Unions Network: Năm 1947, sau quá trình nghiên cứu kéo dài 4 năm, Ủy ban Tự do Báo chí Mỹ đã công bố bản báo cáo mang tên “Một nền Báo chí Tự do & Có Trách nhiệm”. Báo cáo khẳng định rằng vào thời điểm đó, quyền lực báo chí ở Mỹ đang tập trung trong tay một vài công ty, trong khi báo chí ngày càng có khả năng chi phối xã hội. Nhờ thế độc quyền, các công ty lớn đã kiểm soát dư luận vì lợi ích cá nhân; đồng thời lạm dụng các tin tức giật gân, sai sự thật để kiếm tiền. Khi phân tích những vấn đề vừa nêu, để tìm hướng xây dựng một nền báo chí tự do, công bằng và có trách nhiệm hơn, bản báo cáo đã góp phần khai sinh các chuẩn mực của nền báo chí phương Tây hiện đại.

Do nền báo chí Việt Nam đang gặp những vấn đề gần giống báo chí Mỹ cách đây 70 năm, chúng tôi xin dịch bản báo cáo và đăng thành từng phần, để làm tài liệu tham khảo cho những bạn quan tâm. Xin click vào ĐÂY để đọc những chương đã dịch, hoặc click vào ĐÂY để truy cập qua mục lục.

Để hỗ tham gia hoặc hỗ trợ tài chính cho các dự án dịch của Mạng lưới Nghiệp đoàn, xin liên hệ với chúng tôi qua hộp thư unionsnetwork@gmail.com hoặc fanpage.

*

Chương 4: Hoạt động báo chí trong thực tế

(tiếp theo kỳ trước)

Tự quản

Ban điều tra nhiều lần khẳng định niềm tin của mình rằng chính báo chí cần chấp nhận thực hiện trách nhiệm công cộng. Các nhóm nghề nghiệp có tổ chức được thành lập với mục đích này và các thành viên mắc lỗi sẽ bị những nhóm này kỷ luật. Giờ chúng ta sẽ kiểm tra các khả năng của tổ chức và kỷ luật tự giác tương tự trên báo chí.

 

Tự quản trong ngành điện ảnh

Trong số các cơ quan truyền thông đại chúng, ngành công nghiệp điện ảnh thể hiện sự tự quản một cách quy mô nhất. Trong đó, Hiệp hội Điện ảnh Hoa Kỳ[1] đã đưa ra một bộ quy tắc được mọi người tuân theo và thi hành trong thực tế.

Hiệp hội được thành lập và thông qua bộ quy tắc với mục đích tránh nguy cơ bị kiểm duyệt. Các quy định trong Bộ quy tắc được đưa ra bởi Ban điều hành Hiệp hội cho thấy mục đích của việc kiểm soát nội dung là để các bộ phim có thể được thông qua hội đồng kiểm duyệt và sự kiểm duyệt của các quốc gia khác, và những bộ phim được sản xuất không chống lại các nhóm gây áp lực.

Ban quản lý Bộ quy tắc chú ý đến việc loại bỏ các hình ảnh tình dục trong mối quan hệ ngoại tình, những hoạt động tình dục bất thường, sự phơi bày cơ thể vượt quá giới hạn nhất định, sự tục tĩu, các chi tiết về hành vi tội phạm, sự tàn bạo, v.v.; Ban điều hành đảm bảo đề cao các quy tắc đạo đức; tôn trọng pháp luật; và không công kích bất cứ quốc gia nào.

Cơ quan tự quản này có một số mục tiêu nhất định. Cơ quan này xem xét những điều cấm kỵ tối thiểu để các bộ phim vẫn được phép lưu hành mà không bị kiểm duyệt hay bị tẩy chay. Kết quả cho thấy sự tính toán của họ khá chính xác.

Phía sau các lệnh phạt của bộ quy tắc là sự tồn tại của ban kiểm duyệt và các nhóm áp lực của tiểu bang và thành phố, cộng với khoản phạt 25.000 đô la đối với các nhà sản xuất và nhà phân phối vi phạm. Nhưng dựa trên những gì quan sát được trong quá khứ, cơ sở chính của các lệnh phạt đến từ sự ảnh hưởng kinh tế đối với các rạp chiếu phim của các nhà sản xuất – các nhà phân phối chính. Vì các rạp chiếu phim liên doanh sẽ không trình chiếu trừ khi họ được sự chấp thuận của Ban Quản lý Bộ quy tắc, hầu như tất cả các nhà sản xuất độc lập đều chuyển hình ảnh của họ qua Ban Quản lý đánh giá. Vụ kiện chống độc quyền đang diễn ra có thể thay đổi sự kiểm soát này đối với các rạp chiếu phim và do đó làm suy yếu kế hoạch tự quản của ngành.

Trong những năm 1920, các bộ phim phản ánh sự mơ hồ về các tiêu chuẩn đạo đức đương thời, cũng như trải qua nỗi đau của một ngành nghệ thuật chinh phục được khán giả nhanh hơn nhiều so với tốc độ tự điều chỉnh trách nhiệm với công chúng. Đến năm 1934, dưới áp lực của những lời chỉ trích, Hiệp hội trở thành một cơ quan quản lý. Cơ quan này ngăn chặn những hình ảnh nhạy cảm và thô lỗ vốn là mục tiêu tẩy chay của khán giả và lần đầu tiên đưa ngành công nghiệp này đứng vững trước công chúng.

Những mục tiêu kể trên cho tới nay vẫn là mục tiêu của Bộ Quy tắc Sản xuất, không hơn không kém. Will Hays và đại đa số các nhà sản xuất cho rằng Hollywood chỉ đơn giản là một ngành công nghiệp giải trí, tiếp thị các sản phẩm của mình theo nguyên tắc mang lại cho công chúng những gì họ muốn, chỉ chịu sự kiểm duyệt của tội xúc phạm danh dự, thiếu đứng đắn và sự xúc phạm các nhóm khách hàng tiềm năng quan trọng. Do đó, bộ quy tắc này là vô ích vì hiện tại nó được thành lập để thiết lập một trách nhiệm nhóm cao hơn – trách nhiệm để chiếu hình ảnh của các bộ phận cấu thành của xã hội với nhau, với cách sống, lý tưởng, khuyết điểm và triển vọng đặc biệt của họ. Bộ quy tắc đặt ra tiêu chuẩn có thể được chấp nhận, thay vì các tiêu chuẩn dựa trên cơ sở trách nhiệm; và các tiêu chuẩn đó chỉ dừng ở mức tối thiểu, không hướng tới mục tiêu đầy đủ hoặc các mục tiêu lý tưởng.

Việc tự quản một cách có tổ chức trong ngành công nghiệp điện ảnh đã đạt được mục tiêu thành lập của tổ chức. Nhưng những mục tiêu đó rất hạn chế và không có nhiều ý nghĩa trong việc biến điện ảnh thành phương tiện truyền thông đại chúng mà nó có thể trở thành và nên trở thành. Hơn nữa, sự thành công của việc tự quản trong ngành công nghiệp điện ảnh là nhờ các điều kiện ngành này có được mà không có được ở những ngành khác. Những điều kiện cần có đó là các Ban Kiểm duyệt, các nhóm áp lực chính trị và sự tập trung quyền lực kinh tế trong một vài công ty lớn. Sự quan trọng của những điều kiện đặc biệt này được thể hiện bởi sự thất bại của việc tự quản trong các chi nhánh khác của doanh nghiệp truyền thông.

 

Tự quản trong ngành phát thanh

Vấn đề trong ngành phát thanh hoàn toàn khác với điện ảnh. Các đài phát thanh được Ủy ban Truyền thông Liên bang (Federal Communications Commission – FCC) cấp phép với điều kiện phải hoạt động vì lợi ích, sự thuận tiện và thiết yếu cho công chúng. Đồng thời, Đạo luật Truyền thông Liên bang (Federal Communications Act) cấm FCC kiểm duyệt các chương trình phát thanh. FCC sớm hoạt động trong lĩnh vực này, và các cơ quan quản lý nhà nước không hề có mặt trong ngành phát thanh như họ đã làm trong ngành điện ảnh.

Hiệp hội Phát sóng Quốc gia (National Association of Broadcasters – NAB) chưa bao giờ có sự góp  mặt của tất cả các đài. Hiệp hội này không có cơ quan kiểm duyệt các chương trình. Dù nó có mộ bộ quy tắc bằng văn bản, hình phạt duy nhất đi kèm là cảnh cáo, và khai trừ tư cách thành viên nếu tái phạm. Do tư cách thành viên không có đặc quyền xác định và chỉ là một hành động tự nguyện của những cư dân mẫu mực trong nghề, các đài hoặc mạng lưới không muốn tuân theo bộ quy tắc của Hiệp hội này có thể không tham gia NAB. Vì doanh thu và sức mạnh đạo đức của NBA lệ thuộc vào các thành viên, cho đến giờ, NBA vẫn chưa nhiệt tình thực thi bộ quy tắc của mình. Theo hồ sơ ghi nhận, dường như không có trường hợp vi phạm nào được xử lý.

Các hoạt động chính của NAB là dạng hoạt động mà các hoạt động hiệp hội thương mại thường tham gia vào. Hiệp hội này đã tìm cách bảo vệ các lợi ích của các đài và mạng lưới trong việc đàm phán với Hiệp hội Nhà Soạn nhạc, Tác giả và Nhà Xuất bản Hoa Kỳ, với các công đoàn lao động, với FCC và với Quốc hội. Đôi khi, NAB phải vật lộn với một số vấn đề quan trọng của đài phát thanh như một phương tiện truyền thông đại chúng, ví dụ, sự tiếp cận dành cho các nhóm khán giả khác nhau, mối liên hệ giữa quảng cáo với tin tức và thảo luận, quyền phản hồi với các chỉ trích cá nhân, v.v. Tuy nhiên, NAB đã không xử lý được những vấn đề này.

Ngành phát thanh không yêu cầu cần có một bộ quy tắc để bảo vệ chúng khỏi sự kiểm duyệt và tẩy chay. Đạo luật Truyền thông cho đến nay đã bảo vệ ngành khỏi sự kiểm duyệt. Các nhà quảng cáo đã bảo vệ ngành khỏi bị tẩy chay. Các nhà quảng cáo thực hiện một công việc hiệu quả hơn bất kỳ bộ quy tắc nào có thể làm, vì một nhà quảng cáo sẽ không mạo hiểm tạo nên kình địch thông qua chương trình phát thanh của mình. Một nhà sản xuất xà phòng sẽ không cho phép bất cứ điều gì xúc phạm đến người Trung Quốc trong một chương trình mà anh ta tài trợ –  xà phòng cho các tiệm giặt ủi. Tính hiệu quả của Bộ quy tắc ngành phát thanh không đến từ những tuyên bố vô thưởng vô phạt của NAB, mà đến từ sự điều tiết về nội dung của các nhà quảng cáo.

Mong muốn tiếp cận số lượng khán giả lớn nhất có thể và tránh xúc phạm bất kỳ khách hàng tiềm năng nào dù nhỏ nhất đã tạo ra ngành phát thanh chúng ta có ngày nay.

Cho tới vài tháng trước, đài phát thanh không phải đối mặt với bất cứ mối đe dọa nào từ FCC về các tiêu chuẩn hoạt động vì lợi ích công chúng. Hiện tại, FCC cho biết, trừ khi các nhà phát sóng tự đối phó với chủ nghĩa thương mại quá mức, chính phủ có thể buộc phải hành động. Cho đến nay, điều này không tạo nên nhiều thách thức cho NBA, ngoại trừ những phẫn nộ về quyền tự do ngôn luận và những gợi ý xây dựng một bộ quy tắc mới, tất nhiên, đó không phải trọng tâm của vấn đề.

 

Tự quản trong ngành báo in

Hiệp hội các Nhà Xuất bản Báo chí Hoa Kỳ (American Newspaper Publishers Association) là đại diện cho các chủ sở hữu báo in. Họ là những người đàn ông quyền lực. Nhóm này, ít nhất như các ghi chép công khai cho thấy, không hề quan tâm đến những câu hỏi có ảnh hưởng đến vai trò của tự do báo chí trong một xã hội tự do. Thay vào đó, họ gần như chỉ tập trung xử lý các vấn đề kinh doanh của ngành.

Hội Biên tập viên Báo chí Mỹ (American Society of Newspaper Editors) được thành lập chủ yếu cho nhân viên. Thành viên của nó bao gồm biên tập viên của các tờ nhật báo thành phố lớn, và một số biên tập viên thành phố và thị trấn nhỏ, bao gồm cả chủ sở hữu khi chủ sở hữu kiêm biên tập viên chính. Ngay trong giai đoạn đầu thành lập, trong một cuộc họp Hiệp hội đã soạn thảo và thông qua một bộ quy tắc đạo đức, nếu được tuân thủ, sẽ khiến các tờ báo chịu trách nhiệm về tin tức và các cuộc thảo luận. Phương tiện thực thi duy nhất là trục xuất khỏi Hội. Ngay sau khi bộ quy tắc được thông qua, đã có báo cáo về một trường hợp sai phạm của một thành viên. Sau một thời gian dài Hiệp hội cân nhắc, vụ án đã bị hủy bỏ. Điều này cho thấy chức năng của bộ quy tắc.

Nghiệp đoàn Báo chí Mỹ (American Newspaper Guild) được cấu thành từ các phóng viên và phó tổng biên tập, trong một số trường hợp, cùng với những người lao động trong lĩnh vực kỹ thuật, kinh doanh và văn thư của các tòa báo. Khi khởi đầu vào những năm 1930, nghiệp đoàn này là một nhóm tách biệt của những phóng viên hành nghề viết báo, với hy vọng rằng họ sẽ trở thành một cộng đồng chuyên nghiệp, hiến dâng cho việc nâng cao các chuẩn mực của nghề. Một số yếu tố, bao gồm việc các nhà xuất bản phản đối Nghiệp đoàn, đã dẫn đến việc Nghiệp đoàn liên kết với Hội nghị các Tổ chức Nghề nghiệp (Congress of Industrial Organizations – CIO). Kể từ đó, Nghiệp đoàn đã tập trung vào hoạt động công đoàn, vận động cho mức lương, số giờ và điều kiện làm việc tốt hơn. Tất nhiên, đây là những bước đầu hữu ích để xây dựng năng lực chuyên môn và tính độc lập.

Trong một số hợp đồng của Nghiệp đoàn, có một số điều khoản bảo vệ tác giả như chống lại việc in bất cứ thứ điều dưới tên tác giả mà không được tác giả chấp thuận. Nhưng việc Nghiệp đoàn tự nguyện từ bỏ các mục tiêu chuyên nghiệp được dự tính lúc ban đầu đã dẫn đến sự xuất hiện một tuyên bố chính thức, rằng Nghiệp đoàn “không tranh chấp [quyền của các chủ tòa báo trong việc biến báo chí thành phương tiện thể hiện định kiến của mình], cho dù việc các tờ báo lớn và các hiệp hội báo chí thường xuyên xuyên tạc và đàn áp tin tức đã khiến chúng khó có thể trở thành phương thuốc cho một thị trường ý tưởng thật sự tự do, trong khi một xã hội dân chủ cần chúng trở thành như thế.

Nghiệp đoàn công nhận rằng các chủ sở hữu báo chí có quyền được bất cẩn, định kiến, thậm chí sai lầm; và điều này dẫn đến việc độc giả chỉ có quyền hoặc không đọc, hoặc đọc và được hạ giá.”[2]

 

Sách và tạp chí

Lĩnh vực sách và tạp chí không có hệ thống tự quản lý. Tuy nhiên, các tiêu chuẩn chuyên nghiệp ngành này không hề ở mức độ thấp hơn, thậm chí có lẽ là cao hơn[3] trong các nhánh khác của ngành công nghiệp truyền thông. Việc các chi nhánh này chuyên nghiệp ngang bằng hoặc nhiều hơn các ngành khác cho thấy chúng ta phải tìm đến các phương pháp phát triển lý tưởng và thái độ chuyên nghiệp khác so với phương pháp xây dựng tổ chức, đưa ra bộ quy tắc và quy trình kỷ luật.

 

Chuyên nghiệp hóa

Một hội chuyên nghiệp (a profession) là một nhóm được tổ chức để thực hiện một dịch vụ công cộng. Trong những dịch vụ công này, người hành nghề thường giữ mối quan hệ mật với người nhận dịch vụ – dưới tư cách một cố vấn, người hướng dẫn, và người trợ giúp chuyên môn – điều đó khiến cho quy tắc ‘caveat emptor’ (người mua hàng tự chịu trách nhiệm kiểm định chất lượng sản phẩm trước khi quyết định mua hàng – ND) đặc biệt không phù hợp. Và họ có một tinh thần ‘esprit de corps’ (niềm kiêu hãnh, tự hào khi là thành viên của một nhóm – ND) về việc đào tạo chung, và việc tập trung vào chuyện duy trì các chuẩn mực. Về lý thuyết, ít nhất, nhóm tìm cách thực hiện dịch vụ của mình và duy trì các chuẩn mực của dịch vụ, mặc dù họ có thể kiếm được nhiều tiền hơn nếu đe dọa hoặc hy sinh mối quan hệ mật và chất lượng công việc. Bộ quy tắc một nghề hợp pháp hầu như đều có tính pháp lý; trừ khi các tòa án quy định rằng Đoàn Luật sư phạm sai lầm trong một trường hợp nhất định, một người bị kết tội vi phạm quy tắc đạo đức nghề luật sư sẽ không được phép tiếp tục hành nghề để kiếm sống. Nghề y có sự kiểm soát gần như tương tự đối với các thành viên của mình.

Không có dịch vụ công cộng nào quan trọng hơn truyền thông. Nhưng yếu tố trách nhiệm cá nhân, vốn là bản chất của các ngành nghề như luật và y, còn thiếu sót trong truyền thông. Ở đây, các tác giả làm việc cho chủ tòa soạn, và chủ tòa soạn chứ không phải tác giả chịu trách nhiệm.[4] Trong các phương tiện thông tin đại chúng, trừ các bài viết cao cấp, tên tuổi các tác phẩm của tác giả cá nhân có xu hướng được hợp nhất trong một kết quả chung, chẳng hạn như trên báo, tên tuổi tác phẩm được chia cho phóng viên, và bộ phận hiệu đính. Do đó, việc đưa ra một tổ chức cho các tác giả một cách chuyên nghiệp và hiệu quả là gần như không thể.

Mặc dù lĩnh vực này không tìm kiếm những tổ chức chuyên môn, nhưng nó vẫn có thể có nhu cầu tìm kiếm lý tưởng và thái độ chuyên nghiệp. Những lý tưởng và thái độ trong các ngành luật, y học và thần học được nuôi dưỡng bởi trường học chuyên ngành. Những trường này đóng vai trò là trung tâm phê bình độc lập. Các trường càng giỏi thì càng độc lập và càng có tư duy phản biện mạnh mẽ. Các trường báo chí chưa nhận nghĩa vụ này. Với một vài ngoại lệ, họ không đạt được tiêu chuẩn chuyên nghiệp. Hầu hết các trường tập trung hết mức cho đào tạo nghề, và thậm chí trong việc đó, tính hiệu quả không cao như mong đợi. Hình thức đào tạo mà một nhà báo cần nhất hiện nay không phải là đào tạo về các thủ thuật và máy móc của thương mại. Nếu một người sẽ trở thành một người có năng lực đánh giá các vấn đề của công chúng, người đó cần một nền giáo dục rộng rãi và tự do nhất. Phương pháp giảng dạy của các trường báo chí nói chung vẫn chưa thành công trong việc giúp sinh viên của họ có được nền giáo dục này.

Trách nhiệm cá nhân của chủ sở hữu hoặc người quản lý của bất kỳ đơn vị báo chí nào là không thể tránh khỏi và rất lớn. Trách nhiệm thuộc về lương tâm của người đó và vì lợi ích chung. Luật sư và bác sĩ có trách nhiệm tương tự, lương tâm của họ đã được thể chế hóa ở một mức độ nào đó. Cũng như vậy, lương tâm tạo nên một nghề. Những khó khăn trong việc tổ chức báo chí thành một hội chuyên nghiệp có lẽ không thể vượt qua. Nhưng, cần nhớ rằng trách nhiệm cá nhân không thể bỏ qua, xã hội nên thấy mọi nỗ lực nhằm phát triển trách nhiệm được xã hội hóa hoặc thể chế hóa hơn nữa.

(còn tiếp)

 

Ghi chú:

[1]Tên gốc là “Motion Picture Producers and Distributors of America”.

[2] Có những lực lượng hưởng lợi từ việc giảm quyền tự kỷ luật xuống mức tối thiểu, chẳng hạn như Nhà Trắng và các đoàn thể của Phòng Trưng bày Báo chí Định kỳ của Quốc hội Mỹ (Congress Press Gallery). Các tổ chức này yêu cầu tư cách thành viên, và loại bỏ bất kỳ thành viên nào vi phạm các quy tắc đơn giản của họ, bao gồm những thứ như xuất bản các nhận xét “ngoài luồng”. Hành động kỷ luật này tương đương với việc tống thành viên đó ra khỏi các hội nghị và phòng trưng bày báo chí của Nhà Trắng, một điều quan trọng không thể thiếu đối với bất kỳ phóng viên nào của Washington.

[3]Vai trò của phê bình sách, điều trí tuệ và được nhiều người tích cực thực hiện hơn so với phát thanh và truyền hình, đóng vai trò rất quan trọng.

[4] Điều này không đúng với việc viết sách và chỉ đúng với một phần, dù ngày càng tăng, đối với các tạp chí.


Cuốn sách này được CTV Mạng lưới Nghiệp đoàn dịch từ bản tiếng Anh của Thư viện Đại học Osmania, đăng trên Internet Archieve. Xin ghi rõ nguồn Mạng lưới Nghiệp đoàn để tôn trọng công sức của người dịch.

Để đọc những chương đã dịch, xin click vào ĐÂY.

Để truy cập qua mục lục, xin click vào ĐÂY.

Hits: 23

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *