Unions Network: Phải làm gì để thu thập, sắp xếp và phân tích các bằng chứng, nhằm xác định sự thật và thủ phạm trong các vụ án hình sự? Cảnh sát có quyền và trách nhiệm gì trong từng giai đoạn của cuộc điều tra? Cảnh sát và Viện Kiểm sát phải tuân thủ những quy trình, nguyên tắc nào để không truy tố sai, không xâm phạm các quyền của nhân chứng và nghi phạm?

Để trả lời những câu hỏi này, mời các bạn đọc một giáo trình môn Điều tra Hình sự của Canada, mang tên “Giới thiệu môn Điều tra Hình sự: Quy trình, Thực hành & Tư duy”. Sách do thanh tra Rod Gehl và tiến sĩ Darryl Plecas biên soạn, do Viện Tư pháp British Columbia xuất bản năm 2016, và được chị Nguyễn Trang Nhung (CTV Mạng lưới Nghiệp đoàn) chuyển ngữ. Chúng tôi tin rằng giáo trình này sẽ giúp ích cho rất nhiều người Việt Nam – từ các phóng viên điều tra, luật gia, cho đến những nhà hoạt động muốn giám sát cơ quan thực thi pháp luật.

Xin click vào ĐÂY để đọc những chương đã dịch, hoặc vào ĐÂY để truy cập qua mục lục.

*

Chương 3: Những gì bạn cần biết về chứng cứ (tiếp)

 

Chủ đề 5: Chứng cứ buộc tội

Chứng cứ buộc tội là bất kỳ chứng cứ nào sẽ liên kết trực tiếp hoặc gián tiếp một người bị buộc tội với hành vi phạm tội đang được điều tra. Đối với một điều tra viên, chứng cứ buộc tội có thể được tìm thấy trong đơn kiện của nạn nhân, vật chứng, tường trình của nhân chứng hoặc các mối quan hệ tình tiết được kiểm tra, phân tích và ghi lại trong quy trình điều tra. Nó có thể là bất cứ gì từ chứng cứ trực tiếp của một nhân chứng nhìn thấy bị cáo phạm tội, đến chứng cứ gián tiếp của dấu vân tay được tìm thấy ở một địa điểm kết nối bị cáo với nạn nhân hoặc hiện trường vụ án.

Đương nhiên, chứng cứ trực tiếp cho thấy bị cáo phạm tội là chứng cứ buộc tội được ưa thích, nhưng, trong thực tế, chứng cứ này thường không có sẵn. Điều tra viên phải tìm kiếm và diễn giải các nguồn khác để tìm chứng cứ và thông tin. Thông thường, nhiều mảnh chứng cứ tình tiết được yêu cầu để làm thành một vụ án cho phép điều tra viên đạt được những căn cứ hợp lý để tin tưởng, và cho phép tòa án đạt được niềm tin vượt qua sự nghi ngờ hợp lý.

Một dấu vân tay duy nhất được phát hiện ở cửa của chiếc xe bị đánh cắp của tài xế sẽ không đủ để tòa án thấy một bị cáo phạm tội trộm cắp xe. Tuy nhiên, nếu bạn thêm chứng cứ nhân chứng cho thấy rằng có người đã thấy bị cáo ở gần chiếc xe vào thời điểm nó bị đánh cắp, và camera an ninh ghi lại cảnh bị cáo đi ra khỏi bãi đậu xe nơi chiếc xe bị đánh cắp được bỏ lại, và cảnh sát thấy bị cáo rời khỏi bãi rác nơi anh ta cố ném chìa khóa của chiếc xe bị đánh cắp đó vào bụi rậm, tòa án có thể sẽ có chứng cứ vượt qua sự nghi ngờ hợp lý.

Nếu nhiều chứng cứ buộc tội có thể được xác định để trình bày trước tòa dẫn đến một kết luận hợp lý, tòa sẽ thường đưa ra kết luận về chứng cứ vượt qua sự nghi ngờ hợp lý; trừ khi chứng cứ ngoại phạm được đưa ra để tạo một nghi ngờ hợp lý.

 

Chủ đề 6: Chứng cứ ngoại phạm

Chứng cứ ngoại phạm là trái ngược hoàn toàn với chứng cứ buộc tội ở chỗ nó có xu hướng cho thấy người bị buộc tội hoặc nghi phạm không phạm tội. Điều quan trọng đối với một điều tra viên là không chỉ tìm kiếm chứng cứ buộc tội, mà còn xem xét chứng cứ từ quan điểm ngoại phạm. Việc xem xét chứng cứ từ quan điểm ngoại phạm cho thấy rằng điều tra viên là khách quan và không rơi vào cái bẫy của tầm nhìn đường hầm (tunnel vision). Nếu có thể phát hiện chứng cứ ngoại phạm cho thấy nghi phạm không chịu trách nhiệm về tội phạm, thì điều này hữu ích cho cảnh sát vì nó cho phép loại bỏ nghi phạm đó và chuyển hướng điều tra để truy lùng hung thủ thực sự.

Đôi khi, chứng cứ ngoại phạm sẽ được đưa ra bởi người bào chữa tại phiên tòa để cho thấy bị cáo không liên quan đến tội phạm hoặc có lẽ chỉ liên quan ở mức độ thấp hơn. Vụ án trộm cắp xe đã đề cập ở phần trước là một vụ án với chứng cứ tình tiết mạnh; nhưng điều gì xảy ra nếu sự bào chữa tạo ra chứng cứ ngoại phạm sau đây:

  • Một nhân viên điều phối xe tải kéo làm chứng tại phiên tòa và tạo hồ sơ cho thấy bị cáo là tài xế xe tải kéo;
  • Vào ngày xảy ra vụ trộm xe, bị cáo đã được điều đến địa điểm xảy ra vụ trộm xe để hỗ trợ một người lái xe mở chiếc xe bị khóa;
  • Bị cáo làm chứng rằng anh ta chỉ giúp một người đàn ông khác vào được chiếc xe bị đánh cắp vì anh ta có thể nhìn thấy chìa khóa xe ở ghế trước;
  • Bị cáo giải thích rằng, sau khi mở xe, anh ta đã đồng ý gặp người đàn ông này tại bãi đậu xe nơi chiếc xe bị bỏ lại;
  • Anh ta nhận chìa khóa của chiếc xe bị đánh cắp từ người đàn ông khác để sau đó kéo chiếc xe đến trạm dịch vụ từ vị trí đó;
  • Khi bị cảnh sát tiếp cận, anh ta nói rằng anh ta trở nên lo lắng và nghi ngờ về chiếc xe anh ta vừa kéo; và
  • Anh ta cố ném chìa khóa đi vì anh ta có tiền án tiền sự và biết cảnh sát sẽ không tin anh ta.

Được cung cấp loại chứng cứ ngoại phạm này, tòa án có thể bác bỏ vụ kiện chống lại bị cáo.

Đọc xong câu trên, bạn có thể nghĩ rằng chứng cứ ngoại phạm và biện hộ này nghe có vẻ hơi mơ hồ, đó là vấn đề nan giải mà tòa án thường gặp phải. Nếu họ có thể tìm thấy sự có tội vượt qua sự nghi ngờ hợp lý, họ sẽ kết án, nhưng nếu người bào chữa có thể đưa ra chứng cứ tạo ra sự nghi ngờ hợp lý, họ sẽ đưa ra phán quyết vô tội. Những kẻ phạm tội có kinh nghiệm có thể rất thành thạo khi đưa ra những lời giải thích thay thế về sự liên quan của chúng trong các sự kiện hình sự, và đôi khi rất hữu ích cho các điều tra viên để xem xét liệu việc bịa ra một lời giải thích thay thế có thể xảy ra hay không. Nếu một lời giải thích thay thế có thể được dự đoán, điều tra bổ sung đôi khi có thể thách thức các khía cạnh không đúng sự thật của các khả năng thay thế.

 

Chủ đề 7: Chứng cứ chứng thực

Thuật ngữ chứng cứ chứng thực về cơ bản để chỉ bất kỳ loại chứng cứ nào có xu hướng hỗ trợ ý nghĩa, tính hợp lệ hoặc tính trung thực của một chứng cứ khác đã được trình bày trước tòa. Một mảnh chứng cứ chứng thực có thể có dạng vật chất, chẳng hạn như mẫu DNA từ bị cáo khớp với DNA được tìm thấy trên nạn nhân, do đó chứng thực lời khai của nạn nhân. Chứng cứ chứng thực cũng có thể đến từ tuyên bố của một nhân chứng độc lập cung cấp lời khai phù hợp với tường trình của các sự kiện được mô tả bởi một nhân chứng khác. Nếu có thể chứng minh rằng hai nhân chứng này đã được tách ra và không hợp tác hoặc nghe thấy tường trình của nhau, các tuyên bố của họ có thể được tòa án chấp nhận là tường trình chứng thực lẫn nhau của cùng một sự kiện.

Các tòa án định giá trị chứng minh lớn cho chứng cứ chứng thực bởi vì nó hỗ trợ tòa án đạt được niềm tin vượt qua sự nghi ngờ hợp lý. Đối với các điều tra viên, điều quan trọng là không chỉ tìm kiếm số lượng chứng cứ tối thiểu rõ ràng tại hiện trường của một tội phạm. Điều tra viên cũng phải tìm kiếm chứng cứ khác có thể chứng thực các sự kiện được chứng nhận bởi các nhân chứng hoặc nạn nhân trong tường trình của họ về sự kiện này. Một ví dụ thú vị về chứng cứ chứng thực có thể được tìm thấy trong việc chấp nhận các ghi chép của điều tra viên cảnh sát như là chứng thực tình tiết cho chứng cứ và tường trình của điều tra viên đó về các sự kiện. Khi một điều tra viên cảnh sát làm chứng trước tòa, họ thường được tòa án cho phép tham khảo các ghi chép của họ để làm họ nhớ lại và cung cấp một tường trình đầy đủ về các sự kiện. Nếu các ghi chép của điều tra viên là chi tiết và chính xác, tòa án có thể xem trọng tường trình của điều tra viên đó về những sự kiện đó. Nếu các ghi chép thiếu chi tiết hoặc không đầy đủ về các điểm quan trọng, tòa án có thể định giá trị thấp hơn cho tính chính xác của tường trình của điều tra viên.

Đối với tòa án, các ghi chép chi tiết được thực hiện đúng thời điểm thì chứng thực chứng cứ của điều tra viên và thể hiện sự bảo đảm gián tiếp về tính đáng tin cậy cho lời khai của điều tra viên (McRory, 2014).

(còn tiếp)

Nguồn: Rod Gehl & Darryl Plecas, Justice Institute of British Columbia 

dịch bởi Nguyễn Trang Nhung, đăng lần đầu trên  Mạng lưới Nghiệp đoàn

Xin ghi rõ nguồn để tôn trọng công sức của người dịch.

Hits: 22

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *