(Tiếp theo kỳ trước. Đọc bản đầy đủ tại ĐÂY.)


Tại miền Nam, trong khoảng thời gian từ tháng 7/1954 đến tháng 10/1956, Ngô Đình Diệm đã bình định được các đảng phái Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo, với sự trợ giúp của các tướng Trình Minh Thế và Dương Văn Minh, tổ chức trưng cầu dân ý, truất phế Bảo Đại và trở thành Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa ngày 23/10/1955.
Từ 1954 đến 1959, Ngô Đình Diệm đã ổn định tình hình chính trị và xã hội. Văn học Việt Nam được phát triển rộng rãi trong một không khí tương đối có tự do.
Chính phủ Mỹ cho rằng tình hình Việt Nam Cộng Hòa rất tốt đẹp và các cố vấn Hoa Kỳ có thể rút về vào năm 1961.
Về phía miền Bắc, sau 1954, những biến cố Cải Cách Ruộng Đất và Nhân Văn Giai Phẩm làm xao động dư luận hai miền Nam Bắc.
Từ 1956 trở đi, miền Bắc bắt đầu cho các cán bộ đặc trách ở lại miền Nam hoạt động.
Tuy nhiên vẫn có những kêu gọi hiệp thương.
Ngày 8/10/1955, Hồ Chí Minh kêu gọi hiệp thương và tổng tuyển cử. Rồi ngày 18/7/1957, Thủ tướng Bắc Việt Phạm Văn Đồng gửi thư cho Tổng Thống Nam Việt Ngô Đình Diệm, yêu cầu hiệp thương. Miền Nam trả lời ngày 27/7/1957: “Khi nào miền Bắc chấm dứt khủng bố phá hoại và thực thi dân chủ tự do, khi đó mới có thể tổng tuyển cử và thống nhất.”
Từ năm 1959, sau hai năm hoạt động ở miền Nam, Lê Duẩn trở về Hà Nội, đề nghị đảng Cộng Sản phải chuyển sang giai đoạn võ trang giải phóng.
Đại hội 3 đảng Cộng Sản Việt Nam họp vào tháng 9/1960, thành lập Trung Ương Cục Miền Nam để lãnh đạo toàn miền Nam. Ngày 20/12/1960, thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và ngày 15/2/1961, thành lập Quân Đội Giải Phóng Miền Nam.
Trong khi ấy ở miền Nam, sau thời kỳ phát triển 1954-1959, Ngô Đình Diệm áp dụng chính sách độc tài, gia đình trị. Em ông là Ngô Đình Nhu tổ chức đảng Cần Lao, lấy thuyết Nhân Vị, khởi điểm từ triết thuyết của Mounier làm chính thuyết. Tổ chức các cơ cấu mật vụ để củng cố chính quyền và đàn áp đối lập. Số người bất mãn ngày càng tăng, do đó hoạt động của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ngày càng hữu hiệu hơn.
Để cứu vãn tình thế, tổng thống Hoa Kỳ Kennedy đề nghị đưa quân đội Mỹ vào can thiệp, nhưng Ngô Đình Diệm từ chối, ông nói rằng: Chỉ cần đến quân đội Mỹ khi nào Bắc Việt mở các cuộc xâm lăng lớn. Sở dĩ Ngô Đình Diệm có thái độ như vậy vì ông thấy các sĩ quan cố vấn và viên chức Hoa Kỳ đã có những thái độ coi Việt Nam như một thuộc địa của Hoa Kỳ.
Từ tháng 5/1963 trở đi, vấn đề đàn áp Phật giáo trở nên trầm trọng. Ngày 20 và 21/8/1963, Ngô Đình Nhu hạ lệnh cho những lực lượng đặc biệt bao vây các chùa chiền, bắt giữ 1400 sư sãi và những người ủng hộ Phật giáo. Những lời tuyên bố kiêu căng của bà Nhu ở ngoài nước, chế diễu các Phật tử tự thiêu, đã dấy lên những phẫn nộ trong dư luận Việt Nam và thế giới. Nhiều người trong chính quyền và quân đội tỏ thái độ bất mãn, trong đó có ngoại trưởng Vũ Văn Mẫu, cạo đầu, từ chức để phản đối (ngày 21/8/1963), và Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ, Trần Văn Chương, thân phụ bà Nhu. Thi sĩ Vũ Hoàng Chương sáng tác Lửa Từ Bi.
Một mặt khác, ngay từ đầu mùa hè năm 1963, bộ trưởng quốc phòng Mỹ, Mc Namara, được tin hai anh em ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu đã bí mật liên hệ với miền Bắc, qua ngả de Gaulle để điều đình việc thống nhất đất nước và trung lập hóa Việt Nam.
Vừa không thích sự độc tài của chính quyền Ngô Đình Diệm, vừa lo ngại Ngô Đình Diệm và Hồ Chí Minh liên kết với nhau để thực hiện thống nhất lãnh thổ và đẩy Mỹ ra khỏi Việt Nam, chính quyền Kennedy chấp nhận kế hoạch đảo chính do CIA đề xuất. CIA liên lạc với các tướng Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Khánh và Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu để thực hiện đảo chính. Cuộc đảo chính xẩy ra ngày 1/11/1963. Theo các tài liệu chính thức thì Hội đồng các tướng lãnh quyết định giết hai anh em ông Diệm.
Sau khi ông Diệm mất, không còn ai cản trở việc Mỹ can thiệp vào Việt Nam nữa. Mc Namara đã họp các chuyên viên và các nhà lãnh đạo quân sự ở Honolulu ngày 20/11/1963 để bàn về các biện pháp can thiệp trực tiếp vào chiến tranh Việt Nam. Theo thống kê của Trung tâm lịch sử quân sự Mỹ, tháng11/1963 có 16 300 cố vấn Mỹ ở Việt Nam, tháng 12/1965 có 184 300 quân, tháng 12/1967 có 485 600 quân và đến tháng 4/1969 có 543 400 lính Mỹ ở Việt Nam.
Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu xuất thân từ một gia đình Nho học có truyền thống yêu nước. Quê ở làng Đại Phong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Cha là Ngô Đình Khả, một đại thần nổi tiếng trung quân ái quốc của hai triều Thành Thái và Duy Tân. Ngô Đình Diệm đã làm Thượng Thư Bộ Lại của Bảo Đại. Năm 1934, ông từ chức Thượng Thư Bộ Lại vì chủ trương chống Pháp, bất đồng ý kiến với Phạm Quỳnh. Sau đó ông sống ẩn mình, nay đây mai đó và lập đảng chính trị vinh tôn Cường Để làm lãnh tụ. Năm 1950, ông sang Mỹ, sống tại các chủng viện và năm 1954 về nước, làm Thủ Tướng thứ 6 của chính phủ Bảo Đại, thay Bửu Lộc.
(Còn tiếp. Đọc bản đầy đủ tại ĐÂY.)

Hits: 38

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *