế vì vùng đất của “vương quốc” Chiêm Thành bị chia nhỏ theo từng khu vực sông ngắn, ngăn cách bởi những dãy núi đâm ra biển, khó cho sự thống nhất từ xưa. Hãy kể vào giai đoạn gần gũi là khi Anh Tông thân chinh (1312), ngoài “Quốc chủ” Chiêm Thành ở Vijaya còn có “trại chủ” Câu Chiêm (Quảng Nam). Mối đe dọa của Nguyên còn khiến hai nước Chàm Việt phải giữ thế liên kết mà dấu hiệu rõ rệt là cuộc hôn nhân Huyền Trân – Chế Mân. Hai chốt gạch có chữ “trần” (Hán) tìm thấy ở Mĩ Sơn năm 2004 có thể là dấu hiệu một công trình xây cất công quả của Nhân Tông khi thăm Chiêm tìm liên kết (1301). Ông đã đi với tính cách một hòa thượng – “vân du” nên hẳn có vật biếu tặng Chiêm, và “quốc danh” Trần từng chỉ có trên các đồng tiền của vua (Nguyên Phong, Thiệu Phong…) không thể được sử dụng bừa bãi, trên đất lạ cũng phải là chỉ dấu của “quốc gia” / vua. Sức ép của phương Bắc yếu đi dẫn theo sự liên kết lơ là của hai nước, huống nữa tầng lớp nho sĩ đang lên sau chiến tranh nâng cao thêm ý thức tự tôn của Việt, cho nên sau khi Chế Mân chết là xung đột tiếp tục xảy ra. Chiêm vẫn bị đàn áp, phải “chạy trốn hay khóc lóc xin hàng”. Tiến trình vực dậy phải qua sự phát triển thương mại, dấu hiệu là ở cửa biển chính Tì Ni, là “bến tàu xung yếu… nơi tụ tập người buôn bán (tuy) phức tạp” nhưng vẫn có tổ chức với “viên coi cảng” mà Đoàn Nhữ Hài ranh ma hù dọa (1303).

Khảo cổ học ngày nay cho ta thấy món hàng chính là “gốm Gò Sành” tung ra khắp thế giới. Tổ chức sản xuất gốm cao cấp đã mang tính cách phức tạp, đòi hỏi kĩ thuật cao, kỉ luật nội bộ, đưa lên thành món hàng quốc tế lại còn phải thêm kiến thức về giao dịch, tất cả là nền tảng của một vùng Vijaya phục hưng mà Đoàn Nhữ Hài không thể thấy đến chi tiết được. Sự buôn bán phồn thịnh trên mặt biển làm đà cho việc tạo dựng một lực lượng thủy quân hùng mạnh. Sự bình yên này lại kéo theo sự thịnh vượng khác: nghề đánh cá. Thầy giảng Ý Odoric de Pordenone (không đến Champa) ghi chuyện vào thế kỉ XIV rằng có “một điều rất kì lạ, là mọi loài cá trên biển đều đến đây, tựa như người ta không thấy gì trên biển ngoài cá cả…” Nhà du hành A Rập Ibn Batutah đến Panran cũng nói: “dường như tất cả các loài cá đều tụ tập ở đây”. Sự dồi dào đó còn thấy dưới thời chúa Nguyễn, trên tấm bản đồ “Giáp ngọ niên (1774)…” có vẽ tháp Phố Hài (Phan Thiết) như cái tháp chùa 9 từng, có ba con cá quay đầu về tháp với ghi chú” Mỗi năm ngày tháng 5, bọn cá quay đầu chầu về tháp”. Và dân Việt đến thay thế, ngày nay cũng vào khoảng thời gian ấy có tế lễ, có hội Cầu ngư, chỉ khác là dùng phương tiện văn hóa của mình: hát Bả trạo. Trên nền tảng của sinh hoạt phồn thịnh đó là vai trò của những cá nhân nổi bật, biết thu tóm sinh lực chung để phục vụ cho tham vọng riêng của mình: Chế Bồng Nga, La Ngai như sử quan đã nêu ra.

Sự hồi phục của Chiêm Thành trở lại lần đầu qua nhiều thế kỉ là trận đánh thắng quân can thiệp của Trần đưa Chế Mỗ về nước tranh quyền (1352). Không thấy bóng dáng Chế Bồng Nga nhưng đã thấy hiện tượng lính Chàm “thay đổi dần dần thói cũ, trở nên hăng hái…” Không thấy mặt Chế Bồng Nga nhưng đã thấy quân Chàm cướp phá châu Hóa (1362) sau năm tấn công Dĩ Lí xa hơn về phía bắc (1361). Và đòi đất cũ, đánh tan quân Trần ở Quảng Nam (1368). Đó là lí do, sau khi thanh toán nội bộ (Dương Nhật Lễ 1370), Trần Duệ Tông với nhiều năng động hơn, đã tiếp tục thanh lọc nội bộ theo lệnh chỉ cấm nói tiếng Chiêm (1374) khiến đám nô Chàm từ đây mất tính cách riêng biệt họ giữ được trên hai, ba trăm năm nhờ sự buông lỏng của Lí. Và ông chuẩn bị tấn công Vijaya. Ông thất bại, chết trên chiến trường (1377) để quân Chiêm tràn ra ào ạt, liên tục (1378 cướp Thăng Long, 1380, 1382, 1383) đưa tên Chế Bồng Nga xuất hiện trong sử Việt (1380), tung hoành đến khi chết (1390) mà không để lại dấu tích nào ở quê hương mình, khác với những đảo lộn gây ra trên đất Bắc.

Với sử quan mang tinh thần nước lớn miệt thị phiên liêu thì những dòng khen Chế Bồng Nga như trên đã là quá nhưng sự lấn lướt của Chiêm trong thời gian này có vẻ còn trầm trọng hơn các sự kiện được ghi chép. Trong trận phản công 1378 sau khi thắng Duệ Tông, Chế Bồng Nga đem các tôn thất Trần bị bắt, trở cờ lập một triều đình ngụy chiêu dụ dân Việt. Người nổi bật là Trần Húc, con Nghệ Tông, cưng đến mức mang tên là Con ngựa non của Vua / “Ngự Câu Vương”, khi lấy vợ được cha tự thân đón dâu khiến cho sử quan chê trách. Bên cạnh Chế Bồng Nga còn có các tôn thất khác. Toán quân ngụy đánh ra đã khiến gây dao động phe phía: Sử quan nói đến “dân Nghệ An ăn ở hai lòng còn dân Tân Bình, Thuận Hóa thì phần nhiều làm phản theo Chiêm Thành”. Toán người này khi bị thua (Trần Húc bị chiêu dụ trở về bị giết) thì có người chạy sang Minh cầu cứu (Trần Thiêm Bình) gây mối loạn lan cả về phía bắc. Quân Chiêm không phải chỉ đánh ra rồi rút về theo loại chiến tranh Gió mùa truyền thống mà còn có dáng đã chiếm đóng dài lâu. Khi có người bội phản chỉ thuyền Chế Bồng Nga cho quân Trần bắn thì vua Chiêm bị chết chứng tỏ đó là nơi đồn trú cố định. Và quân La Ngai kéo về lại không đi đường thủy mà theo đường bộ chứng tỏ phần quân bộ có ưu thế hơn. Nhưng dù sao thì vai trò nổi bật của Chế Bồng Nga làm suy yếu nhà Trần đã suy yếu sẵn cũng góp phần tạo dựng con người thay thế họ Trần: Lê (Hồ) Quý Li, người làm nổi lên vùng Trại bên lề các chính quyền Thăng Long.

Với con người này là bắt đầu một thế lưỡng cực bắc nam của Đại Việt cứ kéo dài mãi vì khả năng quản trị đất nước của các triều đại tiếp theo đã không theo kịp với lãnh địa bành trướng. Hồ Quý Li đem thêm một “đô” – Tây Đô để đối chọi với Đông Đô, Thăng Long cũ, đưa một lượng người lớn về phía nam để làm quân bình đất nước có đô mới ở trung tâm. Hiểu biết xa về phía nam từng được Lê Tắc ghi nhận “Chiêm Lạp Vương, Cầm Bồ Gia” (Cambodgia/Kampuchia, người chép sách ngắt câu thành: “chiêm lạp, vương cầm, bồ gia”) không biết là do kiến thức có từ quê nhà (1285) hay thêm mới từ Trung Quốc. Nhưng trong trận chiến với Ai Lao ở Nghệ An 1335, Đoàn Nhữ Hài đã biết đến Mekong / “sông lớn” Tiết La mà ông dự tính “sau khi thắng trận, bắt được tù binh theo dòng xuôi xuống, đi qua Chân Lạp và các nước phiên khác, diễu võ giương oai, dụ bảo con em các nước ấy vào chầu…” Mộng tưởng không thành vì thất trận, chết đuối nhưng đã mở đường kiến thức cho Hồ Hán Thương năm 1404 dự tính lấy hết đất Chàm (Bản Đạt L[R]ang – Pandaran), luôn phần Chân Lạp (Hắc – vùng Tức Khmau / Cà Mau rộng?, Bạch?, Sa Li Nha?) đến giáp giới Xiêm La.

Việc khai thác phía nam cùng với những biến động tự trị một phần do ảnh hưởng quân Chiêm phục hồi đã làm nổi lên những thổ hào thiểu số gốc Thái. Ở trung châu phía bắc, các tập đoàn này bị chận lại vì các cuộc viễn chinh của triều đình, nhưng có vẻ nơi phía nam, tộc đoàn Thái đã lấn lướt nhiều hơn chỉ vì Trần, “người Miền Dưới” tuy có khả năng nhưng cũng gặp phải giới hạn của mình. Điều đó chứng tỏ ở những trận thua vùng Nghệ An (1334-36) vì quân Trần đã xa Thăng Long mà còn lấn qua đến Mekong như đã thấy; và lệnh cấm “nói tiếng Lào” hẳn là do tình hình lấn lướt chủng tộc này. Tuy nhiên ở phía bắc, họ gần với Trần nên có tên riêng (Ngưu Hống) trong sử còn ở phía nam khuất lấp, họ chỉ là những nhóm vô danh theo các triền sông đi xuống các đồng bằng phía đông, lẫn lộn với các tập đoàn thiểu số khác, chịu nói tiếng Việt, Việt hóa / trung châu hóa với các họ Phan, Phạm, Trịnh, Hoàng, ẩn giấu bên trong cả họ Lê, Nguyễn của Mường nữa theo liên hệ hôn nhân tộc đoàn… Vị thế lãnh đạo trên trước của họ lại vẫn không mất trước đám dân gốc Việt tại địa phương nên với triều đình, họ là “thổ hào” nhận chịu chức tước cai trị, quản lĩnh binh lính trong vùng, có trường hợp đủ sức chen vào triều chính Hồ-Trần như Phan Mãnh (1391) – thất bại. Sức mạnh thiểu số đơn lẻ không làm họ thành đạt cao hơn nhưng khi gặp cơ hội phối hợp với các lực lượng khác thì có kết quả khả quan đến tột đỉnh. Đó là trường hợp thành công của nhóm Mường Thái Lam Sơn trong công cuộc chống ách đô hộ nhà Minh, kết thúc vào năm 1428.

Nguồn: Tạ Chí Đại Trường – Talawas

Lời cuối: Tất nhiên viết bài sử theo lối “Hậu hiện đại” này phải nhờ đến sách vở xưa nay, nhờ bạn bè, người quen kẻ lạ cung cấp kiến thức nhưng không nêu ra hết vì muốn để chỉ một mình chịu trách nhiệm mà thôi.

© 2006 talawas


[1]Lê Tắc, An Nam chí lược, Ủy Ban Phiên dịch sử liệu Việt Nam, Viện Đại học Huế xb, 1961.
[2]Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm, Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII, NXB Khoa học Xã hội, Hànội, 1975
[3]nhân tuần (循): rụt rè không dám làm gì. (Thiều Chửu, Từ điển Hán-Việt. Xem:
http://www.huesoft.com.vn/hannom/
). BT.
[4]một cơ quan trung ương thành lập cho địa phương
[5]– Châu Đạt Quan, Chân Lạp phong thổ ký, Lê Hương dịch (từ tiếng Pháp – Paul Pelliot, Mémoires sur les coutumes du Cambodge de Tcheou Ta-Kouan, Paris, 1951), Kỷ nguyên Mới xb, Sài Gòn, 1973 (có thể xem tại: http://www.viethoc.org/phorum/read.php?10,7478)
– Chu Đạt Quan, Chân Lạp phong thổ ký, Hà Văn Tấn dịch (từ tiếng Hán trong Tứ khố Toàn thư), NXB Thế giới, Hà Nội, 2006. BT
[6]Trịnh Hòa (鄭和; Cheng Ho), tên thật: Mã Tam Bảo (馬三寶; Mǎ Sānbǎo tên Ả Rập: Hajji Mahmud Shams), 1371–1433, nhà hàng hải và nhà thám hiểm Trung Hoa nổi tiếng nhất. Trịnh Hòa phục vụ Minh Thành Tổ – hoàng đế thứ ba của nhà Minh (trị vì từ 1403 đến 1424). Ông chính là người đã chỉ huy các chuyến thám hiểm được gọi chung là “Thái giám Tam Bảo hạ tây dương” từ năm 1405 đến năm 1433.
Theo Minh sử, ông quê ở Côn Dương 昆阳, (nay là Tấn Ninh 晋宁), tỉnh Vân Nam. Trịnh Hòa thuộc về đẳng cấp Semur và theo Hồi giáo. Ông là hậu duệ đời thứ 6 của Sayyid Ajjal Shams al-Din Omar, một viên quan cai trị tỉnh Vân Nam thời nhà Nguyên và đến từ Bukhara, ngày nay thuộc Uzbekistan. Life Magazine xếp Trịnh Hòa đứng thứ 14 trong số những người quan trọng nhất trong thiên niên kỷ vừa qua. (theo http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BB%8Bnh_H%C3%B2a) BT

Hits: 13

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *