(Trích Quyển 5 trong bộ Chính Trị Luận của Aristotle, Nông Duy Trường dịch, đăng trên Học viện Công dân)

 

Chương X

Chúng ta còn phải bàn về quân chủ cùng những nguyên nhân gây ra sự sụp đổ và cách thức bảo tồn chế độ này.[7] Những điều ta đã bàn ở trên liên quan đến chế độ hiến pháp trị cũng đúng trong chế độ quân chủ và chế độ độc tài. Vì chế độ quân chủ về bản chất là chế độ quý tộc, và chế độ độc tài là sự kết hợp của chế độ quả đầu và dân chủ dưới dạng cực đoan nhất; cho nên, chế độ độc tài là chế độ gây ra nhiều tai hại nhất cho dân chúng vì được tạo nên bởi hai loại chính quyền xấu xa và có cả những sai lầm và bại hoại của cả hai. Hai loại chế độ quân chủ tương phản với nhau từ bản chất. Việc một người được đề cử lên làm vua là cách thức những giai cấp khá giả hơn dùng để cai trị dân nghèo. Vị vua được đề cử lên từ trong chính giai cấp của họ vì chính nhà vua hay dòng dõi của nhà vua vượt trổi hơn người về tài năng và đức hạnh. Còn nhà độc tài được quần chúng chọn ra để làm người bảo hộ cho họ không bị giai cấp quý tộc làm phương hại. Lịch sử đã chứng minh là hầu như tất cả mọi nhà độc tài đều là những kẻ mị dân được lòng của quần chúng vì tấn công giai cấp quý tộc. Đó chính là cách thức những kẻ độc tài lên nắm quyền khi quốc gia phát triển nhân số. Những cách thức khác xuất phát từ tham vọng của những ông vua muốn vượt quá giới hạn quyền lực đã được thừa hưởng và trở thành nhà độc tài. Lại còn những kẻ là quan chức cao cấp tiếm quyền để trở thành độc tài, vì vào thời cổ những quan chức chính quyền hay chức sắc tôn giáo đều có nhiệm kỳ rất dài. Sau cùng là trường hợp trong chế độ quả đầu vẫn có tập quán trao cho một cá nhân quyền lực cao nhất. Trong tất cả những trường hợp vừa nêu, một người có tham vọng—nhà vua hay quan chức cao cấp, nếu muốn sẽ trở thành một kẻ độc tài một cách dễ dàng vì đã nắm sẵn quyền lực trong tay. Do đó, Pheidon tại xứ Argos và rất nhiều những người khác, đầu tiên là vua nhưng rồi lại trở thành độc tài; trong khi Phalaris và những nhà độc tài xứ Ion khởi đầu là những quan chức cao cấp tiếm quyền, và Panaetius xứ Leontini, Cypselus xứ Corinth, Peisistratus tại Athens, Dionysius tại Syracuse, và những kẻ khác đều là những kẻ mị dân trở thành độc tài.

Chế độ quân chủ, như ta đã thấy, mang bản chất quý tộc, và cũng giống như quý tộc, được đặt căn bản trên tài năng của cá nhân hay của dòng họ, hay trên quyền và lợi đã được phong thưởng. Những cá nhân được hưởng vinh dự này đều là những người đã mang lại lợi ích cho quốc gia; đó là những người như Codrus đã giúp cho dân tộc tránh khỏi nạn bị bắt làm nô lệ trong chiến tranh, như Cyrus đã mang lại tự do cho xứ sở, hay đã giành được thêm lãnh thổ cho quốc gia như những vị vua của Sparta, Macedonia, và những vị vua dòng Molossoi của xứ Epirus. Một người được tôn xưng là vua để bảo vệ người giàu có không bị đối xử bất công, và bảo vệ quần chúng không bị đàn áp và lăng nhục. Trong khi đó, nhà độc tài, như ta vẫn thường thấy, không quan tâm đến bất cứ quyền lợi nào của quần chúng, ngoại trừ những điều gì đưa đến lợi ích cá nhân. Mục đích của kẻ độc tài là sự khoái lạc của chính hắn, còn mục đích của nhà vua là danh dự. Vì thế, nhà vua và kẻ độc tài khác nhau về sự ham muốn. Kẻ độc tài khao khát giàu có, còn nhà vua khao khát danh vọng. Những người lính bảo vệ cho nhà vua là công dân, còn của kẻ độc tài là những tên lính đánh thuê.

Một sự thật hiển nhiên là chế độ độc tài bao gồm tất cả những cái xấu xa của chế độ dân chủ và quả đầu. Cũng giống như chế độ quả đầu, cứu cánh của chế độ độc tài là tích lũy của cải (nhà độc tài chỉ có thể nhờ tài sản mà duy trì được quân bảo vệ và nếp sống xa hoa của mình). Cả hai chế độ này đều không tin tưởng quần chúng, cho nên, không cho phép nhân dân được vũ trang. Cả hai chế độ cùng đàn áp quần chúng và xua đuổi họ ra khỏi thành phố và phân tán họ về nông thôn. Những nhà độc tài còn dùng phương cách của chế độ dân chủ là gây chiến với thành phần quý tộc và tiêu diệt họ ngấm ngầm hay công khai, hay trục xuất họ khỏi quốc gia vì họ cản trở con đường tiếm quyền của kẻ độc tài. Thực ra, thành phần quý tộc cũng không hẳn là trở lực, mà cũng là những kẻ đồng phạm của kẻ độc tài, vì chính họ cũng muốn trở thành người cai trị hay không thích bị cai trị. Như thế ta hiểu được tại sao Periander lại khuyên Thrasybulus là nên cắt cho bằng ngọn những cây bắp nào mọc cao hơn những cây khác, tức là đuổi những người nào trổi vượt hơn số đông. Tóm lại, như tôi đã trình bày cặn kẽ, sự thay đổi chế độ nào cũng khởi đầu giống nhau, từ chế độ quân chủ cho đến chế độ theo hiến pháp; thần dân tấn công giai cấp lãnh đạo vì hoặc là khinh ghét hoặc là sợ hãi hoặc là vì bị đối xử bất công. Trong những sự bất công thì hành vi xúc phạm đến phẩm giá và chiếm đoạt tài sản là những nguyên nhân thường đưa đến sự nổi loạn nhất.

Mục đích của những kẻ âm mưu chống lại chế độ quân chủ, dù đó là nhà độc tài[8] hay vương thất cũng giống như mục đích của những kẻ âm mưu chống lại những chế độ khác. Những bậc quân vương có tài sản và danh vọng lớn lao và đó là những điều mơ ước của toàn thể nhân loại. Những mưu toan chống lại nhà vua có khi chỉ nhằm vào địa vị, có khi lại nhằm vào cá nhân của nhà vua. Khi động cơ nổi loạn là sự bị lăng nhục, lúc đó tính mạng của nhà vua khó lòng được bảo đảm. Bất kỳ một sự lăng nhục nào (có rất nhiều sự lăng nhục) cũng có thể làm cho người ta nổi giận, và khi giận dữ, người ta thường hành động để trả thù chứ không vì tham vọng. Thí dụ như Harmodius âm mưu chống lại Peisistratidae vì nhà vua đã công khai làm nhục em gái của Harmodius.[9] Cho nên Harmodius âm mưu thí vua để rửa nhục cho gia đình và Aristogeiton cũng tham gia vì là bạn của Harmodius. Một âm mưu chống lại Periander, nhà độc tài xứ Ambracia, vì trong lúc yến tiệc với một sủng thần nam giới đã bỡn cợt và làm nhục gã này. Philip, một nhà độc tài khác, cũng bị Pausanias tấn công vì để cho gã này bị Attalus và bạn lăng nhục. Vua Amyntas đệ nhị cũng bị Derdas sát hại vì đã khoe khoang là có quan hệ tình dục với Derdas. Evagoras, vua xứ Cyprus, bị một tên hoạn quan sát hại để trả mối thù bị làm nhục vì vợ của y bị con trai của Evagoras cuỗm mất. Rất nhiều những âm mưu bắt nguồn từ những hành vi đáng khinh bỉ của người lãnh đạo đối với thần dân của mình. Thí dụ như vụ Crataeas tấn công vua Archelaus. Crataeas luôn luôn có ác cảm với Archelaus, cho nên, khi nhà vua thất hứa không gả một trong hai cô con gái cho mình mà lại gả cô chị cho vua xứ Elymeia và cô em cho Amyntas với hy vọng là Amyntas sẽ không gây rắc rối với con trai của nhà vua với Cleopatra—Crataeas dùng việc này làm nguyên cớ để đánh Archelaus, dù rằng một chuyện nhỏ hơn thế cũng đủ làm động cơ tạo phản, vì nguyên do chính là mối ác cảm có sẵn đối với nhà vua. Và cũng từ một động cơ tương tự Hellonocrates của xứ Larissa đồng mưu với Crataeas để đánh lại vua Archelaus, tình nhân của mình, vì Archelaus đã không làm tròn lời hứa đưa mình lên làm vua xứ Larissa vì mối quan hệ giữa hai người không phải vì tình yêu mà vì quyền lực. Pytho và Heracleides xứ Aenos cũng vậy, giết Cotys để trả thù cho cha, và Adamas nổi lên chống lại Cotys để trả thù cho việc bị nhà vua ngược đãi tình dục khi còn là thiếu niên.[10]

Nhiều người khác đã giết những quan chức của nhà nước và hoàng thân vì cảm thấy bị những người này lăng nhục. Vì thế, tại Mytilene, Megacles cùng bạn bè tấn công và giết chết những kẻ cầm quyền thuộc dòng họ Penthilidae, vì họ đánh đập nhân dân nơi công cộng. Một thời gian sau, Smerdis, người bị nhà độc tài Penthilus đánh đập và chia rẽ vợ con, đã giết chết nhà vua này. Trong một âm mưu chống lại Archelaus, Decamnichus đã khích động những kẻ thích khách và chỉ huy nhóm này tấn công Archelaus. Tất cả chỉ vì nhà vua đã để cho Decamnichus bị thi sĩ Euripides dùng trượng đánh nơi công cộng vì đã dám chê hơi thở của Euripides không được thơm tho. Còn nhiều thí dụ khác cho thấy mưu toan thí vua đã xảy ra vì những lý do tương tự.

Sự sợ hãi cũng là một động cơ khác khiến người ta âm mưu tạo phản trong cả chế độ quân chủ lẫn những chế độ khác. Artapanes âm mưu tạo phản và hành thích Xerxes,[11] vì sợ nhà vua xử phạt về tội đã xử giảo Darius mà không có lệnh của vua, dù trong một buổi tiệc nhà vua đã ban lời tha tội, nhưng Artapanes vẫn sợ nhà vua sẽ quên mất lời tha tội.

Một động cơ khác nữa là sự khinh bỉ và coi thường, như trường hợp của Sardanapalus, vua xứ Assyria bị giết vì người ta thấy ông ngồi chải len, đan áo với phụ nữ. Chuyện này do người ta kể lại, không biết đúng hay sai, nhưng nếu không đúng trong trường hợp này, thì cũng đúng trong trường hợp khác. Dion tấn công Dionysius đệ Nhị, vua xứ Syracuse, vì khinh bỉ nhà vua lúc nào cũng say sưa và thấy rằng nhà vua bị chính thần dân khinh ghét. Ngay cả những người bạn của nhà độc tài cũng sẽ có khi tấn công ông ta vì khinh bỉ; sự ỷ lại vào thuộc hạ sẽ khiến cho họ nảy sinh lòng khinh miệt vì họ nghĩ rằng nhà độc tài sẽ chẳng bao giờ để ý đến điều gì hết.Ngoài ra, triển vọng thành công trong âm mưu thí vua cũng là một động cơ giống như sự khinh miệt. Những kẻ âm mưu dám nổi loạn và không quản đến hiểm nguy vì họ nghĩ rằng đã nắm được sức mạnh trong tay. Cho nên, những ông tướng trong quân đội thường tấn công những nhà vua của mình. Thí dụ như Cyrus tấn công nhà vua Astyages vì khinh thường lối sống xa hoa và sự nhu nhược của nhà vua. Seuthes, một tướng quân người xứ Thrace đã âm mưu chống lại vua Amadocus cũng vì những lý do tương tự.

Cũng có khi người ta bị khích động làm loạn vì nhiều lý do, như Mithridates mưu toan làm phản lại phó vương Ariobarzanes một phần vì xem thường vị phó vương này, phần khác vì lòng tham của cải.

Những kẻ có bản tính cương cường lại được nắm quyền quân sự cao là những kẻ rất dễ nổi lòng tạo phản khi thấy có cơ hội thành công, vì quyền lực làm gia tăng dũng khí cho nên sự kết hợp hai điều này lại sẽ làm cho những ông tướng có hy vọng thành công trong việc tạo phản một cách dễ dàng.

Còn những âm mưu do danh vọng thúc đẩy lại xảy ra theo một cách khác với những điều ta mới bàn. Có những người sẽ không bao giờ liều mạng với một niềm hy vọng là sẽ thủ đắc được của cải hay chức vụ dù những điều đó có lớn lao đến đâu, nhưng họ lại sẵn sàng hành thích nhà vua, vì đó là một hành vi táo tợn khiến cho họ được nổi danh khắp thế giới. Những kẻ này không thèm muốn một vương quốc, mà thèm muốn danh vọng. Tuy nhiên, cũng hiếm khi có những người như vậy, vì những ai mưu toan thí vua cũng phải chấp nhận cái chết nếu thất bại. Kẻ đó phải có cái tâm quyết tử của Dion, người dám tấn công Dyonysius chỉ với một ít quân sĩ đi theo: “Ta đã quyết chí rồi, bất kể kết quả thế nào ta cũng mãn nguyện, ngay cả phải gục chết khi vừa đổ bộ.” Đó là một quyết tâm không phải ai cũng có.

Những chế độ độc tài, giống như những loại chính thể khác, cũng bị một chính quyền ngoại bang mạnh hơn và có chế độ đối nghịch tấn công và tiêu diệt. Sự kiện này thật hiển nhiên, vì hai chế độ đối nghịch với nhau; và tất cả mọi người, nếu thấy có thể làm được điều họ muốn, thì họ sẽ làm liền. [Có hai nguyên nhân, thứ nhất,] theo nguyên tắc “thợ ghét thợ” của Hesiod,[12] chế độ dân chủ là chế độ phản diện của chế độ độc tài, vì cả hai rất giống nhau: dân chủ đi đến cực đoan trở thành độc tài; còn chế độ quân chủ và quý tộc xung đột với độc tài là vì đối nghịch về tinh thần.[13] Đó là lý do tại sao xứ Sparta, theo quân chủ, lại đàn áp hầu như toàn thể các chế độ độc tài, và xứ Syracuse dưới chế độ quý tộc cũng hành động tương tự trong thời thịnh trị của mình.

Chế độ độc tài cũng bị tiêu diệt vì nội họa, khi chính trong gia tộc của nhà độc tài chia rẽ, như trường hợp của Gelo và gần đây nhất là trường hợp của Dionysius. Trong trường hợp Gelo, Thrasybulus là anh của vua Gelo và Hiero, người kế vị Gelo. Khi Hiero qua đời, Thrasybulus lại nịnh hót con của Gelo, người kế vị Hiero và dụ dỗ vị hoàng tử này vào con đường hưởng lạc và thao túng quyền hành. Thân nhân của Gelo bèn tìm cách diệt trừ Thrasybulus hòng cứu lấy nhà độc tài, nhưng thấy thời cơ thuận tiện cũng chiếm lấy quyền hành và trục xuất tất cả ra khỏi nước. Trong trường hợp Dionysius thì Dion, cũng là họ hàng với nhà vua, tấn công và trục xuất nhà vua ra khỏi nước, và trở thành nhà độc tài kế tiếp, nhưng sau đó cũng bị ám sát chết.

Có hai động lực chính khiến cho những nhà độc tài bị lật đổ: sự khinh miệt và lòng oán ghét. Lòng dân oán ghét nhà độc tài là một điều ắt phải xảy ra, và sự khinh bỉ mới thường là nguyên nhân dẫn đến sự lật đổ. Ta thấy những nhà độc tài sau khi chiếm được quyền hành giữ vững được quyền thống trị, nhưng con cháu họ thừa kế không được lâu vì cuộc sống trong nhung lụa khiến họ trở nên hèn yếu và tạo ra nhiều cơ hội cho những người tạo phản. Sự giận dữ cũng bao hàm trong lòng oán ghét và dễ đưa đến tạo phản hơn. Sự giận dữ khiến người ta tấn công hung hãn hơn vì lúc đó họ không còn tuân theo lý trí nữa. Không có gì làm cho ta dễ nổi giận hơn là khi bị lăng nhục. Đây cũng là nguyên do đưa đến sự sụp đổ của dòng họ Peisistratidae và những nhà độc tài khác. Người ta khi oán ghét vẫn còn có lý trí, nhưng cơn giận thường đi đôi với sự tổn thương tâm lý, và sự tổn thương tâm lý khiến người ta không còn suy nghĩ gì được nữa.

Tóm lại, những nguyên do đưa đến sự sụp đổ của chế độ quả đầu và chế độ dân chủ cực đoan cũng là những nguyên nhân ảnh hưởng đến chế độ độc tài. Thực ra những chế độ trên khi đi đến cực đoan cũng chỉ là chế độ gồm có nhiều nhà độc tài mà thôi. Chế độ quân chủ là chế độ ít bị ảnh hưởng bởi những nguyên nhân từ bên ngoài tác động vào, cho nên, tồn tại lâu dài; chế độ này sụp đổ thường vì nội họa hơn là ngoại xâm. Sự diệt vong của chế độ quân chủ xảy ra theo một trong hai cách; thứ nhất là khi chính trong hoàng gia tranh giành quyền lực với nhau, và thứ hai là khi nhà vua muốn cai trị theo phong cách của một nhà độc tài, áp dụng quyền lực của mình trái với luật pháp. Chế độ quân chủ ngày nay không còn nữa, những chế độ nào tự cho là quân chủ thì hoặc là chế độ cá nhân cai trị hay độc tài mà thôi. Chế độ quân chủ là chế độ mà sự cai trị của nhà vua được sự ưng thuận của nhân dân và nhà vua là người quyết định tối cao trên tất cả những vấn đề quan trọng; nhưng ngày nay chế độ quân chủ đã trở thành lỗi thời vì người ta đã dần dần trở nên bình đẳng hơn, và không có ai được coi là có tài năng siêu tuyệt hơn người khác để xứng đáng hưởng những vinh dự của ngai vàng. Cho nên, người ta sẽ không còn chấp nhận một chế độ như vậy nữa. Và những kẻ nào mà chiếm lấy quyền lực bằng sức mạnh hay mưu toan thì tức khắc sẽ bị xem là độc tài. Trong chế độ quân chủ cha truyền con nối, một nguyên do khác đưa đến sự sụp đổ là những ông vua sẽ bị nhân dân khinh thường, vì dù không nắm quyền chuyên chế của nhà độc tài mà chỉ có danh vị hoàng gia thôi, thì nhà vua cũng đủ làm cho nhân dân bất mãn. Việc lật đổ những ông vua như vậy là một việc dễ dàng, vì nhà vua sẽ không còn được coi là vua nữa khi nhân dân đã hết thần phục. Nhà độc tài, trái lại, có thể duy trì chế độ lâu dài dù dân có thích hay không thích.

Sự suy sụp của chế độ quân chủ là do những nguyên do vừa trình bày và những nguyên do tương tự.

(còn tiếp)

Nguồn: “Chính Trị Luận” của Aristotle
Nông Duy Trường dịch, đăng trên Học viện Công dân


[7] Chế độ quân chủ (chính quyền một người), theo Aristotle, bao gồm cả chế độ do nhà vua cai trị hay chế độ độc tài cá nhân.

[8] Nhà độc tài (tyrant) theo tiếng Hy lạp là tyrannos, thời Aristotle dùng để chỉ người lên nắm quyền một cách bất hợp pháp bằng bạo lực, chứ chưa hẳn nhà độc tài đã là kẻ tàn ác.

[9] Em gái của Harmodius được nhà vua Peisistratidae mời dâng lễ vật trong một kỳ tế lễ thần linh, nhưng khi nghi lễ diễn ra thì nhà vua lại đuổi cô gái này ra vì cho rằng cô không còn là một trinh nữ. Đây là một điều sỉ nhục lớn lao cho cả gia đình Harmodius.

[10] Đoạn này Aristotle mô tả những sự nổi loạn liên quan đến tình dục đồng tính liên quan đến cung đình.

[11] Xerxes là đại đế của đế quốc Ba Tư, trị vì từ 485-465 trước Tây lịch. Ataphanes là chỉ huy của Ngự lâm quân.

[12] Hesiod là một thi sĩ nổi tiếng của Hy lạp trong khoảng năm thứ 700 trước Tây lịch. Nguyên tắc này có thể diễn nôm “hai cô ca sĩ có ưa nhau bao giờ.”

[13] Theo thuật ngữ ngày nay đó là “xung đột vì ý thức hệ.”

Hits: 24

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *