Unions Network: Phải làm gì để thu thập, sắp xếp và phân tích các bằng chứng, nhằm xác định sự thật và thủ phạm trong các vụ án hình sự? Cảnh sát có quyền và trách nhiệm gì trong từng giai đoạn của cuộc điều tra? Cảnh sát và Viện Kiểm sát phải tuân thủ những quy trình, nguyên tắc nào để không truy tố sai, không xâm phạm các quyền của nhân chứng và nghi phạm?

Để trả lời những câu hỏi này, mời các bạn đọc một giáo trình môn Điều tra Hình sự của Canada, mang tên “Giới thiệu môn Điều tra Hình sự: Quy trình, Thực hành & Tư duy”. Sách do thanh tra Rod Gehl và tiến sĩ Darryl Plecas biên soạn, do Viện Tư pháp British Columbia xuất bản năm 2016, và được chị Nguyễn Trang Nhung (CTV Mạng lưới Nghiệp đoàn) chuyển ngữ. Chúng tôi tin rằng giáo trình này sẽ giúp ích cho rất nhiều người Việt Nam – từ các phóng viên điều tra, luật gia, cho đến những nhà hoạt động muốn giám sát cơ quan thực thi pháp luật.

Xin click vào ĐÂY để đọc những chương đã dịch, hoặc vào ĐÂY để truy cập qua mục lục.

*

Chương 3: Những gì bạn cần biết về chứng cứ (tiếp)

 

Chủ đề 9: Chứng cứ nhân chứng (Witness Evidence)

Chứng cứ nhân chứng là chứng cứ thu được từ bất kỳ người nào có thể cung cấp cho tòa án thông tin sẽ trợ giúp trong việc phán xét các cáo buộc đang được xét xử. Các nhân chứng không chỉ bao gồm những người được phát hiện là nạn nhân của một tội phạm hoặc những người quan sát tại hiện trường của sự kiện hình sự. Họ cũng có thể là người có khả năng thông báo cho tòa án về các sự kiện dẫn đến tội phạm hoặc các hoạt động diễn ra sau tội phạm.

Các hoạt động sau tội phạm này không chỉ liên quan đến các hoạt động của nghi phạm, mà còn bao gồm toàn bộ phạm vi hoạt động cần thiết để điều tra tội phạm. Do đó, mỗi viên chức cảnh sát tham gia vào cuộc điều tra, và mỗi người liên quan đến việc xử lý, kiểm tra và phân tích chứng cứ sẽ được trình bày trước tòa, đều là một nhân chứng tiềm năng.

Các vấn đề liên quan đến việc thu thập chứng cứ nhân chứng sẽ được thảo luận chi tiết hơn trong Chương 7 về Quản lý nhân chứng.

 

Chủ đề 10: Chứng cứ tin đồn (Hearsay Evidence)

Chứng cứ tin đồn, như tên của nó, là chứng cứ mà một nhân chứng đã nghe được như một sự truyền đạt từ một bên khác. Ngoài truyền đạt bằng lời nói, các diễn giải pháp lý về ý nghĩa của chứng cứ tin đồn cũng bao gồm các loại giao tiếp khác giữa người với người, chẳng hạn như tuyên bố bằng văn bản hoặc thậm chí là cử chỉ nhằm truyền tải một thông điệp. Theo định nghĩa của John Sopinka trong cuốn sách Luật Chứng cứ (The Law of Evidence), tin đồn là:

“Những tuyên bố bằng văn bản, lời nói hoặc hành vi giao tiếp được thực hiện bởi những người nằm ngoài việc khai báo trong các thủ tục tố tụng, thì không được chấp nhận, nếu những tuyên bố hoặc hành vi đó được tuyên thệ làm bằng chứng về sự thật chứa trong chúng, hoặc bằng chứng về các khẳng định ngầm ẩn trong chúng”. (Sopinka, 1999, trang 173)

Vì nhiều lý do, chứng cứ tin đồn thường không được chấp nhận tại phiên tòa xét xử một người bị buộc tội; tuy nhiên, có những trường hợp ngoại lệ trong đó tòa án sẽ xem xét chấp nhận chứng cứ tin đồn (Thompson, 2013). Những lý do khiến tin đồn không được tòa án chấp nhận công khai bao gồm:

  • Tòa án thường áp dụng quy tắc chứng cứ tốt nhất cho chứng cứ được đưa ra, và chứng cứ tốt nhất sẽ đến từ người cung cấp bản tường trình gốc về các sự kiện;
  • Người đầu tiên thực hiện hành vi giao tiếp mà sau đó tạo thành tin đồn, không có mặt tại tòa để bị buộc tuyên thệ và để được kiểm tra chéo bởi người bào chữa;
  • Khi xem xét chứng cứ, tòa án không có cơ hội nghe người truyền đạt đầu tiên, và đánh giá thái độ của họ để đo lường tính tin cậy của họ; và
  • Tòa án công nhận rằng hành vi giao tiếp đã được nghe và đang được lặp lại là thứ dễ bị diễn giải. Nói lại những gì đã nghe có thể làm hỏng nội dung của thông điệp.

Tòa án sẽ xem xét chấp nhận chứng cứ tin đồn như một ngoại lệ đối với quy tắc tin đồn trong các trường hợp:

  • Có một tuyên bố của người sắp chết (Dying Declaration)
  • Một nhân chứng đã nghe thấy lời nói tự phát của nạn nhân
  • Nhân chứng đang làm chứng cho lời nói của một nhân chứng trẻ em không có đủ năng lực hành vi

Tuyên bố của người sắp chết (Dying Declarations)

Các ngoại lệ cho quy tắc tin đồn bao gồm tuyên bố khi sắp chết của một nạn nhân của tội phạm giết người. Loại tuyên bố này được cho phép vì theo truyền thống, người ta tin rằng một người đang đối mặt với cái chết sắp xảy ra sẽ không nói dối. Thẩm phán Eyre trong vụ R kiện Woodcock ở Anh năm 1789 đã nêu:

“Nguyên tắc chung theo đó loại chứng cứ này được thừa nhận là, chúng là những tuyên bố được đưa ra trong đường cùng, khi một bên đang cận kề cái chết và khi mọi hy vọng của thế giới này biến mất: khi mọi động cơ để nói dối bị buộc im lặng, và tâm trí được thúc đẩy bởi những cân nhắc mạnh mẽ nhất để nói lên sự thật; tình hình rất nghiêm trọng và khủng khiếp, được pháp luật coi là tạo ra một nghĩa vụ tương đương với nghĩa vụ được áp đặt bởi một lời thề quả quyết được đưa ra trong một tòa án công bằng”. (R kiện Woodcock, 1789)

Theo các quy tắc của Luật Chứng cứ Canada (Chính phủ Canada, 2015), để tuyên bố của người sắp chết được tòa án chấp nhận, nạn nhân:

  • Phải là nạn nhân của tội giết người cấp 1 hoặc cấp 2, sự ngộ sát hoặc sự cẩu thả hình sự gây ra cái chết;
  • Phải đưa ra phát ngôn liên quan đến nguyên nhân cái chết;
  • Phải biết tại thời điểm phát ngôn rằng cái chết của họ sắp xảy ra;
  • Phải là người mà nếu sống sẽ là nhân chứng có đủ năng lực hành vi; và
  • Phải chết vì thương tích của họ trong một thời gian hợp lý sau khi phát ngôn được đưa ra.

Đây là một phạm vi nhạy cảm, bởitrong trường hợp nạn nhân của một vụ tấn công nghiêm trọng có nguy cơ tử vong, điều tra viên có thể có cơ hội để lấy chứng cứ bằng cách lấy lời khai từ nạn nhân đó; tuy nhiên, tuyên bố đó sẽ cần bao gồm một số sự thừa nhận của nạn nhân, rằng họ tin họ đang có nguy cơ sắp chết (Sebetic, 1950).

Nhân chứng nghe thấy lời nói tự phát của nạn nhân

Trong trường hợp một nhân chứng nghe thấy lời nói tự phát của nạn nhân, tòa án có thể chấp nhận các nhân chứng nói lại lời nói đó nếu, theo vụ Ratten kiện R (1971):

“…Nhân chứng đưa ra lời khai trong điều kiện họ không có sự dính dáng, hoặc không phải chịu áp lực, khiến họ có khả năng bày đặt hoặc bóp méo để làm lợi cho mình hoặc gây bất lợi của bị cáo”. (Ratten v R, 1971)

Lời nói hoặc lời khai của một nhân chứng trẻ em không có đủ năng lực hành vi

Trong trường hơp nhân chứng trẻ em không đủ năng lực hành vi hoặc không có mặt để cung cấp chứng cứ, phụ huynh hoặc người lớn khác, người đã nghe phát ngôn từ đứa trẻ đó, có thể được phép cung cấp thông tin đó làm chứng cứ tin đồn trước tòa. Những tình huống này đã được minh họa trong án lệ từ vụ R kiện Khan (1990). Trong vụ án này, mẹ của một bé gái 3 tuổi rưỡi không có mặt khi đứa trẻ bị bác sĩ tấn công tình dục trong một cuộc khám bệnh. Tuy nhiên, ngay sau khi khám bệnh, đứa trẻ đã giải thích với mẹ về những gì đã xảy ra, và đưa ra những mô tả về những hành vi mà một đứa trẻ không thể bịa đặt. Từ vụ án này, tòa án đã coi chứng cứ tin đồn là một ngoại lệ đối với quy tắc tin đồn. Vụ R kiện Khan đã tạo ra cái được gọi là “cách tiếp cận nguyên tắc”, và nó cho phép chứng cứ tin đồn có thể được chấp nhận nếu hai điều kiện được chứng minh. Hai điều kiện này là “tính cần thiết” và “tính tin cậy”.

Trong vụ R kiện Khan (1990), Hội đồng Tiêu chuẩn Canada (Standards Council of Canada – S.C.C.) đã định nghĩa “tính cần thiết” là các trường hợp trong đó:

  • Một đứa trẻ không đủ khả năng để làm chứng vì lý do tuổi còn nhỏ;
  • Một đứa trẻ không thể làm chứng;
  • Một đứa trẻ không sẵn sàng để làm chứng; hoặc là
  • Theo ý kiến của một chuyên gia tâm lý học, việc cung cấp lời khai sẽ gây quá nhiều thương tổn và có hại cho trẻ.

Trong vụ R kiện Khan (1990), tòa án đã xác định các yếu tố về “tính tin cậy” liên quan đến tính khả tín của những người quan sát, và những điều này bao gồm:

  • Khi lời nói của đửa trẻ là về hành vi phạm tội;
  • Bản tính của đứa trẻ;
  • Mức độ thông minh và hiểu biết của đứa trẻ; và
  • Việc thiếu một lý do để đứa trẻ bịa đặt câu chuyện.

Kể từ khi áp dụng Quy tắc Khan, các quy tắc về tin đồn đã được mở rộng dựa trên cách tiếp cận nguyên tắc rằng nếu chứng cứ được coi là cần thiết để chứng minh sự thật trong phiên tòa, thì chứng cứ tin đồn được đưa ra là đáng tin cậy (Dostal, 2012). Để chứng minh tính tin cậy, công tố viên chính phủ phải nộp chứng cứ chứng minh sự bảo đảm tình huống của tính đáng tin (the circumstantial guarantee of trustworthiness). Định nghĩa về tính tin cậy này đã được nêu rõ hơn trong vụ R kiện Smith:

“Tiêu chí của “tính tin cậy”, hoặc sự đảm bảo tình huống của tính đáng tin – là một yếu tố của các tình huống làm nảy sinh cái phát ngôn đang bị nghi vấn. Nếu một phát ngôn được viện dẫn làm bằng chứng tin đồn, và phát ngôn đó nảy sinh trong các tình huống mà người nói ít có khả năng nói dối hoặc bị hiểu lầm, thì chứng cứ tin đồn có thể được cho là đáng tin cậy, tức một sự bảo đảm tình huống của tính đáng tin đã được thiết lập”. (R kiện Smith, 1992)

Một khía cạnh thú vị của chứng cứ tin đồn, đôi khi gây nhầm lẫn cho các điều tra viên mới, là trong bất cứ cuộc điều tra nào, điều tra viên cũng tìm kiếm và khôi phục lời kể về các sự kiện từ nhiều nhân chứng khác nhau. Dựa trên những lời kể này, điều tra viên xem xét các chứng cứ và sử dụng thông tin, nhằm tạo căn cứ hợp lý để tin và hành động (reasonable grounds to believe and take action). Đây là một quy trình hoàn toàn có thể chấp nhận và được ủy quyền hợp pháp. Nếu điều tra viên bị thẩm vấn tại tòa về quá trình hình thành căn cứ hợp lý trên cơ sở tin đồn, họ có thể biện minh cho hành động của mìnhbằng cách chỉ rarằng lúc đầu, họ định cho nhân chứng gốc đến tòa để trực tiếp tường trình các sự kiện. Các điều tra viên chỉ đơn thuần là những người được trao quyền để ráp nối các sự kiện và thông tin có sẵn từ nhiều nguồn khác nhau, được phát hiện trong các nhân chứng và chứng cứ hiện trường. Khi một điều tra viên tập hợp các chứng cứ, họ được trao quyềnhình thành căn cứ hợp lý để tinvà thực hiện các hành động tìm kiếm, thu giữ, bắt và buộc tội để bắt đầu quy trình tòa án. Khi ra tòa, lời khai của điều tra viên sẽ chỉ liên quan đến những việc họ đã làm trực tiếp, hoặc những tuyên bố mà họ xem là ngoại lệ đối với quy tắc tin đồn, trongquá trình hình thành những căn cứ hợp lý để hành động.

(còn tiếp)

Nguồn: Rod Gehl & Darryl Plecas, Justice Institute of British Columbia 

dịch bởi Nguyễn Trang Nhung, đăng lần đầu trên  Mạng lưới Nghiệp đoàn

Xin ghi rõ nguồn để tôn trọng công sức của người dịch.

Hits: 34

One thought on “Giới thiệu môn Điều tra Hình sự – Chương 3: Những gì bạn cần biết về chứng cứ – Kỳ 4: Chứng cứ nhân chứng (Witness Evidence) và chứng cứ tin đồn (Hearsay Evidence)”

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *