Unions Network: Hiện nay, không ít lực lượng chính trị ở Việt Nam đang xem lịch sử như một định mệnh mà con người phải chấp nhận. Chẳng hạn, họ cho rằng “lịch sử là cuộc đấu tranh giữa các giai cấp” để tiến đến xã hội cộng sản; hoặc lịch sử là cuộc đấu tranh giữa độc tài với tự do để tiến đến “đoạn kết của lịch sử”, khi dân chủ ngự trị vĩnh viễn trên toàn thế giới. Để thấy những hạn chế mà cách nhìn này đem lại cho tự do và lý trí, và để có thêm một cách nhìn khác, mời các bạn đọc một số chương trong cuốn “Xã hội mở và những kẻ thù của nó” của Karl Popper, do tiến sĩ Nguyễn Quang A dịch vào năm 2004.

Đọc các chương đã đăng tại ĐÂY.

Download bản PDF: Tập 1 | Tập 2


Chương 1: Chủ nghĩa lịch sử và huyền thoại về vận mệnh

Ủng hộ Xã hội Mở (khoảng 430 trước công nguyên):

“Mặc dù chỉ vài người có thể khởi tạo một chính sách, tất cả chúng ta đều có năng lực đánh giá nó”.

– Pericles xứ Athens

Chống Xã hội Mở (khoảng 80 năm sau):

“Nguyên lí lớn nhất của mọi nguyên lí là chẳng ai, bất kể đàn ông hay đàn bà, tồn tại mà không có một thủ lĩnh. Trí óc của bất kể ai cũng không được làm quen để cho phép anh ta làm nói chung bất kể việc gì dựa vào sáng kiến riêng của mình; không vì nhiệt huyết, cũng chẳng thậm chí một cách khôi hài. Nhưng trong chiến tranh và giữa thời bình – anh ta sẽ hướng mắt của mình lên thủ lĩnh và theo ông ta một cách trung thành. Thí dụ, anh ta phải dậy, di chuyển, hay rửa ráy, hay ăn cơm… chỉ nếu anh ta được bảo làm vậy. Nói tóm lại, anh ta nên thuyết phục tâm trí của mình, bằng thói quen lâu dài, chẳng bao giờ mơ ước hành động một cách độc lập, và trở nên hoàn toàn bất lực về việc đó”.

– Plato xứ Athens


Được tin một cách rộng rãi rằng một thái độ thật sự khoa học hay triết lí tới chính trị học, và một sự hiểu biết sâu hơn về đời sống xã hội nói chung, phải dựa vào sự trầm ngâm và diễn giải về lịch sử loài người. Trong khi người dân bình thường coi sự sắp đặt đời sống của mình và tầm quan trọng của những kinh nghiệm cá nhân và những vật lộn lặt vặt của anh ta là dĩ nhiên, được cho là nhà khoa học xã hội hay nhà triết học phải khảo sát các sự vật từ một mặt bằng cao hơn. Ông ta nhìn cá nhân như một con tốt, như một công cụ không quan trọng mấy trong sự phát triển chung của loài người. Và ông ta thấy rằng các diễn viên thực sự quan trọng trên Sân khấu Lịch sử hoặc là các Dân tộc Vĩ đại hoặc các Lãnh tụ Vĩ đại, hay có lẽ các Giai cấp Vĩ đại, hay các Tư tưởng Vĩ đại. Dẫu cho điều này có thế nào, ông ta sẽ cố gắng hiểu ý nghĩa của cuộc chơi diễn ra trên Sân khấu Lịch sử; ông ta sẽ cố gắng hiểu các qui luật phát triển lịch sử. Nếu ông ta thành công làm việc này, tất nhiên, ông ta sẽ có khả năng tiên đoán các diễn tiến tương lai. Khi đó ông ta có thể đặt chính trị học trên một cơ sở vững chắc, và cho chúng ta lời khuyên thực tiễn bằng cách nói cho chúng ta các hành động chính trị nào chắc sẽ thành công hay chắc sẽ thất bại.

Đây là một mô tả ngắn gọn của một thái độ mà tôi gọi là chủ nghĩa lịch sử. Nó là một ý tưởng cổ xưa, hay đúng hơn, là một tập liên kết lỏng lẻo của các ý tưởng, những cái, đáng tiếc, đã trở thành một phần của bầu không khí tinh thần của chúng ta đến mức chúng thường được coi là dĩ nhiên, và hầu như chẳng bao giờ bị nghi ngờ.

Tôi đã thử ở nơi khác để chứng tỏ rằng cách tiếp cận lịch sử chủ nghĩa tới các khoa học xã hội cho các kết quả nghèo nàn. Tôi cũng đã cố gắng phác hoạ một phương pháp mà, tôi tin, sẽ mang lại những kết quả tốt hơn.

Nhưng nếu chủ nghĩa lịch sử là một phương pháp có thiếu sót, tạo ra các kết quả vô dụng, thì có thể hữu ích để xem nó có nguồn gốc thế nào, và nó đã thành công ra sao để cố thủ thành công đến vậy. Một phác thảo lịch sử đảm nhiệm mục đích này có thể, đồng thời, dùng để phân tích tính đa dạng của các ý tưởng đã dần dần tích tụ lại xung quanh học thuyết lịch sử chủ nghĩa trung tâm- học thuyết cho rằng lịch sử được kiểm soát bởi các qui luật lịch sử hay tiến hoá đặc thù, mà sự khám phá ra chúng có thể cho phép chúng ta tiên tri vận mệnh của con người.

Chủ nghĩa lịch sử, mà đến đây tôi đã đặc trưng chỉ theo cách khá trừu tượng, có thể được minh hoạ khéo bởi một trong những hình thức đơn giản nhất và cổ nhất của nó, bởi thuyết về dân tộc được lựa chọn. Thuyết này là một trong các nỗ lực để làm cho lịch sử có thể hiểu được bằng một diễn giải theo thuyết hữu thần, tức là, bằng công nhận Thượng đế như tác giả của tấn kịch được diễn trên Sân khấu Lịch sử. Cụ thể hơn, lí thuyết về dân tộc được chọn giả thiết là Thượng đế đã chọn một dân tộc để hoạt động như công cụ được chọn của ý chí của Ngài, và rằng dân tộc này sẽ thừa kế trái đất.

Trong thuyết này, qui luật về sự phát triển lịch sử do Ý chí của Thượng đế đề ra. Đây là khác biệt đặc thù phân biệt hình thức hữu thần với các hình thức khác của chủ nghĩa lịch sử. Chủ nghĩa lịch sử theo tự nhiên, thí dụ, có thể coi qui luật phát triển như một qui luật tự nhiên; chủ nghĩa lịch sử tinh thần coi qui luật phát triển như một qui luật phát triển tinh thần; chủ nghĩa lịch sử kinh tế coi nó như một qui luật phát triển kinh tế. Chủ nghĩa lịch sử hữu thần chia sẻ với các hình thức khác của học thuyết rằng có các qui luật lịch sử đặc thù, những cái có thể được khám phá ra, và dựa vào chúng có thể đặt cơ sở cho các tiên đoán tương lai của nhân loại. Không nghi ngờ gì là thuyết về dân tộc được chọn phát sinh từ hình thức bộ lạc của đời sống xã hội. Chủ nghĩa bộ lạc, tức là sự nhấn mạnh về tầm quan trọng tối cao của bộ lạc, mà không có nó thì cá nhân chẳng là gì cả, là một yếu tố mà chúng ta sẽ thấy trong nhiều hình thức của chủ nghĩa lịch sử. Các hình thức khác không còn mang tính bộ lạc vẫn có thể giữ lại một yếu tố của chủ nghĩa tập thể 1; chúng vẫn có thể nhấn mạnh tầm quan trọng của nhóm hay tập thể nào đó –thí dụ, một giai cấp- mà không có nó thì cá nhân chẳng là gì cả. Một khía cạnh khác của thuyết về dân tộc được chọn là sự xa vời về cái nó đề nghị như là kết thúc của lịch sử. Vì mặc dù nó có thể mô tả sự kết thúc này với mức độ xác định nào đó, chúng ta phải đi rất lâu trước khi đạt đến nó. Và con đường không chỉ dài, mà quanh co, đi lên và xuống, rẽ phải và trái. Do đó, nó sẽ có khả năng gây ra mọi sự kiện lịch sử có thể hình dung ra được trong khuôn khổ sơ đồ diễn giải. Chẳng kinh nghiệm có thể hình dung ra nào có thể bác bỏ nó.2 Nhưng với những người tin vào nó, nó cho sự chắc chắn liên quan đến kết quả của lịch sử nhân loại.

Một phê phán đối với diễn giải hữu thần của lịch sử sẽ được thử ở chương cuối của cuốn sách này, nơi cũng sẽ chỉ ra rằng một số nhà tư tưởng Thiên chúa giáo vĩ đại nhất đã bác bỏ thuyết này như sự sùng bái thần tượng. Một tấn công vào dạng này của chủ nghĩa lịch sử vì vậy không được diễn giải như một sự công kích tôn giáo. Trong chương này, thuyết về dân tộc được chọn được dùng chỉ như một minh hoạ. Giá trị tự thân của nó có thể thấy từ sự thực rằng các đặc trưng3 chủ yếu của nó được hai phiên bản hiện đại quan trọng nhất của chủ nghĩa lịch sử chia sẻ, mà phân tích hai dạng đó sẽ là phần chính của cuốn sách này – một mặt là triết lí lịch sử của chủ nghĩa chủng tộc hay chủ nghĩa phát xít (phía hữu) và mặt khác là triết lí lịch sử của Marx (phía tả). Chủ nghĩa chủng tộc thay dân tộc được chọn bằng chủng tộc được chọn (sự lựa chọn của Gobineau), được chọn ra như công cụ của vận mệnh, cuối cùng để thừa kế trái đất. Triết lí lịch sử của Marx thay nó bằng giai cấp được chọn, công cụ để tạo ra một xã hội phi giai cấp, và đồng thời, là giai cấp được chỉ định thừa kế trái đất. Cả hai lí thuyết đặt cơ sở cho các dự báo lịch sử của mình vào một diễn giải lịch sử, diễn giải dẫn đến khám phá ra qui luật phát triển của nó. Trong trường hợp chủ nghĩa chủng tộc, điều này được coi như một loại qui luật tự nhiên; tính ưu việt sinh học của dòng máu của chủng tộc được lựa chọn giải thích diễn tiến của lịch sử, quá khứ, hiện tại, và tương lai; chẳng gì khác ngoài cuộc đấu tranh của các chủng tộc vì quyền làm chủ. Trong trường hợp triết lí lịch sử của Marx, qui luật là qui luật kinh tế; tất cả lịch sử phải được diễn giải như cuộc đấu tranh của các giai cấp vì uy quyền kinh tế.

Tính chất lịch sử chủ nghĩa của hai phong trào này làm cho nghiên cứu của chúng ta mang tính thời sự. Chúng ta sẽ quay lại chúng trong những phần sau của cuốn sách này. Mỗi trong hai thuyết này truy nguyên trực tiếp tới triết học của Hegel. Vì vậy, chúng ta cũng phải đề cập đến triết học đó nữa. Và vì Hegel4 chủ yếu theo các triết gia cổ xư nào đó, sẽ cần thiết để thảo luận các lí thuyết của Heraclitus, Plato và Aristotle, trước khi quay sang các hình thức hiện đại hơn của chủ nghĩa lịch sử.

(Còn tiếp. Lấy link Download ở đầu trang.)

Hits: 22

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *