(Trích Quyển 5 trong bộ Chính Trị Luận của Aristotle, Nông Duy Trường dịch, đăng trên Học viện Công dân)

 

Chương XI

Ta có thể nói một cách tổng quát, hai chế độ quân chủ và độc tài được duy trì bởi những nguyên nhân đối nghịch với những nguyên nhân gây ra sự sụp đổ của chế độ. Hãy xét từng loại chế độ, khởi đầu là chế độ quân chủ. Chế độ quân chủ được duy trì nhờ vào sự giới hạn quyền lực của nhà vua. Quyền lực của nhà vua càng bị giới hạn chừng nào, thì quyền lực càng giữ được nguyên vẹn; bởi vì như vậy thì sự cai trị của nhà vua sẽ ôn hòa và sẽ không bị thần dân ganh ghét. Đó là lý do tại sao triều đình của vua người Molossian đã tồn tại được lâu dài. Tương tự như vậy triều đình Sparta cũng tồn tại lâu dài vì quyền lực được chia cho hai ông vua cùng trị vì, rồi sau đó còn bị Theopompus (một trong hai vị vua) giới hạn hơn nữa qua sự thiết lập Giám sát viện. Hành động này giảm đi quyền lực của nhà vua, nhưng lại lập nên một căn bản lâu dài cho địa vị của nhà vua, và như thế là tăng thêm chứ không phải giảm đi quyền lực của nhà vua. Chuyện kể rằng khi hoàng hậu hỏi nhà vua là ngài có thấy xấu hổ khi truyền ngôi lại cho con trai mà lại có ít quyền lực hơn khi ngài thừa hường từ vua cha không? Nhà vua trả lời, “Không, vì những quyền lực ta trao lại sẽ tồn tại lâu dài hơn.”

Còn những chế độ độc tài lại được duy trì bằng hai cách đối nghịch nhau. Một là phương thức cổ truyền mà đa số những nhà độc tài thường áp dụng. Khi bàn về những phương kế này thì Periander người xứ Corinth vẫn được xem là bậc thầy, và những mưu chước tương tự có thể đã học được từ người Ba Tư về cách thức cai trị của họ. Những mưu chước này đã được bàn qua trước đây; để bảo vệ chế độ tài càng lâu càng tốt, thì nhà độc tài nên san bằng ngọn những ai vượt trội hơn người khác, giết hết những người có chí khí, cấm không cho hội họp, ăn chung, dạy học, và phải canh chừng bất cứ những hành vi nào có thể khiến người dân trở nên can đảm hay tự tin hơn. Thêm nữa nhà độc tài còn phải cấm luôn cả những buổi văn nghệ hay thảo luận văn chương, và phải dùng mọi cách để người dân không được quen biết nhau (vì sự quen biết sẽ dẫn đến tin tưởng lẫn nhau). Ngoài ra, nhà độc tài còn phải buộc tất cả mọi người sống trong thành thị phải xuất hiện giữa nơi công cộng gần nơi cổng thành. Làm như thế để lúc nào cũng biết được dân chúng đang làm gì [và tạo nên một ảnh hưởng tâm lý] là nếu người dân luôn luôn bị đè nén, thì họ sẽ quen nhịn nhục. Nói cách khác, nhà độc tài nên áp dụng những mưu chước như thế hay những cách thức của người Ba Tư hay của những quân man rợ khác, vì đó là những phương thức có cùng tác dụng duy trì chế độ độc tài. Nhà độc tài cũng cần phải biết mỗi thần dân của mình nói hay làm gì, và phải sử dụng những tên chỉ điểm, giống như những nữ điệp viên tại Syracuse, hay những kẻ dò la mà nhà độc tài Hiero thường phái tới những nơi hội họp. Chính vì sự sợ hãi những tên chỉ điểm mà người dân không dám nói lên những suy nghĩ thực sự của họ, và nếu họ có nói ra, thì nhà độc tài cũng biết ngay. Một mưu chước nữa của nhà độc tài là tạo ra mâu thuẫn và nghi ngờ lẫn nhau trong nhân dân, bạn bè nghi kỵ nhau, quần chúng bất mãn với quý tộc, và những kẻ giàu có cũng tranh chấp lẫn nhau. Thêm vào đó, nhà độc tài cần phải bần cùng hóa nhân dân khiến cho dân vì phải lo kiếm sống mà không còn thì giờ âm mưu nổi loạn nữa. Công trình xây cất Kim tự tháp Ai cập là một thí dụ của của chính sách này; một thí dụ khác là dâng hiến những của lễ xa hoa cho thần thánh như nhà độc tài Cypselus đã làm, hay như Peisistratidae cho xây đền thờ Zeus, hay như Polycrates cho xây những đài tưởng niệm tráng lệ tại Samos. Những công trình này đều có mục đích làm cho quần chúng nghèo đi và khiến cho họ không còn thì giờ suy nghĩ việc gì nữa. Còn một phương thức nữa mà những nhà độc tài thường làm là tăng thêm nhiều mức thuế, như Dionysus đã làm tại Syracuse là tạo ra một mức thuế mà trong năm năm, nhân dân phải nộp hết toàn bộ tài sản của họ cho công quỹ. Nhà độc tài cũng là những kẻ hay gây chiến tranh để khiến cho thần dân bị bận tâm và luôn luôn cần đến một người lãnh đạo. Trong khi quyền lực của nhà vua được duy trì nhờ ở những người bạn, ngược lại, nhà độc tài lại ngờ vực ngay cả những bạn bè của mình, vì họ biết rằng mọi người đều muốn lật đổ họ, vì chính những người bạn này là những kẻ có đủ lực để tạo ra đảo chánh.

Chưa hết, nhà độc tài cũng áp dụng những mưu chước quỷ quyệt thường được sử dụng trong những chế độ dân chủ cực đoan. Thí dụ như cho phụ nữ có quyền lực trong gia đình để họ báo cáo về hành vi của người chồng và cho phép nô lệ được quyền báo cáo chủ. Lý do là vì nô lệ và phụ nữ không âm mưu chống lại nhà độc tài mà lại còn ủng hộ chế độ độc tài và chế độ dân chủ—họ được sống sung sướng hơn dưới hai chế độ này. Vì người ta có khuynh hướng làm hài lòng bậc quân vương, cho nên, trong cả chế độ quân chủ lẫn độc tài, những kẻ nịnh hót thường được giữ chức vụ cao; còn trong chế độ dân chủ, đó chính là những kẻ mị dân, và nhà độc tài chỉ thích những kẻ xu nịnh khúm núm ở chung quanh

Cho nên, những nhà độc tài luôn luôn ưa thích những người xấu, vì họ thích được nịnh hót, ngược lại không có người nào có tinh thần của một người tự do lại hạ mình xuống nịnh hót người khác. Những người tốt có thể làm bạn với họ, nhưng chắc chắn không bao giờ nịnh hót. Thêm vào đó, những người xấu lại hữu dụng cho những mục đích xấu, như tục ngữ thường nói “dĩ độc trị độc.” Tính cách của kẻ độc tài là không ưa bất cứ ai có sự độc lập và nhân phẩm; y chỉ muốn mình là người duy nhất có những phẩm chất đó, và những ai tỏ ra mình là người có tư cách và độc lập thì họ đã xâm phạm vào đặc quyền và trở thành kẻ thù của nhà độc tài. Một đặc tính khác nữa của nhà độc tài là ưa thích ngoại kiều hơn là thần dân của mình và thích giao dịch với họ. Thần dân bị họ coi là kẻ thù, còn ngoại kiều thì không có gì tranh chấp với họ hết.

Đó là những điều nhà độc tài cần ghi nhớ và những mưu chước cần dùng để duy trì quyền lực; đối với nhà độc tài, không có thủ đoạn xấu xa nào y không dám làm. Những điều ta đã bàn có thể tóm lại thành ba điểm chính ứng với ba mục tiêu của nhà độc tài. Đó là (1) làm mất phẩm giá của thần dân, vì những người có ý chí thấp kém thì sẽ chẳng dám âm mưu chống lại ai; (2) tạo ra sự nghi kỵ giữa đám thần dân với nhau, vì chẳng ai dám lật đổ nhà độc tài cho đến khi người dân bắt đầu có được sự tin tưởng lẫn nhau; đó cũng là lý do tại sao nhà độc tài phải luôn tìm cách đàn áp những người tốt vì không những không thể cai trị họ một cách độc đoán, mà còn vì họ luôn trung thành với nhau; (3) nhà độc tài muốn cho thần dân của mình không có khả năng hành động, bởi vì chẳng có ai lại đi làm một việc bất khả thi. Nếu họ bất lực thì họ sẽ không nghĩ đến cách lật đổ nhà độc tài. Đó là ba điểm chính tạo nên chính sách của nhà độc tài. Ta có thể suy từ đó ra như sau: (1) tạo nghi kỵ giữa quần chúng; (2) tước đoạt khả năng hành động; (3) hạ thấp phẩm giá của thần dân.

Đây là một trong hai phương pháp qua đó các chế độ độc tài được duy trì, và phương pháp thứ hai hầu như lại theo một nguyên tắc trái ngược hẳn với phương pháp thứ nhất. Ta có thể hiểu được phương pháp này bằng cách so sánh với những nguyên do dẫn dến sự sụp đổ của chế độ quân chủ. Vì một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ này là sự biến thể chế độ quân chủ thành độc tài, cho nên, để duy trì chế độ, nhà độc tài nên cai trị như thể đó là một chế độ quân chủ. Nhưng nhà độc tài phải cẩn thận và phải giữ đủ quyền lực cai trị thần dân dù họ có muốn hay không. Nếu bỏ mất quyền lực này thì chế độ độc tài cũng tiêu vong. Nhưng dù phải giữ quyền lực để làm căn bản, trên những phương diện khác nhà độc tài phải tỏ ra có phong thái của một vị vua.[14] Trước hết, nhà độc tài phải làm bộ như là quan tâm đến công quỹ và không phí phạm của công vào những món quà xa xỉ khiến quần chúng phải bất bình khi thấy mồ hôi nước mắt của họ bị tước đoạt và phung phí cho những tì thiếp hay giao thương với ngoại quốc. Nhà độc tài nên công bố cho nhân dân biết con số chi thu của công quỹ (một phương cách mà nhiều nhà độc tài đã áp dụng)[15] để cho nhân dân thấy mình là người chăm lo cho dân chứ không phải là nhà độc tài; làm như vậy nhà độc tài cũng không sợ bị thâm hụt ngân sách vì quyền lực vẫn còn nắm chắc trong tay. Chính sách này còn có nhiều lợi điểm khi nhà độc tài phải xuất ngoại và để lại một ngân khố bị thiếu hơn là dư; lý do là vì một ngân khố vơi sẽ ít khi làm cho các quan coi ngân khố ở trong nước nổi lòng tạo phản. Và nhà độc tài khi xuất chinh có nhiều lý do để sợ các quan trông coi tài chánh ở nhà tạo phản hơn là sợ nhân dân vốn thường tháp tùng nhà độc tài đi chinh chiến. Thứ hai, nhà độc tài nên tỏ ra rằng mình có thâu thuế hay bắt dân chúng làm sưu dịch là chỉ vì lợi ích chung của cả nước, hay để dành cho ngân sách chiến tranh, và luôn luôn tỏ ra mình là người bảo hộ của dân và những tài sản đó là của nhân dân. Nhà độc tài nên tỏ ra uy nghiêm chứ đừng hà khắc và khiến cho dân khi gặp mặt phải tôn kính thay vì sợ hãi. Dù sao, đối với một nhà độc tài thật khó mà khiến cho dân tôn kính khi chính y không tạo được lòng kính trọng của nhân dân; cho nên, nếu nhà độc tài không có vẻ uy nghi hay các đức tính khác, thì tối thiểu cũng phải tỏ ra có phong cách một tướng quân lẫm liệt. Nhà độc tài và những quan lại phải tránh không được xâm phạm tiết hạnh của thần dân, trai cũng như gái.[16] Phụ nữ trong gia đình của nhà độc tài cũng phải giữ ý trong quan hệ với những phụ nữ khác. Sự xấc láo của phụ nữ đã làm sụp đổ nhiều chế độ độc tài. Còn về việc hưởng thụ, nhà độc tài nên tránh không như những nhà độc tài ta thấy hiện nay là say sưa và hưởng lạc từ sáng đến tối khiến cho dân chúng ganh ghét. Trong việc hưởng thụ, nhà độc tài phải tỏ ra điều độ có chừng mực, còn nếu không thì cũng không phơi bày những thói xấu cho dân chúng biết. Một nhà độc tài mà lúc nào cũng say sưa và ngầy ngật thì chẳng sớm thì muộn cũng bị khinh bỉ và lật đổ.

Cách hành xử của nhà độc tài cũng vậy, phải ngược lại với hầu hết những cách cư xử của nhà độc tài ta đã bàn trước đây. Nhà độc tài phải lo tô điểm và cải tiến quốc gia, như thể mình không phải là nhà độc tài mà là người bảo hộ quốc gia. Thêm nữa, nhà độc tài cũng phải tỏ ra là một người phục vụ Thượng đế một cách nhiệt thành; vì nếu người dân nghĩ rằng người cầm quyền là một người có niềm tin và kính phục Thượng đế, thì họ sẽ cảm thấy an tâm hơn và không sợ bị nhà cầm quyền đối xử bất công, và như thế sẽ ít có khuynh hướng làm phản hơn, nhất là khi họ nghĩ rằng nhà cầm quyền được Thượng đế phù trợ. Nhưng nhà độc tài cũng phải cẩn thận đừng để cho người dân nghĩ rằng mình là kẻ hồ đồ mê tín dị đoan. Nhà độc tài cũng phải đề cao những người có tài và tạo cho họ cảm tưởng rằng chỉ có dưới chế độ của mình họ mới được hưởng danh vọng như vậy, chứ còn dưới chế độ dân chủ thì họ sẽ không được hưởng danh vọng như vậy. Nhà độc tài phải tự thân hành ban phát danh vọng, nhưng khi trừng phạt thì nên để cho tòa án hay viên chức chánh quyền thi hành. Cũng giống như trong trường hợp những chế độ quân chủ, nhà độc tài không nên ban phát danh vọng cao cả cho riêng một cá nhân nào mà nên cho nhiều người cùng một lúc, vì những người này sẽ tự động canh chừng lẫn nhau. Còn nếu mà phải khen thưởng một cá nhân nào thật là xuất sắc, thì người đó không nên là người có tinh thần táo bạo, vì tính chất táo bạo rất khó bị kềm chế để không đi chệch hướng. Và nếu phải thu hồi quyền lực của ai, thì việc này nên làm từ tốn, chứ đừng tước hết quyền lực ngay một lúc. Nhà độc tài còn phải tự chế không làm những hành vi trắng trợn sỉ nhục người khác, một cách cụ thể là những hành vi phóng đãng đối với người trẻ, và phải đặc biệt thận trọng đối với những người trọng danh dự. Nếu những kẻ yêu tiền bị xúc phạm khi của cải của họ bị ảnh hưởng, thì những người trọng danh dự sẽ bị xúc phạm khi danh dự bị tổn thương. Cho nên, nhà độc tài không bao giờ phạm vào những hành vi vừa nêu mà nên tỏ ra là một người cha sửa đổi chứ không chà đạp con dân và trong quan hệ với giới trẻ phải tỏ ra đó là tình thương mến chứ không phải lạm dụng quyền lực. Một cách tổng quát, đối với những trường hợp người dân bị xúc phạm, nhà độc tài phải biểu lộ sự quan tâm bằng sự đền bù danh dự nhiều hơn.

Đối với những kẻ mưu toan ám sát, đó là những kẻ nguy hiểm nhất và cần phải bị canh chừng rất cẩn thận, vì đó là những kẻ sẵn sàng liều mạng. Cho nên, nhà độc tài cần phải đặc biệt chú ý đến những người nghĩ rằng chính họ hay người thân của họ bị lăng nhục, vì những người do xúc cảm mà tấn công người khác thường không còn lý gì đến sinh mạng nữa. Heracleitus đã nói: “Khó lòng chống lại cơn nóng giận, vì người ta đã sẵn sàng liều mạng.”

Còn trong một nước mà có hai giai cấp giàu và nghèo, nhà độc tài nên tỏ ra cho cả hai biết rằng họ đều được bảo vệ và không để cho bên nào làm hại bên nào. Còn nếu bên nào mạnh hơn thì nhà độc tài nên sát nhập vào lực lượng của mình. Làm như vậy nhà độc tài không cần phải giải phóng nô lệ hay tước khí giới của công dân. Bất kể là bên nào khi được sát nhập vào lực lượng có sẵn đều khiến cho lực lượng của nhà độc tài trở nên mạnh mẽ hơn.

Tới đây ta đã có đủ chi tiết để hình dung ra chính sách chung của một nhà độc tài. Nhà độc tài phải biểu lộ cho thần dân thấy mình là người bảo hộ và là một nhà vua chứ không phải là nhà độc tài. Nhà độc tài không nên chiếm hữu tài sản của thần dân, phải tỏ ra là người ôn hòa, chừng mực và có cuộc sống không quá xa hoa, phải tranh thủ thành phần quý tộc bằng tình thân thiện và quần chúng bằng những lời ngọt ngào phủ dụ. Làm như vậy thì nhà độc tài sẽ cai trị dễ dàng hơn và cao quý hơn vì thần dân là những người dân tốt hơn vì không bị đàn áp, và chính nhà độc tài không trở thành đối tượng bị căm ghét và không cần phải sợ hãi gì nữa. Quyền lực của nhà độc tài, do đó, sẽ tồn tại lâu hơn. Tính tình của nhà độc tài sẽ trở nên tốt lành, hoặc không tốt hẳn thì cũng không xấu hẳn.

 

Chương XII

Thế nhưng không có một mô hình chính quyền nào mà lại tồn tại ngắn ngủi như chế độ quả đầu và độc tài. Chế độ độc tài do Orthagoras và các con cháu cai trị kéo dài được một trăm năm. Lý do là dòng họ Orthagoras cai trị vừa phải, không có những chính sách hà khắc quá và phần lớn là theo những luật lệ đã được ban hành. Nhà độc tài Cleithenes thì lại được thần dân  tôn trọng nhờ vào tài quân sự. Nếu ta có thể tin được những tài liệu còn để lại, thì Cleithenes còn trao tặng huân chương cho người trọng tài khi quyết định là ông ta đã thua trong một cuộc thi đua, và người ta còn truyền rằng bức tượng người ngồi giữa quảng trường Sicyon có dáng vẻ của người trọng tài này. Một truyện tương tự là nhà độc tài Peisistratus xứ Athens thỉnh thoảng cũng bị Viện Lập pháp Athens gọi ra chất vấn.

Nếu tính về thời gian tồn tại lâu dài, thì sau chế độ Orthagoras là chế độ của Cypselidae, xứ Corinth; chế độ này tồn tại được bảy mươi ba năm và sáu tháng: Cypseles cai trị được ba mươi năm, Periander được bốn mươi năm rưỡi, và  Sammetichus (con của Gorgus) được ba năm. Sự liên tục của chế độ này cũng từ những nguyên do tương tự như đã bàn ở trên: Cypselus là một nhà lãnh đạo được lòng dân đến nỗi trong suốt thời gian cai trị không cần dùng đến quân thị vệ; còn Periander, dù là một nhà độc tài, nhưng cũng là một quân nhân tài ba. Kế đến là chế độ của Peisistratidae tại Athens; nhưng chế độ này không được liên tục. Peisistratidae bị nhân dân trục xuất hai lần, thành ra trong ba mươi ba năm, ông ta trị vì chỉ được mười bảy năm và con trai nối nghiệp được mười tám năm——tổng cộng là ba mươi lăm năm. Trong số những nhà độc tài khác mà tồn tại lâu dài, thì phải kể đến Hiero và Gelo ở xứ Syracuse. Tuy thế, các chế độ này cũng chỉ được tổng cộng mười tám năm. Gelo cai trị trong bảy năm và chết vào năm thứ tám; Hiero cai trị được mười năm, và Thrasybulus bị lật đổ sau mười tháng cai trị. Thực ra, các chế độ độc tài thường chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian ngắn ngủi.

Tôi đã điểm qua hầu hết những nguyên nhân mà những chế độ theo hiến pháp và quân chủ được duy trì hay bị hủy diệt.

Trong Cộng Hòa Luận của Plato, Socrates bàn về những sự thay đổi chế độ, nhưng không được sâu sắc cho lắm, vì ông không nhắc gì đến nguyên nhân gây ra sự thay đổi có ảnh hưởng đến cái nhà nước đầu tiên, tức là nhà nước toàn hảo. Ông chỉ nói rằng nguyên nhân của những thay đổi là vì không có gì trên đời tồn tại vĩnh viễn, và mọi điều đều thay đổi theo một chu kỳ nhất định; thêm vào đó, nguồn gốc của sự thay đổi này bao gồm trong những con số “3, 4 và 5” tạo thành một cấp số hài hòa.[17] Socrates cho rằng thiên nhiên cũng có lúc sản sinh ra những người xấu không thể giáo hóa được, và về điều này thì ta thấy cũng đúng vì thực sự có những người không thể nào giáo hóa được để trở thành người tốt.[18] Nhưng ông không giải thích tại sao đó chỉ là nguyên nhân gây ra thay đổi cho nhà nước hoàn hảo mà không xảy ra cho mọi mô hình nhà nước khác, hay bất cứ điều gì hiện hữu? Còn nữa, nếu theo lập luận là thời gian làm thay đổi mọi sự, thì chẳng lẽ những sự việc không khởi đầu cùng lúc như nhau, phải thay đổi cùng một lúc? Thí dụ, nếu có vật gì đó được tạo ra trong ngày trước khi chu kỳ thời gian hoàn tất, thì vật đó có phải thay đổi cùng với những vật được tạo ra trước khi nó hiện hữu không? Thêm nữa, tại sao mô hình nhà nước hoàn hảo lại phải chuyển đổi thành mô hình nhà nước Sparta? Chính quyền thường thay đổi sang mô hình đối nghịch với nó chứ không sang mô hình tương tự. Lập luận này cũng có thể áp dụng cho những thay đổi mà Socrates nhắc tới, như chế độ Sparta chuyển sang quả đầu, rồi từ quả đầu chuyển sang dân chủ, rồi từ dân chủ sang chế độ độc tài. Nhưng thực ra những sự thay đổi chính thể lại theo chiều hướng ngược lại; chế độ dân chủ dễ bị thay đổi thành quả đầu hơn là thành quân chủ. Ngoài ra, Socrates không hề bàn tới việc chế độ độc tài có dễ bị thay đổi hay không, và nếu có thì nguyên nhân là gì và thay đổi sang mô hình nào. Lý do là vì ông không giải thích được. Theo lập luận của Socrates thì sau khi chuyển biến sang chế độ độc tài, thì nhà nước đó sẽ phải chuyển biến để trở lại tình trạng hoàn hảo lúc ban đầu để hoàn tất một chu kỳ. Nhưng trong thực tế thì một chế độ độc tài thường thay đổi thành một chế độ độc tài khác, như chế độ tại Scyon đổi từ chế độ độc tài của Myron sang chế độ độc tài của Cleithenes; hay sang chế độ quả đầu như nhà độc tài Antileon đã làm ở Chalcis; hay sang chế độ dân chủ như gia đình Gelo đã làm tại Syracus; hay sang chế độ quý tộc như ở Carthage, hay nhà độc tài Charilaus đã làm ở Sparta. Thông thường chế độ quả đầu thay đổi thành độc tài như hầu hết các chế độ quả đầu thời cổ tại Sicily, thí dụ như chế độ quả đầu tại Leontini đổi thành chế độ độc tài của Panaetius; như chế độ quả đầu tại Gela biến thành chế độ độc tài của Cleander, và tại Rhegium biến thành chế độ độc tài của Anaxilaus. Điều này cũng xảy ra cho nhiều nước khác. Đây cũng là điều kỳ lạ trong lập luận của Socrates khi cho rằng một nước biến sang quả đầu chỉ vì giai cấp cai trị trở thành những kẻ yêu tiền, chứ không phải vì những người giàu có cho rằng đó là điều bất công khi cho những người nghèo khó được tham dự vào chính quyền như họ. Hơn nữa, trong nhiều chế độ quả đầu có những luật lệ cấm những việc làm mang lại lợi tức. Nhưng tại Carthage, một chế độ dân chủ, thì lại không cấm đoán điều này; và cho đến ngày nay, người Carthage chưa làm cách mạng bao giờ hết. Một điều lạ nữa là Socrates lại cho rằng chế độ quả đầu gồm có hai nước, một của người giàu và một của người nghèo. Chẳng phải đây là điều mà nước nào cũng có, vì có nước nào mà người dân ai cũng giàu có (hay nghèo), hay tốt như nhau? Một người dân không cần phải trở nên nghèo hơn ngày hôm trước, nhưng một chế độ quả đầu có thể thay đổi thành dân chủ nếu người nghèo trong chế độ này trở thành đa số; và chế độ dân chủ có thể trở thành quả đầu nếu những người giàu có trở thành đa số và năng động hơn thành phần còn lại. Chưa hết, dù những nguyên nhân gây ra thay đổi chế độ thì nhiều không đếm xuể, nhưng Socrates chỉ điểm qua một điều, đó là người dân trở nên nghèo vì phung phí tài sản và mang nợ, như thể tất cả những người dân, hay đa số người dân đều là những người giàu có từ thuở ban đầu. Điều này không đúng, mặc dầu có thể đúng với những người lãnh đạo khi họ bị mất hết tài sản thì rất dễ làm “cách mạng.” Nhưng với đa số dân chúng thì không đúng là họ sẽ thay đổi chế độ thành dân chủ mà có thể thay đổi thành bất cứ mô hình chính quyền nào khác. Nói cách khác, nếu người ta bị tước đoạt danh dự, bị xâm phạm, làm nhục, thì người ta sẽ làm cách mạng và thay đổi chế độ, dù cho họ không có phung phí tài sản theo kiểu tự do quá trớn như Socrates đã lập luận.

Tóm lại, mặc dù có nhiều loại chế độ quả đầu và dân chủ, Socrates chỉ bàn đến một mô hình thay đổi chế độ mà thôi.

(còn tiếp)

Nguồn: “Chính Trị Luận” của Aristotle
Nông Duy Trường dịch, đăng trên Học viện Công dân


[14] Trong đoạn này Aristotle đưa ra những “thuật làm nhà độc tài” mà Machiavelli sau này đã dẫn trong quyển “Quân Vương” vào thế kỷ 16.

[15] Dưới chế độ độc tài, ngân quỹ chỉ luôn luôn thiếu chứ không thể có dư, nhưng khi chi thu được tuyên bố công khai, người dân sẽ có cảm tưởng là nhà độc tài là người chính trực (Người dịch).

[16] Người Hy lạp thời cổ chấp nhận đồng tính luyến ái (Người dịch).

[17] Có lẽ Socrates ám chỉ định lý Pythagore (một tam giác vuông có chiều dài của ba cạnh là 3, 4, và 5): 32 + 42 = 52.

[18] Plato và những người theo trường phái triết lý của ông, như Pythagore, tin rằng vũ trụ được điều hành bởi một sự kỳ bí của toán học, và khuyến cáo rằng những nhà lãnh đạo của nhà nước hoàn hảo phải chú trọng đến việc phối hợp hôn nhân để cho sự truyền giống được bảo đảm tốt, phù hợp với quy luật của toán học chi phối cả vũ trụ thiên nhiên và con người (theo ghi chú của Barker).

Hits: 29

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *