Bài viết dưới đây là một chương trong cuốn “Các lý thuyết về các phong trào xã hội” (Theories of social movements) của tác giả Jonathan Christiansen, do nhóm Hate Change dịch.


Do các phong trào xã hội dẫn tới rất nhiều thay đổi quan trọng trong các xã hội trên toàn cầu, các học giả đã dành rất nhiều thời gian để tìm hiểu xem chúng đến từ đâu, những ai tham gia, chúng thành công thất bại như thế nào. Phần lớn những gì họ phát hiện ra là các phong trào xã hội không phải tự nhiên xảy ra mà chúng đòi hỏi nhiều nguồn lực và có nhiều giai đoạn trong suốt quá trình phát triển. Nói cách khác, người ta không chỉ đơn giản là đột nhiên bất mãn về một chính sách hoặc thậm chí với cả một hệ thống cai trị rồi ngay lập tức khởi tạo một phong trào xã hội với một hệ tư tưởng chặt chẽ có khả năng tổ chức các cuộc biểu tình quần chúng hoặc lật đổ một cấu trúc quyền lực hiện hành. Thay vào đó, các phong trào xã hội phát triển qua bốn giai đoạn.

 

Thế nào là Phong trào Xã hội?

Không dễ để định nghĩa chính xác về “phong trào xã hội”. Nó không phải là một chính đảng hay nhóm lợi ích, tức là những thực thể chính trị ổn định chính thức nắm quyền lực chính trị và giới tinh hoa trong tay, mà cũng không phải là một xu hướng hay trào lưu phổ biến, vốn không có tổ chức, tạm thời và không có mục tiêu. Chúng nằm ở giữa hai cái đó (Freeman & Johnson, 1999).

Một số đặc điểm của các phong trào xã hội là chúng “liên quan đến các mối quan hệ xung đột, đối thủ được xác định rõ ràng, được kết nối với nhau bởi các mạng lưới dày đặc không chính thức, (và chúng) có chung một tính chất tập thể rõ ràng” (De la Porta & Diani, 2006, trang 20). Do đó các phong trào xã hội có thể được coi là các thực thể xã hội có tổ chức nhưng không chính thức, tham gia vào cuộc xung đột ngoài thể chế, và hướng đến một mục tiêu. Các mục tiêu này có thể nhằm vào một chính sách cụ thể và hạn hẹp hoặc nhằm rộng hơn vào cả một sự thay đổi về văn hoá.

Một số công trình nghiên cứu đầu tiên về phong trào xã hội cố gắng tìm hiểu nguyên do người ta tham gia các hành động tập thể hay điều kiện nào là cần thiết để kích thích các phong trào xã hội.

 

Bốn giai đoạn của phong trào xã hội

Một trong những học giả đầu tiên nghiên cứu các quá trình của phong trào xã hội là Herbert Blumer, người đã xác định bốn giai đoạn trong vòng đời của các phong trào xã hội. Bốn giai đoạn mà ông mô tả là: “vận động xã hội”, “kích thích quần chúng”, “chính thức hoá” và “thể chế hoá” (De la Porta & Diani 2006, trang 150). Từ sau công trình đầu tiên của ông, các học giả đã gạn lọc và đổi tên các giai đoạn này nhưng các chủ đề quan trọng vẫn tương đối được giữ nguyên. Hiện nay bốn giai đoạn của phong trào xã hội là:

– Xuất hiện, 

– Hợp nhất, 

– Hành chính hóa, và 

– Thoái trào.

Mặc dù thuật ngữ thoái trào nghe có vẻ tiêu cực nhưng không nhất thiết phải hiểu nó theo nghĩa này. Các học giả lưu ý rằng các phong trào xã hội có thể suy thoái vì một vài nguyên nhân và đã xác định được năm kiểu thoái trào.

 

Giai đoạn 1: Xuất hiện

Theo nhà nghiên cứu xã hội học Blumer mô tả, đây là giai đoạn “vận động xã hội” (De la Porta & Diani, 2006). Trong giai đoạn này, các phong trào xã hội có tính sơ khởi và không hoặc rất ít có tính tổ chức. Thay vào đó, giai đoạn này có thể được hình dung là tình trạng bất mãn lan rộng trong xã hội (Macionis, 2001, Hopper, 1950).

Những người tiềm năng tham gia phong trào có thể không hài lòng với một chính sách hoặc tình trạng xã hội nào đó, nhưng họ chưa có bất cứ hành động gì để xử lý các mối phẫn uất của họ hoặc nếu có thì rất có thể là hành động cá nhân chứ không phải tập thể. Một người có thể bình luận với bạn bè và gia đình rằng anh ta/cô ta không hài lòng với tình hình hoặc có thể viết thư gửi đến tờ báo địa phương hoặc đại diện địa phương, nhưng các hành động này không có tính chiến lược và tính tập thể. Hơn nữa, có thể có sự gia tăng những tin bài mà các phương tiện truyền thông công bố về tình trạng tiêu cực hoặc các chính sách không được lòng dân, điều đó cũng góp thêm vào sự bất mãn chung.

Trong giai đoạn xuất hiện, một tổ chức phong trào xã hội cụ thể và các thành viên của nó đóng vai trò kích thích. Các nhân tố kích thích này nâng cao nhận thức về vấn đề và giúp gia tăng sự bất mãn trong quần chúng.

 

Giai đoạn 2: Hợp nhất

Trong giai đoạn tiếp theo của vòng đời này, các phong trào xã hội đã vượt qua những trở ngại mà nhiều phong trào khác có thể không bao giờ vượt qua được. Thông thường, tình trạng bất ổn hoặc bất mãn xã hội trôi qua mà không có một nỗ lực tổ chức và huy động quần chúng rộng rãi nào. Ví dụ, những người trong một cộng đồng có thể phàn nàn với nhau về một sự bất công chung, nhưng họ không đến với nhau để giải quyết các khiếu nại này và phong trào xã hội không tiến lên cấp độ tiếp theo.

Giai đoạn hai, gọi là hợp nhất, hay “giai đoạn mang tính quần chúng”, được đặc trưng bởi một cảm giác rõ ràng hơn về sự bất mãn. Nó không còn là một cảm giác khó chịu chung chung nữa, giờ đây nó là cảm giác khó chịu về một điều gì đó xác định và ai phải chịu trách nhiệm về điều đó.

Rex D. Hopper (1950), trong khi nghiên cứu các tiến trình cách mạng, nói rằng ở giai đoạn này “tình trạng bất ổn không còn bị che đậy, khu biệt ở một địa phương hoặc trong một nhóm người hạn chế nữa, mà nó trở nên rõ ràng, lan toả như bệnh dịch và công khai. Sự bất mãn không còn mang tính riêng lẻ và rời rạc nữa, nó có xu hướng trở nên tập trung và tập thể” (trang 273). Ông bổ sung “Đây là giai đoạn khi các cá nhân tham gia vào hành vi số đông của giai đoạn trước đó nhận thức được về nhau” (trang 273). Đến lúc này, yếu tố lãnh đạo sẽ xuất hiện và các chiến lược để thành công được đưa ra.

Ở giai đoạn này, các cuộc biểu tình quy mô lớn có thể diễn ra để thể hiện sức mạnh của phong trào xã hội và để làm rõ hơn các yêu sách. Quan trọng nhất, đây là giai đoạn mà tại đó phong trào trở thành một thứ vượt hơn mức các cá nhân bức xúc ngẫu nhiên gặp nhau, ở điểm này chúng có tính tổ chức và có chiến lược trong tầm nhìn của mình.

Phong trào Dân Quyền Mỹ một lần nữa cho ta một ví dụ đặc sắc. Sau sự nổi lên ban đầu, phong trào bắt đầu một loạt các chiến dịch lớn, cố gắng làm nổi bật lên tình cảnh của người Mỹ gốc Phi ở miền Nam đầy rẫy sự phân biệt chủng tộc. Các chiến dịch này bao gồm Tẩy chay Xe buýt tại thành phố Montgomery và biểu tình ngồi tại quầy ăn trưa, trong đó sinh viên da đen ngồi tại các quầy dành cho người da trắng, và chờ được phục vụ hoặc bị cảnh sát lôi cổ ra. Các sự kiện này đã thúc đẩy sự ủng hộ cho phong trào và bộc lộ sự tàn bạo mà những người da trắng phân biệt chủng tộc bám víu vào để giữ nguyên trạng. Cũng tại thời điểm này, các nhà lãnh đạo xuất chúng của phong trào bắt đầu nổi lên, chẳng hạn như tiến sĩ Martin Luther King, Jr. Sau nhiều chiến dịch thành công nhưng gian khổ và kéo dài nhiều năm, với sự lãnh đạo tài ba, phong trào đã trở thành một lực lượng chính trị nổi bật hơn.

 

Giai đoạn 3: Hành chính hóa

Giai đoạn thứ ba gọi là hành chính hóa. Giai đoạn này, được Blumer định nghĩa là “chính thức hoá” (De la Porta & Diani, 2006), được đặc trưng bởi các cấp độ tổ chức cao hơn và các chiến lược trên nền tảng liên minh liên kết.

Tương tự như vậy, các tổ chức phong trào xã hội cụ thể sẽ trông cậy vào đội ngũ nhân viên có kiến ​​thức chuyên môn mà có thể điều hành các hoạt động thường ngày của tổ chức và thực hiện các mục tiêu của phong trào. Các phong trào xã hội trong giai đoạn này không còn chỉ dựa vào các cuộc tuần hành quần chúng hoặc các nhà lãnh đạo gây cảm hứng để tiến tới mục tiêu và xây dựng lực lượng ủng hộ, chúng phải dựa vào những nhân viên được đào tạo để thực hiện các chức năng của mình.

Trong giai đoạn này, quyền lực chính trị của phong trào xã hội lớn hơn trong các giai đoạn trước đó ở chỗ chúng có thể tiếp cận thường xuyên hơn với giới tinh hoa chính trị.

Nhiều phong trào xã hội không hành chính hoá được theo cách này và kết cục là thất bại do các thành viên khó duy trì được cảm hứng cần thiết và vì việc huy động liên tục quần chúng trở nên khó khăn quá mức đối với người tham gia phong trào. Việc chính thức hóa thường có nghĩa là các nhân viên được trả lương có thể lấp vào chỗ trống khi không sẵn có các tình nguyện viên thừa nhiệt tình (Macionis, 2001, Hopper, 1950).

Phong trào quyền của người đồng tính là một ví dụ về một phong trào đã trải qua giai đoạn này. Phong trào này chuyển từ việc xách động và biểu tình sang việc có nhiều tổ chức chính thức mà hiện nay đang hoạt động hướng đến các mục tiêu của phong trào quyền của người đồng tính. Một số tổ chức tiêu biểu có thể kể đến như Chiến dịch Nhân quyền (Human Rights Campaign) và Liên minh Đồng tính Nam và Đồng tính Nữ chống sự phân biệt Đối xử (Gay and Lesbian Alliance Against Discrimination – GLAAD). Nếu họ không tạo ra các tổ chức có tính hành chính như thế thì nhiều phong trào rất có thể đã tàn lụi và các đòi hỏi của họ đã không được đáp ứng.

 

Giai đoạn 4: Thoái trào

Cuối cùng, giai đoạn cuối trong vòng đời của phong trào xã hội là thoái trào, hoặc “thể chế hoá”. Mặc dù vậy, “thoái trào” không nhất thiết có nghĩa là thất bại đối với các phong trào xã hội. Thay vào đó, Miller (1999) lập luận rằng có bốn kiểu thoái trào mà phong trào xã hội có thể trải qua:

– Bị đàn áp,

– Bị sáp nhập,

– Thành công, và

– Thất bại,

– Nhiều người khác đã bổ sung thêm “xác lập được tính cách chính thống” như một kiểu thoái trào khác (Macionis, 2001).

Bị đàn áp

Kiểu thứ nhất mà phong trào xã hội có thể thoái trào là qua sự đàn áp. Đàn áp xảy ra khi nhà cầm quyền, hoặc các cơ quan thay mặt nhà cầm quyền, sử dụng các biện pháp (đôi khi bạo lực) để kiểm soát hoặc phá hoại một phong trào xã hội. Ngoài ra, Miller (1999) còn nêu rõ “các hành động đàn áp có thể được nhà nước quy định là hợp pháp… nhưng chúng không bao giờ là hợp pháp theo quan điểm của phong trào” (trang 305).

Điều này có nghĩa là chính quyền trong nhiều trường hợp sẽ thông qua các đạo luật cấm các hoạt động phong trào hoặc các tổ chức nào đó, hoặc biện hộ cho hành động đàn áp bằng cách tuyên bố rằng phong trào đe dọa trật tự công cộng theo cách nào đó. Loại đàn áp này tạo ra vô vàn khó khăn cho các phong trào xã hội khi tiến hành các hoạt động và tìm kiếm thành viên mới.

Bị chệch hướng hoặc biến chất

Phong trào cũng có thể suy thoái, nếu các tổ chức của họ phụ thuộc nhiều vào quyền lực tập trung hoặc vào một nhà lãnh đạo có sức lôi cuốn. Việc này xảy ra khi các lãnh đạo phong trào hợp tác với nhà cầm quyền hoặc với các đối tượng mà phong trào nhằm đến nhiều hơn gắn kết với nội bộ quần chúng ủng hộ phong trào.

Ví dụ, một nhà lãnh đạo có thể nhận được đề nghị làm việc cho chính cái tổ chức vốn là đối tượng của phong trào, với lời mời mọc là anh ta/ cô ta có thể làm thay đổi mọi thứ từ bên trong. Thay vì thế, họ lại tự hòa nhập vào tổ chức và chấp nhận các giá trị của nó, chứ không phải là các giá trị của phong trào xã hội nữa. Những người lãnh đạo cũng có thể được nhà cầm quyền (hoặc nhóm đối tượng) trả tiền để đổi lại, đề nghị họ thay đổi các hoạt động của mình.

Thành công

Dĩ nhiên không phải tất cả các phong trào xã hội đều kết thúc thất bại do bị đàn áp hoặc bị chệch hướng; một số thoái trào vì chúng thành công. Các phong trào nhỏ hơn, có tính địa phương với các mục tiêu rất cụ thể thường có cơ may hơn để hoàn toàn thành công. Miller (1999) lấy ví dụ về một khu vực nọ tổ chức ngăn chặn việc xây dựng sân bay. Ông cũng nói rằng phong trào đòi quyền bầu cử của phụ nữ là một tổ chức có phạm vi quốc gia, đã đạt được các mục tiêu của mình và do đó đã thoái trào. Cả hai ví dụ này đều nhằm chỉ ra những mục tiêu rất cụ thể cho các phong trào. Nhiều phong trào xã hội có các mục tiêu ít rõ ràng hơn thế nhiều, và nhiều phong trào tiến hành các chiến dịch mới sau khi các phong trào khác đang kết thúc trong thành công hoặc trong sự thỏa hiệp.

Miller (1999) cho rằng đây là điều đã xảy ra với tổ chức Sinh viên vì một Xã hội Dân chủ (Students for a Democratic Society – SDS), một tổ chức của sinh viên nổi lên vào đầu những năm 1960 và đại diện cho phần lớn ý thức hệ của các phong trào sinh viên và thanh niên đang nổi lên hồi đó. Đó là một trong những tổ chức thanh niên lớn nhất đã tổ chức ra các cuộc biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam và ủng hộ dân chủ hóa trường học. Nhiều thành viên của nó đã tham gia vào các cuộc đấu tranh vì Dân Quyền đầu những năm 1960 và chịu ảnh hưởng bởi cuộc đấu tranh đó (McAdam, 1988, Miller, 1999). Miller lập luận rằng việc liên tục mở rộng định nghĩa về sự thành công và sự cực đoan hoá của các thành viên SDS đã dẫn đến kết cục chính phong trào bị suy thoái. Ông cho rằng sự tăng trưởng và mở rộng nhanh chóng của SDS đã dẫn tới những thay đổi về định hướng này. Sau đó ông lập luận rằng, thành công lại chính là một phần trong kết cục suy thoái của họ.

Một ví dụ về một nhóm chuyển hướng tới các mục tiêu mới sau khi đạt được các mục tiêu cũ là tổ chức March of Dimes (một tổ chức từ thiện quyên góp tiền cho trẻ em, nhất là những trẻ khuyết tật về thể chất hoặc tinh thần nghiêm trọng ). March of Dimes được lập ra vào cuối những năm 1930, ban đầu là một phong trào nhằm nâng cao nhận thức và hoạt động nhằm chữa trị bệnh bại liệt. Dù vậy, sau khi một vắc-xin phòng chống bại liệt được phát triển vào cuối những năm 1950, phong trào này đã chuyển hướng sang ủng hộ các mục tiêu mang tính tổng thể hơn, như ngăn ngừa dị tật bẩm sinh, đẻ non và tử vong ở trẻ sơ sinh.

Thất bại

Trong bài phân tích về sự suy thoái của tổ chức Sinh viên vì một Xã hội Dân chủ-SDS của mình, Miller (1999) chú thích rằng SDS suy thoái vì nhiều lý do như nêu trên, nhưng ông cũng lý luận rằng tổ chức này không thể xử lý được sự mở rộng nhanh chóng vì thành công của nó và do gánh nặng về tổ chức, nó sụp đổ thành các phe nhóm khác nhau. Sự thất bại của các phong trào xã hội do phá sản về chiến lược hoặc tổ chức là chuyện phổ biến đối với nhiều tổ chức. Khi xuất hiện thất bại ở mức độ tổ chức, Miller cho rằng thường có hai lý do: chủ nghĩa bè phái và tự cô lập.

Khi tổ chức Sinh viên vì một Xã hội Dân chủ-SDS lớn mạnh, và một phần do cấu trúc mở của nó, trong đó mọi người được khuyến khích tham gia vào quá trình ra quyết định, tổ chức này bắt đầu bị kiểm soát bởi các phe nhóm khác nhau hoạt động trong phạm vi tổ chức nhưng lại vì lợi ích của các tổ chức bên ngoài – với trường hợp SDS thì SDS đã đối phó với sức mạnh đang gia tăng của phái Đảng Lao Động Cấp Tiến (Progressive Labor Party). Khi chủ nghĩa bè phái trở nên tồi tệ hơn và đàn áp tiếp tục, Miller lý luận rằng các phe nhóm ngày càng trở nên hẹp hòi, dẫn đến hiện tượng tự cô lập. Đây là quá trình trong đó một đội ngũ các nhà hoạt động bị cô lập khỏi phong trào rộng lớn hơn vì họ đi tới chỗ chia sẻ nhiều thói quen và văn hoá giống nhau, và ý thức hệ của họ trở nên tương tự nhau và đồng thời cứng nhắc hơn. Họ trở nên gắn kết với phong trào đến nỗi không thông cảm được với những người không coi phong trào là yếu tố chủ đạo trong cuộc sống của họ. Tương tự như vậy, các thành viên tiềm năng cũng thấy thật khó gia nhập vào nhóm người đã gắn bó khăng khít với nhau này (Miller, 1999).

Xác lập được tư cách chính thống

Những người khác đã lưu ý rằng có một lý do thứ năm cho sự thoái trào, chủ yếu là việc một tổ chức được xác lập một cách chính thống. Có nghĩa là, các mục tiêu hoặc ý thức hệ của phong trào được chính thống chấp thuận và không còn nhu cầu duy trì một phong trào nữa. Ví dụ là phong trào lao động ở Mỹ. Trong nhiều năm, phong trào lao động này bị nhà cầm quyền đàn áp dã man, nhưng ngày nay phong trào lao động Mỹ đã hoà nhập vào hệ thống kinh tế và chính trị. Quyền đàm phán tập thể được bảo đảm bởi chính quyền liên bang (trong hầu hết các trường hợp) và phong trào lao động tạo được cơ sở vững chắc trong hệ thống chính trị (Macionis, 2001).

Các ứng dụng

Các nhà lãnh đạo và thành viên tiềm năng của phong trào tiềm năng, có thể áp dụng bốn giai đoạn để đánh giá các chiến lược của một phong trào xã hội cụ thể, và để xem chúng có hiệu quả hay không. Ví dụ, các phong trào đang trong giai đoạn hợp nhất có thể cho phép dự đoán được nhu cầu tiến tới mức phát triển tiếp theo – hành chính hóa – và có thể vận hành tương ứng để nâng cao sức mạnh và ảnh hưởng của chúng. Hơn nữa, việc xem xét kỹ lưỡng các phương thức thoái trào của chúng có thể giúp các phong trào này tránh được kết cục bị chệch hướng và thất bại, và sẽ định vị mình tốt hơn để thành công.

Bốn giai đoạn phát triển phong trào xã hội cũng có thể giúp chúng ta hiểu được những cách thức mà các phong trào xã hội gây ảnh hưởng đến xã hội. Bằng cách phân tích các phong trào xã hội xuất hiện tại các thời điểm và giai đoạn nào đó, các nhà xã hội học có thể hiểu sâu hơn về sự vận hành của xã hội và những thay đổi mà nó trải qua – một phần cơ bản trong công việc của các nhà xã hội học. Ví dụ, việc xem xét các giai đoạn xuất hiện và hợp nhất trong Phong trào Dân Quyền Mỹ cho ta một cách quan sát xem xã hội thay đổi như thế nào khi có phong trào xã hội. Ngoài ra, chúng ta có thể hiểu rõ hơn các sự kiện xảy ra trong các giai đoạn khác nhau của phong trào xã hội khi nhìn lại chúng như là một phần của cả một quá trình hoặc một sự thay đổi chứ không phải là các sự kiện riêng lẻ.

Phong trào xã hội vẫn đang tiếp tục là một lực lượng lớn trên thế giới. Các nhà xã hội học đã đưa ra những phân tích quan trọng về các phong trào xã hội, giúp chúng ta hiểu được xã hội cả trong quá khứ và ở hiện tại, cũng như dự đoán về các thay đổi và xu hướng có thể diễn ra sau này. Khi các phong trào mới phát triển, họ có thể học hỏi được từ việc nghiên cứu các kinh nghiệm của các phong trào trước đó để chuẩn bị tốt hơn cho các khả năng sau này. Mô hình phân tích này – được nêu ra trong lý thuyết về bốn giai đoạn của phong trào xã hội – là một khía cạnh quan trọng trong việc tăng cường hiểu biết về hành động tập thể. Việc nghiên cứu bốn giai đoạn của phong trào xã hội là một cách để hiểu được các phong trào xã hội hình thành, phát triển, củng cố và suy thoái như thế nào.

Nguồn: Hate Change

Hits: 19

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *