1. Khái niệm và đặc trưng của hợp đồng lao động

 

1.1. Khái niệm hợp đồng lao động

Điều 26 của Bộ luật “Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động”. Cách định nghĩa trên về hợp đồng lao động thông qua các yếu tố chủ thể, nghĩa vụ pháp lý và điều kiện lao động của các bên tham gia quan hệ lao động.

 

1.2. Đặc trưng của hợp đồng lao động

Từ khái niệm của hợp đồng lao động có thể rút ra những đặc trưng của hợp đồng lao động như sau:

– Có sự phụ thuộc pháp lý của người lao động và người sử dụng lao động

– Đối tượng của hợp đồng lao động là việc làm có trả công.

– Hợp đồng lao động mang tính đích danh

– Hợp đồng lao động phải được thực hiện liên tục trong một khoảng thời gian nhất định hay vô hạn định.

 

2. Vi phạm pháp luật về hợp đồng lao động và các yếu tố cấu thành của nó

 

2.1. Khái niệm vi phạm pháp luật về hợp đồng lao động

2.1.1. Định nghĩa vi phạm pháp luật về hợp đồng lao động

Vi phạm pháp luật về hợp đồng lao động là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các quy định của pháp luật về hợp đồng lao động, do chủ thể luật lao động thực hiện một cách có lỗi, xâm hại quyền và lợi ích của người lao động, người sử dụng lao động, nhà nước và xã hội.

Tính trái pháp luật được xét đến như một yếu tố đặc trưng của hành vi vi phạm pháp luật. Một     hành vi chỉ bị coi là trái pháp luật khi được pháp luật quy định. Điều này có nghĩa nếu hành vi  không xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ thì đương nhiên đó không phải là hành vi vi phạm pháp luật. Tính trái pháp luật được biểu hiện thông qua việc không thực hiện, thực hiện  không đúng  hoặc không đầy đủ các quy định của pháp luật. Một dấu hiệu khác là năng lực của chủ thể thực hiện   hành vi vi phạm pháp luật. Người lao động và người sử dụng lao động muốn trở thành chủ thể của pháp luật lao động phải có năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động. Hơn nữa, chủ thể thực hiện hành vi phải có lỗi và gây thiệt hại đến lợi ích của xã hội, của người khác.

2.1.2. Phân loại các hành vi vi phạm pháp luật về hợp đồng lao động

a) Căn cứ vào chủ thể thực hiện hành vi vi phạm

Dựa vào vị trí các bên tham gia quan hệ lao động thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật hợp đồng lao động chúng ta chia thành các nhóm hành vi vi phạm như sau:

Nhóm hành vi do người lao động thực hiện như: hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật; vi phạm những nội dung đã được thỏa thuận trong hợp đồng lao động…

Nhóm hành vi do người sử dụng lao động thực hiện như: hành vi không giao kết hợp đồng lao động với người lao động; không giao một bản hợp đồng lao động cho người lao động; vi phạm những quy định về thuê mướn lao động; vi phạm quy định về trả trợ cấp thôi việc cho người lao động; vi phạm quy định về việc trả lương cho người lao động; vi phạm các quy định về điều chuyển người lao động làm công việc khác trái nghề; hành vi ngược đãi, cưỡng bức lao động, bắt người lao động đặt cọc trước khi làm việc không theo quy định, người sử dụng lao động kế tiếp không sử dụng lao động theo phương án sử dụng lao động,…

b) Căn cứ vào các giai đoạn của hợp đồng lao động

Các hành vi vi phạm hợp đồng lao động thường xảy ra từ các quá trình này và được chia thành các nhóm sau:

Nhóm hành vi vi phạm việc giao kết hợp đồng lao động: là tập hợp các hành vi vi phạm do các bên tham gia hợp đồng lao động thực hiện một cách có lỗi xâm hại đến những nguyên tắc và cách thức nhất định nhằm xác lập các quyền và nghĩa vụ lao động. Nhóm này bao gồm các hành vi như: giao kết hợp đồng lao động không đúng loại; hợp đồng lao đồng lao động không có chữ ký của một bên; hợp đồng lao động không được giao kết trực tiếp giữa người lao động và người sử dụng lao động; giao kết hợp đồng  lao động với người lao động không có thẩm quyền…

Nhóm hành vi vi phạm việc thực hiện hợp đồng lao động: là tập hợp các hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng những nội dung đã cam kết trong hợp đồng lao động. Nhóm này gồm có các hành vi như: hành vi vi phạm những quy định về trợ cấp thôi việc, vi phạm việc trả lương cho người lao động trong thời gian tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác,…

Nhóm hành vi vi phạm việc tạm hoãn hợp đồng lao động: là tập hợp các hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các thỏa thuận trong hợp đồng lao động giữa các bên khi tạm ngừng hợp đồng lao động trong một thời gian nhất định.

Nhóm hành vi vi phạm việc chấm dứt hợp đồng lao động: là tập hợp các hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định của pháp luật khi chấm dứt hợp đồng lao động. Các hành vi vi phạm thuộc nhóm này có thể kể đến: hành vi vi phạm quy định về thời hạn báo trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hành vi vi phạm quy định về trợ cấp mất việc, hành vi vi phạm quy định về thời hạn thanh toán các khoản tiền sau khi chấm dứt hợp đồng lao động,…

c) Căn cứ vào nội dung và hình thức của hợp đồng lao động

Có thể chia các hành vi vi phạm pháp luật về hợp đồng lao động làm hai loại:

– Các hành vi vi phạm nội dung của hợp đồng lao động như: các hành vi vi phạm quy định về việc thời giờ làm việc, nghỉ ngơi, các hành vi vi phạm việc trả lương cho người lao động,…

– Các hành vi vi phạm hình thức của hợp đồng lao động như: hành vi không giao kết hợp đồng lao động, hành vi giao kết hợp đồng lao động không đúng loại, giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền,…

 

2.2. Các yếu tố cấu thành của vi phạm pháp luật về hợp đồng lao động

2.2.1. Mặt khách quan của vi phạm pháp luật về hợp đồng lao động

Mặt khách quan của vi phạm pháp luật bao gồm toàn bộ những dấu hiệu bên ngoài của nó hay nói một cách khác thì “mặt khách quan của vi phạm pháp luật là mặt bên ngoài của sự xâm hại nguy hiểm đáng kể cho xã hội đến khách thể được bảo vệ bằng pháp luật tức là sự thể hiện cách xử sự có tính chất vi phạm pháp luật trong thực tế khách quan”.

Mặt khách quan của vi phạm pháp luật về hợp đồng lao động bao gồm các dấu hiệu như những đặc điểm cơ bản của hành vi vi phạm pháp luật về hợp đồng lao động, đó là: hành vi được biểu hiện ra bên ngoài thông qua những hành động cụ thể hoặc không hành động, trái với các quy định pháp luật hợp đồng lao động, gây thiệt hại chung cho xã hội hoặc thiệt hại trực tiếp về vật chất hay tinh thần cho từng thành viên cụ thể trong xã hội, tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và hậu quả mà nó gây ra.

2.2.2. Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật về hợp đồng lao động

Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật về hợp đồng lao động là mặt bên trong của sự xâm hại nguy hiểm cho xã hội đến khách thể được bảo vệ bằng pháp luật lao động. Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật lao động được đặc trưng bởi yếu tố lỗi, có liên quan đến lỗi là động cơ, mục đích của chủ thể thực hiện vi phạm pháp luật về hợp đồng lao động.

2.2.3. Chủ thể của vi phạm pháp luật về hợp đồng lao động

Chủ thể vi phạm pháp luật hợp đồng lao động là người lao động và người sử dụng lao động. Tuy nhiên, các chủ thể này cần thỏa mãn một số điều kiện do pháp luật lao động quy định đó là năng lực chủ thể. Năng lực chủ thế được tạo bởi năng lực hành vi lao động và năng lực pháp luật lao động.

Người lao động theo quy định tại Điều 6 Bộ luật Lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động. Quy định này cho thấy một người có năng lực pháp luật lao động khi họ đủ 15 tuổi. Khi đó, pháp luật quy định cho họ có quyền được làm việc, quyền được trả công và có thể thực hiện những nghĩa vụ của người lao động. Để trở thành người sử dụng lao động theo quy định của pháp luật thì cá nhân phải thỏa mãn điều kiện đủ 18 tuổi, có thuê mướn, sử dụng và trả công lao động.

2.2.4. Khách thể của vi phạm pháp luật về hợp đồng lao động.

Khách thể của vi phạm pháp luật là quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ tránh khỏi sự xâm hại của vi phạm pháp luật. Khách thể của vi phạm pháp luật hợp đồng lao động là quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động được thể hiện qua một chế định cụ thể là hợp đồng lao động. Đây là một chế định quan trọng của Luật Lao động và bao gồm nhiều vấn đề có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động như: tiền lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn vệ sinh lao động, bảo hiểm xã hội,…

 

3. Sự điều chỉnh của pháp luật đối với hành vi vi phạm pháp luật về hợp đồng lao động

 

3.1. Về hình thức xử lý

3.1.1. Hình thức xử phạt

Có hai hình thức xử phạt đối với các hành vi vi phạm pháp luật về hợp đồng lao động là hình thức xử phạt chính và hình thức xử phạt bổ sung. Hình thức xử phạt chính gồm có: cảnh cáo và phạt tiền. Hình thức phạt bổ sung gồm có: tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.

 3.1.2. Biện pháp khắc phục hậu quả.

Căn cứ vào hành vi vi phạm pháp luật hợp đồng lao động, Nghị định số 113/2004/NĐ-CP quy định một số biện pháp khắc phục hậu quả như sau:

– Giao một bản hợp đồng lao động cho người lao động theo đúng quy định của pháp luật.

– Tiến hành giao kết hợp đồng cho đúng loại theo quy định của pháp luật, trường hợp không có chữ ký của một trong hai bên thì phải bổ sung chữ ký cho phù hợp.

– Trả lại số tiền đặt cọc cho người lao động và lãi suất tiền gửi tiết kiệm.

– Thực hiện việc sử dụng lao động theo phương án sử dụng lao động đã được phê duyệt.

– Bồi hoàn thiệt hại cho người lao động.

 

3.2. Về nguyên tắc xử lý

– Nguyên tắc mọi vi phạm pháp luật về hợp đồng lao động phải được phát hiện kịp thời và bị xử lý ngay.

– Nguyên tắc xử lý vi phạm pháp luật về hợp đồng lao động phải do người có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật.

– Nguyên tắc mỗi hành vi vi phạm pháp luật về hợp đồng lao động chỉ bị xử phạt một lần.

– Nguyên tắc việc xử lý vi phạm pháp luật về hợp đồng lao động phải căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân người vi phạm và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để quyết định hình thức, biện pháp xử lý thích hợp.

 

3.3. Thẩm quyền xử lý

Theo quy định tại Nghị định số 113/2004/NĐ-CP, các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xử phạt hành chính đối với các hành vi vi phạm pháp luật lao động trong đó có vi phạm về hợp đồng lao động bao gồm:

– Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố (gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp huyện), Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh).

– Thanh tra viên lao động đang thực thi công vụ, Chánh thanh tra Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Chánh thanh tra Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.

 

3.4. Về thời hiệu xử lý

Theo Nghị định số 113/2004/NĐ-CP thì thời hiệu xử phạt hành chính đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động là 01 năm kể từ ngày có hành vi vi phạm hành chính.

Những quy định về thời hiệu xử lý hành vi vi phạm pháp luật về hợp đồng lao động về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu của việc xử lý vi phạm. Tuy nhiên, trong phần III về thủ tục xử phạt vi phạm hành chính về pháp luật lao động quy định của Thông tư số 12/2005/TT-BLĐTBXH ngày 28/01/2005 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định “trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày lập biên bản về vi phạm hành chính, đối với vụ vi phạm hành chính có nhiều tình tiết phức tạp thì thời hạn ra quyết định xử phạt là ba mươi ngày, người có thẩm quyền phải ra quyết định xử phạt”. Liên quan đến vấn đề này có ý kiến cho rằng việc quy định thời hạn như vậy là quá ngắn và khó thực hiện trong thực tiễn bởi tính chất của một cuộc thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực lao động không giống thanh tra khác.

Nguồn: “Vi phạm pháp luật về hợp đồng lao động”, Ngô Thị Thanh Huyền

Hits: 19

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *