Nguồn: Alicia Oanh Le – Zzz Review số 5, 20/04/2019


Một lần nọ, trong lớp Văn hóa Điện ảnh tại Đại học Hong Kong, phiên thảo luận lớp nhỏ (tutorial) của chúng tôi có một câu hỏi như sau: “Anh/chị có biết bộ phim noir Trung Quốc nào không? Hãy so sánh phim noir Trung Quốc với phim noir phương Tây.” Sau một hồi im lặng kéo dài mà học trò đứa thì tranh thủ lên mạng hỏi bác Google xem bác có biết “Chinese film noir” nào không, đứa thì ngập ngừng nhìn bạn, đứa thì nhìn cô cầu cứu, một bạn học là sinh viên quốc tế lên tiếng: “Phim noir Hong Kong có được tính là phim noir Trung Quốc không?” Cô trợ giảng trẻ, xinh, trắng, giọng hay như ru liền cười mà nói, “Đây vốn là một câu hỏi mang tính chính trị.” Lớp chúng tôi vì thế cũng cười ầm lên.

Có thể khi đọc mẩu chuyện trên, bạn đọc sẽ thấy sao người kể chuyện nhạt quá, chẳng có gì vui cả, chuyện có gì đâu mà phải cười với chẳng băn khoăn. Nhưng thật sự để hiểu được sự im lặng hay tiếng cười bất đắc dĩ của sinh viên chúng tôi, bạn phải ở đó, trong căn phòng 10.69 với 12 gương mặt sinh viên khoa Văn học của trường đại học lớn nhất Hong Kong – những cô gái chàng trai mơ mộng trở thành học giả, nghệ sĩ, văn sĩ, nhà phê bình nổi tiếng nhưng lại hồi hộp, lo lắng, băn khoăn, ngập ngừng và… á khẩu vì câu hỏi phim Hong Kong có phải phim Trung Quốc không. Bởi đó không đơn thuần là một vấn đề về phân loại phim ảnh, mà chính là hiện thân của mâu thuẫn chính trị đang từng ngày từng giờ bao trùm lấy Hong Kong.

Sự im lặng của lớp điện ảnh hôm ấy chính là sự im lặng và đấu tranh tư tưởng kéo dài của tôi khi đọc chủ đề lần này của Zzz Review:

Ta còn có thể nói gì mới về Trung Quc, đất nước vừa yêu vừa ghét, đất nước với hai giải Nobel, đất nước mà hình như không còn tác phẩm nào người Việt chưa biết đến, mà cả những bộ sách lê thê trường thiên cũng thường khi có nhiều hơn một bản dịch, và bản quyền nhiều cuốn được bán bay ngay khi tác giả mới hé cái tựa sách cùng đề cương?

Có thể khi đọc đề bài trên, bạn sẽ thấy câu hỏi quá sức đơn giản chẳng có gì phải nghiêm trọng hoá vấn đề. Sau khi trao trả về Trung Quốc ngày 1 tháng Bảy năm 1997, chẳng phải Hong Kong đã là Trung Quốc rồi sao! Từ đó đến nay ta vẫn mặc định đồ ăn Hong Kong là đồ ăn Trung Quốc, phim ảnh Hong Kong là phim ảnh Trung Quốc, âm nhạc Hong Kong là âm nhạc Trung Quốc, vậy thì văn học Hong Kong cũng là văn học Trung Quốc rồi còn gì nữa?

Nếu chỉ đơn giản như thế, hẳn nhiên chuyên ngành Trung Quốc học (Chinese Studies) hay Ngôn ngữ và Văn học Trung Quốc (Chinese Language & Literature) ở các đại học lớn sẽ không phải bận tâm giảng dạy và nghiên cứu về vấn đề Hong Kong, hẳn nhiên sẽ không có sự ra đời của chuyên ngành Nghiên cứu Hong Kong tại Đại học Hong Kong hay Sáng kiến Nghiên cứu Hong Kong (Hong Kong Studies Initiative) ở University of British Columbia, Canada. Và tất nhiên mọi mâu thuẫn chính trị và văn hoá giữa Hong Kong và Trung Quốc sẽ biến mất và thế giới cũng chẳng biết đã từng xảy ra cuộc Cách mạng Dù Vàng năm 2014.

 

“Ta có thể nói gì về Trung Quốc?” Đầu tiên, chúng ta hãy xem xét mối quan hệ Trung Quốc và Hong Kong trên khía cạnh lịch sử, chính trị, và văn hoá. Với chiến thắng trong cuộc Chiến tranh Nha Phiến lần thứ nhất năm 1842, thực dân Anh hiên ngang đặt lá cờ thuộc địa lên chiếc làng chài nhỏ bé phía Nam Trung Quốc. Năm 1860, Hiệp ước Bắc Kinh tiếp tục đem đến cho Anh Quốc bán đảo Cửu Long và đến năm 1989, cùng với ký kết thuê vùng đất Tân Giới kéo dài 99 năm, Hong Kong chính thức tách rời khỏi Trung Quốc. Cha đẻ của Trung Quốc Hiện đại – Tôn Trung Sơn – tốt nghiệp Cao đẳng Y Hong Kong và chính tại Hong Kong người ấp ủ lý tưởng cách mạng Tân Hợi 1911. Quốc-Cộng Nội Chiến (1927-1936) rồi liên tục tới năm 1949, cùng với sự thất bại của Quốc Dân Đảng ở Đại Lục và sự ra đời của nhà nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, Hong Kong chứng kiến những làn sóng di dân từ Đại Lục gây áp lực buộc chính phủ thuộc địa thay đổi chính sách cai trị Hong Kong. Trong số vô vàn người tị nạn ấy ngoài dân thường còn có những bậc tài tử giai nhân, nghệ sĩ, diễn viên, đầu bếp, thợ may lành nghề nhất Trung Quốc đem đến cho Hong Kong nào là cao lương mĩ vị từ khắp đất nước Trung Quốc rộng lớn, nào là phong cách thẩm mỹ cầu kì và tinh tế của Thượng Hải, nào là công ty điện ảnh của anh em nhà Shaw Brothers với khát vọng Hollywood châu Á, đến chiếc xường xám (cheongsam) cùng kiểu tóc xoăn lọn thời thượng gợi cảm rồi sẽ bất tử trên màn bạc Hong Kong. Tưởng rằng vị trí địa lý cùng thân phận thuộc địa sẽ ngăn cách Hong Kong với Đại Lục, nhưng Bạo động Cánh tả Phản Anh năm 1967 nổ ra do những lực lượng cộng sản hưởng ứng lời kêu gọi Đại Cách Mạng Văn Hoá Trung Quốc. Bạo động thất bại, Hong Kong lại tiếp tục hưởng thụ nền kinh tế phát triển, mãi đến năm 1984 mới bàng hoàng nhận ra mình sắp bị trả về Trung Quốc. Đến nay dân tình vẫn đồn rằng cú ngã của Margaret Thatcher trên bậc thềm Nhân Dân Đại Hội Đường ở Bắc Kinh khi đàm phán với Đặng Tiểu Bình năm 1982 chính là bị “Thiên mệnh quật”. Có lẽ Thiên mệnh cũng chẳng hài lòng mấy với việc trao trả Hong Kong về Trung Quốc, vì sau sự kiện Handover (Trao trả Hong Kong về Trung Quốc) ngày 1 tháng Bảy năm 1997, trời Hong Kong mưa gió suốt hai tuần liền!

Hơn một thế kỷ thuộc Anh đã biến Hong Kong trở thành một vùng đất kỳ lạ, giao thoa giữa những cung đường giao thương hàng hải và là trung tâm của những toan tính chính trị giữa Trung Quốc và Anh. Trong bối cảnh lịch sử và chính trị phức tạp này, văn hoá Hong Kong ra đời là sự kết tinh giữa văn hoá Trung Hoa và phong cách sống ở thuộc địa. Người Hong Kong thấy người Anh uống trà chiều với đường và sữa liền học theo, cũng lấy trà bình dân thật đậm pha với sữa thành trà sữa Hong Kong trứ danh, tiếp đó còn học tập người Anh làm bữa sáng có bánh mì xúc xích bơ sữa, nui nấu thịt bò nhưng hoàn toàn theo khẩu vị Hong Kong, nhưng vẫn giữ văn hoá ẩm trà ăn điểm tâm của miền Nam Trung Quốc. Mở tivi lên, ta thấy nghệ sĩ gạo cội của nền âm nhạc Hong Kong hầu như đều chịu ảnh hưởng của phong cách biểu diễn phương Tây, nhưng lại cho ra những bản phối, lời ca nghe đầy đủ tình tứ Trung Hoa. Đế chế điện ảnh của anh em nhà Shaw dùng kĩ xảo điện ảnh Hollywood để kể chuyện thời Hán thời Đường, rồi lại chính đạo diễn Hong Kong khiến cả thế giới ngả mũ thán phục. Người Hong Kong lớn lên cùng thứ văn hoá ấy, danh tính tuyệt nhiên không phải Anh cũng chẳng phải Trung, Toàn quyền cuối cùng của Hong Kong Chris Patten miêu tả rất hay bằng bốn chữ “Đông-Tây Hội Ngộ” (East Meets West).

“Ta có thể nói gì về Trung Quốc?” Xét về nghĩa, chữ tiếng Anh China có thể dùng để chỉ thể chế chính trị People’s Republic of China (Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa), Republic of China (Trung Hoa Dân Quốc – Đài Loan), còn Chinese bao hàm những nghĩa rộng hơn, từ tiếng Hoa nói chung, người Hoa nói chung, đồ ăn kiểu Hoa nói chung, đến người Trung Quốc, người Đài Loan, người Hong Kong, và cả cộng đồng Hoa kiều trên toàn thế giới. Vì thế mà câu hỏi “Phim noir Hong Kong có được tính là phim noir Trung Quốc không” có thể được trả lời theo hướng khẳng định rằng có, dòng phim noir Hong Kong cũng được tính vào dòng phim noir của điện ảnh Hoa ngữ, và tương tự, văn học Hong Kong cũng là một phần không thể tách rời của văn học Hoa ngữ.

“Vậy ta có thể nói gì về đất nước với hai gii Nobel, đất nước mà hình như không còn tác phm nào ngưi Vit chưa biết đến, mà cả những b sách trưng thiên cũng thưng khi có nhiu hơn mt bn dch, và bản quyền nhiều cuốn được bán bay ngay khi tác giả mới hé cái tựa sách cùng đề cương?” Rằng khác hoàn toàn với người anh em họ ở Đại Lục, văn học Hong Kong chẳng có những trường thiên tiểu thuyết mà chỉ cần nhắc đến thôi người thường cũng có thể vanh vách đọc tên Tây Du Ký, Thu H, Hng Lâu Mng, Tam Quc Din Nghĩa… Thay vào đó, thế hệ 8x, 9x Việt sẽ dễ dàng nhận ra những cái tên như Trần Hạo Nam, Thập Tam Muội, Tưởng Thiên Sinh trong bộ truyện tranh xã hội đen Hong Kong đình đám Teddy Boys – Ngưi Trong Giang H dài 2218 chương. Lịch sử văn hoá Hong Kong chưa đủ dài để có tác giả nhận giải Nobel, nhưng sách xuất bản ở Việt Nam nhiều nhất chắc chắn chỉ có tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung tiên sinh. Văn học Hong Kong hầu như bị các nhà xuất bản ở Việt Nam làm ngơ, đến cả “ngọc nữ” Trương Ái Linh được tôn thờ trong giới văn học Hoa ngữ và thế giới cũng chỉ le lói rồi vụt tắt ngoài kệ sách với quyển Chuyn tình giai nhân gần mười năm trước không hề có tái bản và cuối cùng trôi nổi trên mạng Việt Nam với cái danh “tác giả ngôn tình”. Hỏi thế gian văn học Hong Kong là gì để mà kẻ mộ đạo phải nhất quyết sang Hong Kong học cho bằng được còn người ngoài nhìn vào cười chê, Hong Kong có gì để mà học?

Ngẫm cũng phải. Nếu học lịch sử giúp chúng ta hiểu được những sự kiện và chi tiết lịch sử được ghi lại và định hình như thế nào bởi những thế lực nắm giữ quyền lực chính trị, thì văn học chính là cửa ngõ giúp ta khám phá những thay đổi xã hội và chuyển biến trong nhận thức cá nhân của người cầm bút. Học lịch sử Hong Kong để hiểu vì sao người Hong Kong luôn khẳng định mình là “Hong Konger” chứ không phải người Trung Quốc, còn học văn học Hong Kong để thấy sự phát triển của một dòng văn học tiếng Trung thú vị, vừa tách rời khỏi Trung Quốc về mặt địa lý, vừa gắn bó mật thiết với những giá trị văn hoá và mĩ cảm Trung Hoa, không ngừng vận động và biến chuyển theo những thay đổi chóng mặt trong xã hội Hong Kong.

Văn học Hong Kong tựa ống kính vạn hoa giúp thấu hiểu thực trạng xã hội Hong Kong. Thoạt nhìn, ta thấy Hong Kong như một sa mạc văn hoá, nhưng để ý kĩ hơn sẽ thấy một ốc đảo đằng xa, xanh mướt mát văn thơ mọc lên từ đất đai cằn cỗi. Một trăm năm văn học Hong Kong vì thế có thể kể trong một-vài con số và một-vài cái tên sau:

 

Giai đon 1842-1927: Những ghi chép đầu tiên về thuộc địa Hong Kong đa phần thuộc về chính quyền thực dân Anh hoặc người phương Tây đến sinh sống tại Hong Kong. Đó thường là những thông tin trong tài liệu hành chính, hoặc thư gửi về mẫu quốc cho Nữ hoàng và Nội các Anh, cho gia đình và bạn bè. Nội dung thường kể lại những quan sát về thành phố cảng vừa nhỏ vừa nóng, về cuộc sống xa hoa trên đỉnh Thái Bình Sơn cách xa tầng lớp dân đen bị trị, hay những câu chuyện về Trung Hoa kỳ bí, lạ lùng và quyến rũ. Cần lưu ý rằng người Anh không phải nhóm người da trắng duy nhất ở Hong Kong mà còn có người Bồ Đào Nha, một cộng đồng đã định cư và kết hôn với người bản địa ở vùng biển phía Nam Trung Quốc, chủ yếu là Macau, từ thế kỉ 16, rất lâu trước khi người Anh đến Hong Kong. Những ghi chép của họ miêu tả nếp sống của cộng đồng Bồ Đào Nha ở Hong Kong và nhấn mạnh vào thái độ phân biệt chủng tộc ngày càng gia tăng của người Anh (châu Âu) đối với cộng đồng Bồ Đào Nha “lai tạp”.

Ngoài ra, có rất ít văn học tiếng Trung trong giai đoạn này. Tờ báo tiếng Trung đầu tiên ở Hong Kong mang tên Tun Hoàn Nht Báo được thành lập năm 1847 bởi Vương Thao, một nhân sĩ bị chính quyền Mãn Thanh truy sát vì ủng hộ cuộc Khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc. Thảng hoặc, các nhân sĩ Trung Quốc cũng đến với xứ Cảng Thơm, nổi bật nhất là bài diễn văn tựa đề “Trung Quốc Vô Thanh” của Lỗ Tấn tại YMCA Hong Kong năm 1927.

 

Giai đon 1927-1949: Hiệp ước Nam Kinh năm 1842 không chỉ đem lại cho Anh Quốc phần đất Đảo Hong Kong mà còn bắt buộc chính quyền Mãn Thanh mở cửa năm cảng biển để giao thương với Anh Quốc, bao gồm Canton (Quảng Đông), Amoy (Hạ Môn), Foochow (Phúc Châu), Ningpo (Ninh Ba), và Shanghai (Thượng Hải). Từ lịch sử ta sẽ thấy, mối liên hệ giữa Thượng Hải và Hong Kong đã có từ rất lâu nhờ những can thiệp chính trị và hoạt động giao thương – ngân hàng HSBC được thành lập vào năm 1865 ở Hong Kong rồi đến Thượng Hải. Hai thành phố một Bắc một Nam mau chóng trở thành cặp song sinh theo phong cách Hai kinh thành của Dickens, nhưng trong khi Thượng Hải “Tây hoá” sớm hơn nên sang trọng, tinh tế hơn, Hong Kong lại bị xem là nơi có dân trí thấp hơn mà văn hoá cũng thiếu thốn. Đến thời nội chiến, người Thượng Hải kéo nhau chạy xuống Hong Kong bởi thuộc địa Anh Quốc an toàn và tự do hơn, Hong Kong đột nhiên đón nhận một làn sóng nhân lực và của cải vật chất. Trong số văn nhân ngh sĩ Nam tiến (Southbound Writers) này có người đợi chiến tranh qua đi để trở về Đại Lục, người thì chờ thời đi Anh, có người lưu lại mãi mãi. Đây chính là khởi đầu cho phong trào văn ngh Nam tiến (Southbound Imaginary).

Tạp chí Renditions, số chuyên đề về Trương Ái Linh. Ảnh của Alicia Oanh Le.

Sinh ra trong một gia đình trí thức Thượng Hải mà ông cố là quan cận thần Thanh triều Lý Hồng Chương, thân mẫu Tây học, thân phụ giàu có, bản thân lưu loát Trung-Anh và sớm trổ tài năng văn chương từ bé, lẽ ra Eileen Chang (Zhang Ai Ling, Trương Ái Linh) phải được hưởng thụ cuộc đời êm đềm trướng rủ màn che đêm ngày cầm kỳ thi hoạ ở tận trời Anh Quốc, nhưng Đệ nhị Chiến tranh Trung-Nhật nổ ra năm 1937 khiến nàng bất đắc dĩ phải đi học đại học ở Hong Kong. Năm 1941, Hong Kong thất thủ vào tay Nhật Bản, Trương Ái Linh bỏ học Đại học Hong Kong trở về Thượng Hải viết văn kiếm sống. Hai mươi ba tuổi, nàng trở thành nữ văn sĩ nổi tiếng nhất Thượng Hải: “Đ tr nên ni tiếng tôi phi nhanh lên, trưc khi mun quá ri s chng còn vui na.” Những cuộc “bút chiến” trên văn đàn Trung Quốc với Phú Lôi, dịch giả nổi tiếng của văn học phương Tây, khiến nàng càng ra sức khẳng định cái tôi tươi trẻ và mới lạ, thách thức những định kiến gò ép văn học truyền thống. Hai mươi bốn tuổi, nàng kết hôn với Hồ Lan Thành, nhà văn và chính trị gia trong chính phủ bù nhìn của quân đội Nhật, sau này trở thành kẻ thù dân tộc của Trung Quốc. Chàng lăng nhăng, nàng uất ức rồi chẳng mấy chốc ly hôn. Năm 1952, Trương Ái Linh quay lại Hong Kong làm thông dịch cho Sở thông tin Hoa Kỳ trong 3 năm rồi lên đường sang Mỹ định cư.

Trương Ái Linh ở Hong Kong năm 1954. Giấy phép CC BY-SA 4.0.

Thật dễ để sa đà vào kể chuyện đời tư của Trương Ái Linh vì hiếm có nữ văn sĩ Trung Hoa tự cổ chí kim nào có một cuộc đời đa đoan hơn thế. Ch tài đi vi ch tai mt vn. Trong sự nghiệp cầm bút với vô số truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, Trương Ái Linh được nhớ đến với một chất văn không lẫn vào đâu: từ ngữ chắt lọc cẩn thận, cầu kì, câu từ ngắn gọn súc tích nhưng ẩn chứa nhiều tầng ý nghĩa, ý văn kết hợp hài hoà giữa truyền thống văn chương cổ điển và thẩm mỹ hiện đại. Là một người-nữ-viết-văn, Trương Ái Linh tin vào sự biểu đạt tuyệt đối tính cá nhân của người phụ nữ Trung Quốc bất chấp hoàn cảnh chính trị rối ren, vì thế mà cả cánh tả cánh hữu đều lên án văn chương của nàng phi chính trị không có lấy một lập trường cách mạng. Đáp lại những lời chỉ trích đó, Trương Ái Linh vẫn miệt mài, chỉn chu lưu giữ những phận đời giai nhân và gia đình trong thời xã hội suy thoái. Một nụ cười thầm châm biếm, một dòng văn lạnh lùng, một đám mây đen bao trùm bi kịch không thể nói ra.

Dù chỉ học ở Đại học Hong Kong trong ba năm ngắn ngủi 1939-1941, Trương Ái Linh đã biến thành phố trở nên bất tử trong những mối tình giai nhân của nàng. Năm 1943, tiểu thuyết Love in a Fallen City ra đời lấy bối cảnh Hong Kong thời chiến. Khách sạn của giới thượng lưu ở Repulse Bay trở thành chứng nhân cho mối tình chàng công tử độc thân và cô gái trẻ mới ly hôn từ Thượng Hải đến: “Mt ngày nào đó, khi văn minh nhân loi hoàn toàn biến mt… Nếu khi đó, chúng ta có th gp nhau bc tưng này, thì có l, em s tht lòng quan tâm tôi, và tôi s tht lòng quan tâm em.” Nhưng Hong Kong trong mắt Trương Ái Linh đâu chỉ có những toan tính hôn nhân của giới thượng lưu! Trong tản văn From the Ashes (1945) viết hai năm sau ngày Trương Ái Linh quay lại Thượng Hải, ta thấy một chiều hướng tự sự khác về chiến tranh. Không có những chiến công hiển hách hay tinh thần chiến đấu quyết liệt mà là thái độ xa rời thực tại tàn khốc, đề cao cái tôi cá nhân, ưu tiên hưởng thụ ích kỷ của những cô cậu sinh viên trẻ tuổi, và cả sự châm biếm những giá trị anh hùng được tôn thờ trong văn chương cách mạng cùng thời. Ta còn thấy Hong Kong trong những câu chuyện ít nhiều mang tính tự truyện của nàng. Những nhân vật nữ chính trong Lust, Caution (色戒 Sc, Gii)(小團圓 Tiu đoàn viên) luôn có tuổi thơ vắng bóng mẹ và thời niên thiếu bất hạnh tại Thượng Hải, vì không thể đi Anh do chiến tranh nên đến Hong Kong học đại học, sau đó lại vì chiến tranh mà quay lại Thượng Hải. Hong Kong đối với Trương Ái Linh suy cho cùng vẫn là không hẳn yêu cũng chẳng hề ghét, nhưng chỉ là nơi chốn tạm dừng chân, tồn tại trên mảnh đất tạm bợ trong dòng chảy thời gian vay mượn.

Năm 1952, Trương Ái Linh trở lại Hong Kong, dự định tiếp tục chuyện học dang dở ở trường cũ nhưng lại bỏ ngang để đi Tokyo rồi lại quay lại Hong Kong làm việc cho Sở Thông tin Hoa Kỳ. Nàng viết tiểu thuyết The Rice Sprout Song (1954) hoàn toàn bằng tiếng Anh, nội dung lên án cuộc sống khắc khổ ở Trung Quốc Đại Lục dưới chính quyền cộng sản. Trong ba năm 1952-1955, nàng còn dịch Hemingway sang tiếng Trung, viết kịch bản phim truyền hình và điện ảnh. Từ cuối những năm 1960 cho đến khi nàng mất ở Los Angeles năm 1995, tên tuổi Trương Ái Linh chưa bao giờ hạ nhiệt ở Đài Loan, Hong Kong và Trung Quốc. Những quan sát kĩ lưỡng và nhận định khách quan của Trương Ái Linh tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong những nghiên cứu về giới và phong trào nữ quyền trong văn học Hoa ngữ.

Thật dễ sa đà vào liệt kê các tác phẩm văn học của Trương Ái Linh, vì hiếm có nữ sĩ Trung Hoa tự cổ chí kim nào có một gia tài tác phẩm dồi dào gây ảnh hưởng văn hoá sâu đậm đến thế. Cũng thật dễ quên đi người phụ nữ đa tài đa đoan này khi xem những cảnh quay nóng bỏng nghẹt thở giữa Thang Duy và Lương Triều Vỹ trong Sc, Gii (2007) do đạo diễn Lý An chuyển thể thành phim. Nhưng một điều chắc chắn: Trương Ái Linh mãi là tượng đài văn học không thể thay thế trong lòng bao thế hệ độc giả và học giả Trung Hoa.

Nhà văn Kim Dung.

Giai đon 1949-1967: Cùng với làn sóng di cư từ Đại Lục đến Hong Kong sau năm 1949, phong trào văn ngh Nam tiến không ngừng khai mở và phát triển. Để tồn tại và sinh sống ở một nơi chốn mới, các trí thức Đại Lục bắt đầu mở trường dạy học; văn hoá tiêu thụ báo giấy mạnh mẽ ở Hong Kong thời bấy giờ cũng tạo điều kiện phát triển cho những cây bút tiềm năng. Năm 1952, Kim Dung (Louis Cha, Tra Lương Dung) đến Hong Kong làm phó tổng biên tập The Evening Post. Năm 1959, ông thành lập tờ Minh Báo, vừa viết xã luận vừa viết tiểu thuyết, có khi lên tới hơn 10.000 Hán tự một ngày. Cũng tại Hong Kong, Kim Dung cùng Cổ Long và Lương Vũ Sinh trở thành bộ ba đại thụ võ hiệp tiểu thuyết. Từ năm 1955 tới năm 1972, ông xuất bản tổng cộng 15 bộ tiểu thuyết võ hiệp, bán hơn 100 triệu bản (không tính in lậu), lập kỷ lục nhà văn Hoa ngữ có số lượng sách bán ra nhiều nhất. Tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung đạt tới đỉnh cao văn hoá, câu văn vừa thanh thoát sinh động, nhân vật và tình tiết dù hư cấu nhưng đóng vai trò tấm gương phản chiếu xã hội Hong Kong, thấm đậm tinh thần nghĩa hiệp, nhân văn, công bằng, bình đẳng. Năm 2017, Bảo tàng Di Sản Hong Kong khai trương Jin Yong Gallery nhằm tôn vinh những thành tựu của “Võ Lâm Minh Chủ” Kim Dung đối với văn hoá đại chúng Hong Kong.

Một góc bộ sưu tập tiểu thuyết võ hiệp của cố nhà văn Kim Dung tại Thư viện Phùng Bình Sơn, Đại Học Hong Kong. Ảnh của Alicia Oanh Le.

Văn ngh Nam tiến không chỉ đem đến cho Hong Kong những chuyện tình giai nhân hay những pha hành tẩu giang hồ, mà còn đánh dấu sự ra đời của phong trào văn học hiện đại Hong Kong, khởi xướng bởi “Kẻ say” Liu Yichang (Lau Yee Cheung, Lưu Dĩ Xưởng). Trước những bất ổn ở Đại Lục, Lưu Dĩ Xưởng đến Hong Kong năm 1948 nhưng sớm vỡ mộng bởi Hong Kong thiếu đất cho văn học nghiêm túc. Thay vào đó, ông chuyển sang làm báo và biên tập cho các tờ báo đại chúng ở Hong Kong (nghe đâu cũng có viết truyện võ hiệp!). Năm 1963, Lưu Dĩ Xưởng xuất bản tiểu thuyết The Drunkard (酒徒, Tu đ), ý định ban đầu chỉ để thoả nguyện cá nhân, ngờ đâu độc giả lại đón nhận vô cùng nồng nhiệt. Câu chuyện rất đơn giản, kể về những gian truân vất vả của một nhà văn nghèo trong xã hội tư bản chuộng của cải vật chất, nhưng hình thức lại vô cùng đặc biệt: The Drunkard là cuốn tiểu thuyết đầu tiên sử dụng thành công kĩ thuật viết dòng tâm thức (stream-of-consciousness) phù hợp với ngôn ngữ tiếng Trung, mở màn cho trào lưu văn học hiện đại ở Hong Kong! Cuốn tiểu thuyết không chỉ đem lại danh tiếng lẫn tầm ảnh hưởng cho người viết, mà còn truyền cảm hứng cho bộ phim 2046 của đạo diễn Vương Gia Vệ.

Một số tác phẩm của cố nhà văn Lưu Dĩ Xưởng, trong đó nổi bật nhất là truyện ngắn “Intersection” (Đối đảo) – nguồn cảm hứng cho bộ phim In The Mood For Love (2000) của Đạo diễn Vương Gia Vệ. Ảnh của Alicia Oanh Le.

Từ truyện đến phim lần đầu thì do tác phẩm hay, nhưng làm phim lấy cảm hứng từ truyện lần thứ hai thì chắc chắn Vương Gia Vệ rất hâm mộ Lưu Dĩ Xưởng. Năm 2000, Vương đạo diễn làm phim Hoa dng niên hoa (In the mood for love) lấy cảm hứng từ truyện ngắn “Intersection” (對倒”, Đi đo, 1962). “Intersection” gần như không có cốt truyện cụ thể, được viết theo hình thức song song, các đoạn văn đan xen nhưng thiếu tính kết nối. Các phần truyện được đánh số, phần lẻ (1, 3, 5, 7…) theo bước chân Chunyu Bai, một người đàn ông trung niên từ Thượng Hải đến Hong Kong hơn 20 năm trước; phần chẵn (2, 4, 6, 8…) kể về Ah Xing, một cô gái trẻ sinh ra và lớn lên ở Hong Kong mê mẩn văn hoá người nổi tiếng. Chunyu Bai và Ah Xing vô tình ngồi cạnh nhau trong rạp chiếu phim rồi khi phim kết thúc lại đường ai nấy đi, như hai đường thẳng song song vô tình gặp gỡ.

Tựa đề tiếng Anh “Intersection” nhằm miêu tả Hong Kong trong vai trò không gian kín chứa đựng những dòng chảy xuôi ngược, còn tựa đề tiếng Trung “Đối đảo” là cách dịch từ tête-bêche, tem lộn đầu. Như những cặp tem lộn đầu chỉ xuất hiện với xác suất vô cùng thấp trong vô vàn những con tem được in ra, Chunyu Bai và Ah Xing cũng rất ít cơ hội để gặp nhau và càng không có một cơ hội nào để ở bên nhau. Chunyu Bai là kẻ từ phương xa đến nhưng hơn 20 năm ở Hong Kong đã hình thành trong anh những sợi dây ràng buộc với thành phố này, trong khi đó Ah Xing là người trẻ sinh ra và lớn lên ở chính đất Hong Kong nhưng không ngừng cảm thấy bơ vơ lạc lõng. Vậy thì sự gặp gỡ giữa họ chẳng phải vô tình mà thực sự hữu ý. Hong Kong đâu chỉ là nơi tiền bạc, thời gian hay con người lưu thông, mà còn là nơi những danh tính Hong Kong đối đầu và chạm trán.

Vương Gia Vệ nói về “Intersection”:

Tác phẩm đầu tiên tôi đọc của Lưu Dĩ Xưởng là Đi đo. Tựa đề truyện là cách dịch tiếng Trung của từ tête-bêche, từ dùng để miêu tả cặp tem lộn đầu vào nhau… Đối với tôi, tête-bêche còn hơn là một danh từ chỉ tem thư hay sự giao thoa của những câu chuyện. Đó có thể là sự giao thoa của ánh sáng và màu sắc, của thinh lặng và nước mắt rơi. Tête-bêche cũng có thể là sự giao thoa của thời gian: ví như là, ánh nhìn thanh xuân trên gương mặt lão hoá, những lời vay mượn kể về giấc mơ lần nữa ghé thăm.

Khi Lưu Dĩ Xưởng mất ngày 8 tháng Sáu, 2018, báo chí Hong Kong đồng loạt đưa những dòng tít thật hoành tráng, “Nhà văn Lưu Dĩ Xưởng với các tác phẩm truyền cảm hứng cho Vương Gia Vệ qua đời ở tuổi 99”; “Nhà văn Lưu Dĩ Xưởng qua đời báo hiệu ngày tàn của một kỉ nguyên văn học Hoa ngữ”; “Ông là một đại thụ văn học, một người thầy vĩ đại”: Nhà văn Lưu Dĩ Xưởng đã “sáng tạo ra Hong Kong hiện đại” như thế nào; “Huyền thoại Lưu Dĩ Xưởng”,… Thiết nghĩ, vạn lời khen như vậy cũng không bằng tấm lòng đồng cảm cho một bậc trí thức dành cả đời cho công cuộc sáng tác văn học Hong Kong mà vẫn không ngừng nhung nhớ về quê hương Thượng Hải yêu dấu. Chạy trốn chiến tranh, thế hệ nhà văn Nam tiến thập niên 50-60 đều khóc than sự mất mát của Trung Quốc bốn nghìn năm văn hoá, nhưng quê nhà ở rất xa, chiến tranh đã xoá nhoà bộ mặt thành thị yêu dấu. “Mi kí c đu ưt đm l rơi.”

Nhà văn Lưu Dĩ Xưởng. Hình ảnh của Fisfisa Media Co Ltd. Giấy phép CC BY-SA 3.0.

Giai đon 1967-1997: Từ nửa sau thập niên 50, nền kinh tế Hong Kong phát triển mạnh mẽ và chẳng mấy chốc gia nhập nhóm Bốn Con Rồng Châu Á cùng Hàn Quốc, Đài Loan, và Singapore. Kinh tế phát triển dẫn đến sự gia tăng trong thu nhập bình quân đầu người và khả năng tiêu dùng, mua sắm. Người trẻ Hong Kong lớn lên với khả năng kinh tế cao hơn nhưng ngày càng mất dần tiếp xúc với Trung Quốc. Họ chuộng văn hoá đại chúng phương Tây hơn, và vì thế công nghiệp âm nhạc Cantopop, phim truyền hình TVB và điện ảnh “made in Hong Kong” vừa tập trung phục vụ nhóm đối tượng này, vừa ra sức định hình ngược lại danh tính Hong Kong thông qua việc tiêu thụ sản phẩm văn hoá. Văn học Hong Kong giai đoạn này cũng vì thế mà xa rời khỏi những tưởng tượng và hồi ức về “quê nhà văn hoá” Trung Quốc để tập trung khai thác chủ đề danh tính bản địa Hong Kong.

Hai cái tên sáng giá trong văn đàn Hong Kong giai đoạn này phải kể đến học giả-nhà phê bình văn hoá Ya Si và “nữ tác giả quốc dân” Xi Xi.

Ya Si (Leung Ping-kwan, Lương Bỉnh Quân) (1949-2013) là một nhà văn, học giả và nhà phê bình văn hoá gạo cội Hong Kong. Ông bắt đầu viết văn và làm báo từ những năm 60 và nhanh chóng nổi tiếng với lớp độc giả trẻ ở cả Hong Kong và Đài Loan. Năm 1984, Ya Si nhận bằng tiến sĩ chuyên ngành Văn học So sánh tại đại học University of California, San Diego và trở về giảng dạy tại các đại học lớn ở quê nhà. Trong suốt sự nghiệp của mình, Ya Si nổi tiếng là nhà văn sâu nặng tình nghĩa nhất với Hong Kong và là nhà phê bình có tầm ảnh hưởng lớn nhất đến văn hoá đại chúng và văn học Hong Kong thời hiện đại. Ngoài ra, ông còn là dịch giả của nhiều bộ tiểu thuyết lớn thuộc trường phái Tân Tiểu thuyết Pháp, dòng văn học underground Mĩ, và có công đem các tên tuổi lớn của văn học Hiện thực Kì ảo Nam Mĩ như Gabriel García Márquez, Pablo Neruda và Jorge Luis Borges đến với độc giả Hong Kong từ cuối thập niên 60. Các tác phẩm của ông đã được dịch ra nhiều thứ tiếng bao gồm tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Ả Rập, Bồ Đào Nha, Đức, v.v. Trước khi mất, tâm nguyện của Ya Si là văn học Hong Kong sẽ nhận được sự quan tâm xứng đáng và các nhà văn Hong Kong được độc giả quê nhà và thế giới đón nhận nhiều hơn.

Xi Xi (Zhang Yan, Trương Ngạn) là một cá tính văn học đặc biệt của Hong Kong, vừa là tác giả bản xứ vừa thuộc thế hệ cuối cùng của những nhà văn Nam tiến. Xi Xi sinh năm 1938 tại Thượng Hải và cùng gia đình chuyển đến Hong Kong sinh sống khi 12 tuổi, từ khi học trung học đã bắt đầu viết văn trên các tạp chí điện ảnh và văn học thanh niên, sự nghiệp viết văn của bà kéo dài suốt đời kể cả khi đã trở thành giáo viên. Các tác phẩm của Xi Xi luôn lấy Hong Kong làm nhân vật chính hay phông nền cho những câu chuyện đời thường của người Hong Kong. Tiểu thuyết My City (我城, Thành ph ca tôi) xuất bản năm 1979 của bà được độc giả Hong Kong đón nhận nồng hậu và rất nhiều người Hong Kong sau đó đã sử dụng cụm từ 我城 để miêu tả Hong Kong. Ngoài ra, nhiều tác phẩm của Xi Xi lấy người phụ nữ Hong Kong và nhân sinh quan trẻ em làm chủ đạo, có khi bộc bạch mâu thuẫn giữa hạnh phúc cá nhân và kì vọng xã hội trong A Girl Like Me (1982), có khi mơ mộng sắc màu cổ tích trong Marvels of a Floating City, hay ngây ngô tò mò trong những bài thơ siêu thực. Có rất nhiều, rất nhiều giai thoại về chính Xi Xi như cái cách người phụ nữ ấy sau nửa thế kỉ vẫn cần mẫn kể chuyện cổ tích về Hong Kong trên chiếc bàn học nho nhỏ. Như nguồn gốc nghệ danh Xi Xi 西西 là hình ảnh hai chân cô bé mặc váy đứng trong ô vuông nhảy lò cò. Như tình bạn thân thiết giữa Xi Xi với các nhà văn, nhà văn hoá học ở Đài Loan và cả Mạc Ngôn – nhà văn đạt giải Nobel của Trung Quốc. Như cuộc tranh luận về việc “Đa số tác phẩm của Xi Xi được xuất bản ở Đài Loan thì có tính là văn học Hong Kong không?” Có rất nhiều, rất nhiều giai thoại về Xi Xi, nhưng không ai kể hay hơn đạo diễn Trần Quả qua bộ phim tài liệu My City (2015).

Ngoài ra, văn học Hong Kong thập niên 70-80 còn có sự góp mặt của các nhà văn đến từ Đại Lục và Đài Loan, có thể kể đến như nhà thơ nổi tiếng Đài Loan Yu Kwangchung, Zhong Ling, Shi Shuqing, hay tác giả gốc Đại Lục Lilian Lee với tiểu thuyết Farewell My Concubine (霸王别姬 Bá Vương bit cơ, 1985), nguyên tác của bộ phim cùng tên năm 1993 với vai diễn để đời của Trương Quốc Vinh.

 

Những tưởng những năm tháng tươi đẹp của văn học Hong Kong sẽ kéo dài mãi mãi, nhưng đến năm 1984, Thủ tướng Trung Quốc Triệu Tử Dương cùng Thủ tướng Anh Margaret Thatcher ký kết Tuyên bố Chung Trung-Anh, chính thức thông báo Anh Quốc sẽ trả lại Hong Kong cho Trung Quốc vào năm 1997. 1997 trở thành danh từ đồng nghĩa với tận thế. Xã hội Hong Kong rơi vào rối loạn, chứng khoán rớt giá, giá nhà đất sụt giảm nghiêm trọng, nhà nhà người người kéo nhau di cư sang Anh, Mĩ, Úc, Canada, ai không có điều kiện thì cố tìm cách chất dồn chất đống lương thực như thể chờ viễn cảnh hậu-tận thế. Văn đàn Hong Kong vì thế mà phập phồng lo sợ bóng ma 1997 lẩn khuất trong thành phố ma ám. Trong Losing the city (失城, Tht thành), Wong Bik-wan kể về cơn ác mộng di cư của một gia đình trung lưu từ Hong Kong sang Canada, chuyển xuống Mĩ, rồi lại vỡ mộng quay về Hong Kong. Câu chuyện mở đầu ngập tràn tử khí qua lời kể của nhân vật làm nghề tang lễ, đẩy lên cao trào bằng vụ án người chồng giết cả gia đình rồi điềm nhiên pha cà phê Blue Mountain nghe nhạc giao hưởng Bach, đan xen với bi kịch của viên cảnh sát kì cựu người Anh có đứa con trai buôn ma tuý. Dung Kai-cheung hoài cổ hơn, dùng sự ám ảnh của nhân vật chính với quá khứ hưng thịnh-suy tàn của con phố Wing Shing đã biến mất ở khu Sheung Wan cổ kính để tìm về lịch sử gia đình, di cư và sự thay đổi diện mạo đô thị trong The Rise and Fall of Wing Shing Street (永盛街興衰史, Hưng thnh và suy tàn ca ph Vĩnh Thnh).

Trước thềm Handover, Giáo sư Ackbar Abbas ra mắt cuốn sách Hong Kong: Culture and the Politics of Disappearance, bàn luận các yếu tố cấu thành danh tính Hong Kong như hoài niệm, sự lãng quên, kí ức tập thể, và “déjà disparu – chính trị của sự biến mất”. Các phương diện văn hoá-nghệ thuật Hong Kong được nghiên cứu bao gồm văn học, điện ảnh, âm nhạc, nhiếp ảnh và kiến trúc. Cuốn sách đem đến một góc nhìn mới về sự chuyển mình của văn hoá Hong Kong sau năm 1984 và nhanh chóng trở thành “Thánh Kinh” cho những ai mong muốn hiểu thêm về bản chất văn hoá đặc biệt của thành phố này.

 

Giai đon Hu-1997: Sau sự kiện trao trả về Trung Quốc ngày 1 tháng 7 năm 1997, người Hong Kong như chợt tỉnh giấc sau một cơn mơ dài. Đã không còn uy quyền của chính phủ thuộc địa hay niềm tự tôn Hong Kong, thay vào đó là những lo ngại về một tương lai bất ổn từ chính trị tới kinh tế và nghi hoặc với cam kết “50 năm không đổi”. Dịch SARS, những mâu thuẫn nội bộ và bất đồng quan điểm chính trị với Trung Quốc Đại Lục khiến xã hội Hong Kong ngày càng trở nên bất mãn. Cuộc Cách mạng Dù vàng năm 2014 đánh dấu sự sụp đổ của hệ danh tính Hong Kong-Trung Quốc, mở đầu cho một thế hệ ngày càng dựa vào danh tính Hong Kong độc nhất để phân biệt với người Trung Quốc trên phương diện chính trị-xã hội. Văn học Hậu-1997 cũng vì thế mà biến động vô cùng phong phú. Các diễn đàn trên mạng Internet khiến việc sáng tác văn học trở nên dễ dàng hơn, kết quả là sự xuất hiện của những sáng tác bằng tiếng Quảng Đông do những người khởi xướng học, nghiên cứu và viết về Hong Kong bằng tiếng mẹ đẻ. Năm 2014, đạo diễn Fruit Chan (Trần Quả) đã chuyển thể thành công cuốn tiểu thuyết mạng nổi tiếng trên diễn đàn Hong Kong Golden Forum của tác giả Mr Pizza mang tên That midnight, I got on a red public light bus that headed from Mong Kok to Tai Po (那夜 凌晨,我坐上了 旺角 開往 大埔的 VAN, Đêm đó, tôi đi tng Giác đến Đi B trên mt chiếc minibus màu đ) thành bộ phim The Midnight After vừa hài hước vừa kì quái, khám phá thái độ và cách phản ứng của đủ loại người già trẻ nam nữ Hong Kong trong hoàn cảnh toàn bộ nền văn minh Hong Kong biến mất qua một đêm. Bên cạnh đó, còn có sự xuất hiện của các trí thức trẻ tu nghiệp nước ngoài trở về Hong Kong cổ vũ cho phong trào dân chủ và phong trào sáng tác văn học Hong Kong bằng tiếng Anh, thông qua các tổ chức văn học độc lập như PEN Hong Kong, Cha: An Asian Literary Journal… Những cái tên nổi tiếng có thể kể đến luật sư nhân quyền Jason Y. Ng (Hong Kong State of Mind, No Country for Slow Men, Hong Kong Noir), nàng thơ Tammy Ho Lai-ming (Hula Hooping, Her Name Upon The Strand), Jason S. Polley, Lian Hee-wee, v.v. Có thể dễ dàng suy đoán, ít nhất từ nay đến 2046, văn học Hong Kong sẽ ngày càng trở nên phức tạp và thú vị hơn.

Nguồn: Alicia Oanh Le – Zzz Review số 5, 20/04/2019

Hits: 22

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *