Unions Network: Phải làm gì để thu thập, sắp xếp và phân tích các bằng chứng, nhằm xác định sự thật và thủ phạm trong các vụ án hình sự? Cảnh sát có quyền và trách nhiệm gì trong từng giai đoạn của cuộc điều tra? Cảnh sát và Viện Kiểm sát phải tuân thủ những quy trình, nguyên tắc nào để không truy tố sai, không xâm phạm các quyền của nhân chứng và nghi phạm?

Để trả lời những câu hỏi này, mời các bạn đọc một giáo trình môn Điều tra Hình sự của Canada, mang tên “Giới thiệu môn Điều tra Hình sự: Quy trình, Thực hành & Tư duy”. Sách do thanh tra Rod Gehl và tiến sĩ Darryl Plecas biên soạn, do Viện Tư pháp British Columbia xuất bản năm 2016, và được chị Nguyễn Trang Nhung (CTV Mạng lưới Nghiệp đoàn) chuyển ngữ. Chúng tôi tin rằng giáo trình này sẽ giúp ích cho rất nhiều người Việt Nam – từ các phóng viên điều tra, luật gia, cho đến những nhà hoạt động muốn giám sát cơ quan thực thi pháp luật.

Xin click vào ĐÂY để đọc những chương đã dịch, hoặc vào ĐÂY để truy cập qua mục lục.

*

Chương 3: Những gì bạn cần biết về chứng cứ

“Chứng cứ tạo nên những khối kiến trúc của quy trình điều tra và để sản phẩm cuối cùng được xây dựng đúng, chứng cứ phải được nhận dạng, thu thập, ghi chép, bảo vệ, xác nhận, phân tích, công bố và trình bày theo cách mà tòa án có thể chấp nhận.”

Thuật ngữ “chứng cứ”, liên quan đến điều tra, nói về một loạt các nguồn thông tin mà cuối cùng có thể cung cấp tin tức cho tòa án để chứng minh hoặc bác bỏ các điểm có vấn đề trước người phân định sự thật (the trier of fact). Nguồn chứng cứ có thể bao gồm bất cứ gì từ các quan sát của nhân chứng đến việc kiểm tra và phân tích các vật thể. Nó thậm chí có thể bao gồm các mối quan hệ không gian giữa con người, địa điểm và các đối tượng trong dòng thời gian của các sự kiện. Từ các hình thức chứng cứ khác nhau, tòa án có thể rút ra các suy luận và đưa ra các kết luận để xác định xem liệu một cáo buộc đã được chứng minh là vượt qua sự nghi ngờ hợp lý.

Xem xét bản chất quan trọng của chứng cứ trong hệ thống tòa án, có rất nhiều định nghĩa và nghi thức đã được phát triển để dẫn hướng cách xác định chứng cứ để tòa án xem xét. Nhiều nghi thức trong số này được đề cập cụ thể và được xác định trong các điều khoản của Đạo luật Chứng cứ Canada (Chính phủ Canada, 2017).

Trong chương này, chúng ta sẽ xem xét một số định nghĩa và nghi thức chính mà một điều tra viên phải hiểu để thực hiện quy trình điều tra:

1 – Giá trị chứng minh của chứng cứ

2 – Chứng cứ liên quan (relevant evidence)

3 – Chứng cứ trực tiếp (direct evidence)

4 – Chứng cứ tình tiết(circumstantial evidence)

5 – Chứng cứ buộc tội (inculpatory evidence)

6 – Chứng cứ ngoại phạm (chứng cứ xác định vô tội)

7 – Chứng cứ chứng thực (corroborative evidence)

8 – Tiết lộ chứng cứ (disclosure of evidence)

9 – Chứng cứ nhân chứng (witness evidence)

10 – Chứng cứ tin đồn (hearsay)

11 – Tìm kiếm và thu giữ chứng cứ

12 – Loại trừ chứng cứ

 

Chủ đề 1: Giá trị chứng minh của chứng cứ

Mỗi phần chứng cứ liên quan sẽ được xem xét dựa trên “giá trị chứng minh” (probative value) của nó, đó là trọng số hoặc giá trị thuyết phục mà tòa án gán cho mảnh chứng cứ cụ thể đó khi xem xét giá trị của nó đối với việc chứng minh một sự thật trong vụ án được xét xử. Giá trị chứng minh này của chứng cứ được phân định bởi thẩm phán, hoặc thẩm phán và bồi thẩm đoàn, những người đưa ra quyết định về chứng cứ vượt qua sự nghi ngờ hợp lý tại tòa hình sự, hoặc chứng cứ trong cán cân xác suất tại tòa dân sự.

Chứng cứ nhân chứng mục kích (eye-witness evidence)

Một nhân chứng có đủ năng lực, có khả năng được tòa yêu cầu làm chứng (compellable), độc lập, có khả năng thể chất và tinh thần rất tốt, người đã chứng kiến sự kiện hình sự diễn ra và có thể kể lại sự thật nói chung sẽ làm hài lòng tòa án và cung cấp chứng cứ có giá trị chứng minh cao. Khi đánh giá giá trị chứng minh của chứng cứ nhân chứng, tòa án sẽ xem xét một số yếu tố mà chúng ta sẽ thảo luận chi tiết hơn trong chương về quản lý nhân chứng. Các yếu tố này bao gồm:

  • Loại nhân chứng như nhân chứng mục kích hoặc nhân chứng chứng thực
  • Năng lực của nhân chứng để làm chứng
  • Khả năng của tòa trong việc yêu cầu nhân chứng làm chứng (compellability to testify)
  • Mức độ độc lập của nhân chứng khỏi sự kiện
  • Độ tin cậy của nhân chứng dựa trên đánh giá các giới hạn thể chất

Vật chứng (chứng cứ vật lý)

Tòa án cũng thường quy một giá trị chứng minh cao cho các vật chứng. Tòa án thích vật chứng vì chúng là những vật mà tòa án có thể nhìn thấy và kiểm tra để giải thích các sự kiện được xác quyết tại tòa (facts in issue) cho bằng chứng vượt qua sự nghi ngờ hợp lý. Vật chứng có thể bao gồm bất cứ gì, chẳng hạn như vũ khí, dấu vân tay, dấu giày, dấu lốp, vết công cụ, tóc, sợi hoặc chất lỏng cơ thể. Những loại vật chứng này có thể được kiểm tra và phân tích bởi các chuyên gia có thể cung cấp cho tòa án các ý kiến chuyên gia kết nối vật chứng với một người, địa điểm hoặc sự kiện hình sự. Điều này cho phép tòa án xem xét các kết nối tình tiết của bị cáo với hiện trường vụ án hoặc bị cáo với nạn nhân. Ví dụ, trong trường hợp dấu vân tay của nghi phạm được phát hiện tại hiện trường vụ án và máu nạn nhân của tội phạm giết người được phát hiện có DNA khớp với máu trên quần áo của nghi phạm đó, có thể thực hiện các kết nối pháp y và khi không có lời giải thích cho điều đó, Tòa án có thể sẽ thấy vật chứng này là chứng cứ liên quan và thuyết phục với giá trị chứng minh cao.

 

Chủ đề 2: Chứng cứ liên quan

Chứng cứ liên quan nói lên một vấn đề trước tòa án về cáo buộc được xét xử. Chứng cứ liên quan bao gồm cả chứng cứ trực tiếp và chứng cứ tình tiết gián tiếp. Đối với chứng cứ trực tiếp hoặc tình tiết gián tiếp để được coi là có liên quan đến tòa án, nó phải liên quan đến các yếu tố của tội phạm cần phải được chứng minh. Nếu chứng cứ không liên quan đến việc chứng minh địa điểm, thời gian, danh tính của bị cáo hoặc các hành động phạm tội trong chính tội phạm đó, thì chứng cứ sẽ không được coi là có liên quan đến cáo buộc. Việc truy tố có thể đưa ra chứng cứ dưới dạng một vật chứng mà tòa án có thể thấy và kiểm tra để xem xét, hoặc họ có thể đưa ra chứng cứ dưới dạng lời khai của nhân chứng, trong trường hợp nhân chứng nói với tòa án những gì họ cảm nhận trong giới hạn của các giác quan của họ.

 

Chủ đề 3: Chứng cứ trực tiếp (Direct Evidence)

Chứng cứ trực tiếp là chứng cứ sẽ chứng minh một sự thật mà không cần diễn giải các tình tiết. (Bộ Tư pháp Canada, 2017). Đó là bất kỳ chứng cứ nào có thể cho tòa án thấy rằng một cái gì đó đã xảy ra mà không cần thẩm phán đưa ra các suy luận hoặc giả định để dẫn đến kết luận. Một nhân chứng mục kích nhìn thấy bị cáo bắn một nạn nhân sẽ có thể cung cấp chứng cứ trực tiếp. Tương tự, một camera an ninh cho thấy bị cáo phạm tội hoặc tuyên bố thú nhận từ bị cáo thừa nhận tội phạm cũng có thể được coi là chứng cứ trực tiếp. Chứng cứ trực tiếp không nên bị nhầm lẫn với khái niệm kiểm tra trực tiếp (direct examination), là kiểm tra ban đầu và đặt câu hỏi về một nhân chứng tại phiên tòa bởi bên đã gọi nhân chứng đó. Và, mặc dù mỗi nhân chứng cung cấp chứng cứ, về lý thuyết, có thể sẽ cung cấp lời khai trực tiếp về kiến thức và kinh nghiệm của chính họ, chứng cứ đó thường không phải là chứng cứ trực tiếp về tội phạm.

 

Chủ đề 4: Chứng cứ tình tiết (Circumstancial Evidence)

Chứng cứ gián tiếp, còn được gọi là chứng cứ tình tiết, là tất cả các chứng cứ khác, chẳng hạn như dấu vân tay của một bị cáo được phát hiện tại hiện trường vụ án. Chứng cứ gián tiếp không tự nó chứng minh hành vi phạm tội, nhưng thông qua việc giải thích các tình tiết và kết hợp với các chứng cứ khác có thể đóng góp vào một tập chứng cứ có thể chứng minh sự phạm tội vượt qua sự nghi ngờ hợp lý (Bộ Tư pháp Canada, 2017). Chứng cứ tình tiết mạnh mà chỉ đưa đến một kết luận hợp lý đôi khi có thể trở thành chứng cứ mà tòa án sử dụng để đạt được niềm tin vượt qua sự nghi ngờ hợp lý để kết tội một bị cáo. Nó đòi hỏi các giả định và suy luận logic được thực hiện bởi tòa án để quy kết ý nghĩa của chứng cứ.

Khi một hoặc nhiều điều được chứng minh, từ đó kinh nghiệm của chúng ta cho phép chúng ta xác định rằng điều khác, không được chứng minh, phải xảy ra, chúng ta cho rằng điều đó đã xảy ra, trong các vụ án hình sự cũng như trong các vụ án dân sự”. (MacDonell, 1820)

Chứng cứ tình tiết cho thấy mối quan hệ không gian giữa nghi phạm, nạn nhân, các mốc thời gian và sự kiện hình sự. Những mối quan hệ không gian này đôi khi có thể chứng minh rằng một người bị buộc tội có sự kết hợp giữa ý định, động cơ, cơ hội và / hoặc phương tiện để thực hiện tội phạm, đó là tất cả các đặc điểm có ý nghĩa của hành vi phạm tội.

Chứng cứ tình tiết về ý định phạm tội đôi khi có thể được thể hiện thông qua chứng cứ gián tiếp về việc một nghi phạm có kế hoạch thực hiện hành vi phạm tội, và / hoặc lập kế hoạch trốn thoát và xử lý chứng cứ sau khi phạm tội. Một tuyên bố tiền-tội phạm (pre-crime statement) về kế hoạch có thể chứng minh cả ý định và động cơ, chẳng hạn như, “Tôi thực sự cần một số tiền. Tôi sẽ đi cướp ngân hàng vào ngày mai”.

Chứng cứ tình tiết về xung đột, báo thù, thu lợi tài chính từ việc thực hiện tội phạm cũng có thể trở thành chứng cứ về động cơ.

Chứng cứ tình tiết về cơ hội có thể được minh họa bằng cách cho thấy một nghi phạm có quyền tiếp cận nạn nhân hoặc hiện trường vụ án tại thời điểm xảy ra sự kiện hình sự, và quyền tiếp cận này tạo cơ hội để phạm tội.

Chứng cứ tình tiết về phương tiện đôi khi có thể được chứng minh bằng cách cho thấy nghi phạm có thể lực và / hoặc các công cụ hoặc vũ khí để thực hiện tội phạm.

Trình bày loại chứng cứ tình tiết này có thể giúp tòa án xác nhận các giả định và suy luận để đưa ra kết luận gán giá trị chứng cứ cho các kết nối giữa bị cáo và một người hoặc một địa điểm và vật chứng. Những kết nối tình tiết này có thể tạo ra các liên kết thiết yếu giữa nghi phạm và tội phạm.

Có nhiều cách tạo liên kết để chứng minh các kết nối tình tiết. Các cách này bao gồm từ phân tích pháp y về dấu vân tay hoặc DNA kết nối một bị cáo với hiện trường vụ án hoặc nạn nhân, đến chứng cứ nhân chứng mô tả hành vi phạm tội của một bị cáo trước, trong hoặc sau khi phạm tội. Các khả năng và biến đổi về thời điểm hoặc cách thức chứng cứ tình tiết sẽ xuất hiện là vô vàn. Việc xem xét bức tranh lớn của tất cả các chứng cứ và sau đó phát triển, theo cách phân tích, các giả thuyết về cách các sự kiện có thể đã xảy ra là tùy thuộc vào điều tra viên. Khi một giả thuyết hợp lý đã được hình thành, chứng cứ về các kết nối tình tiết có thể được xác nhận thông qua điều tra và phân tích sâu hơn về các vật chứng để kết nối một nghi phạm với tội phạm.

(còn tiếp)

Nguồn: Rod Gehl & Darryl Plecas, Justice Institute of British Columbia 

dịch bởi Nguyễn Trang Nhung, đăng lần đầu trên  Mạng lưới Nghiệp đoàn

Xin ghi rõ nguồn để tôn trọng công sức của người dịch.

Hits: 13

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *