(Trích Quyển 5 trong bộ Chính Trị Luận của Aristotle, Nông Duy Trường dịch, đăng trên Học viện Công dân)

 

Chương VIII

Trong chương này ta sẽ xét xem có những phương thức nào bảo vệ được hiến pháp một cách tổng quát và trong những trường hợp riêng biệt. Điều ta thấy hiển nhiên là nếu ta biết được những nguyên nhân làm tiêu hủy cơ cấu chính trị, thì ta cũng biết những nguyên nhân bảo vệ những cơ cấu này, vì những gì đối nghịch với nhau sẽ tạo ra những phản ứng ngược lại, cũng như sự tiêu hủy tương phản với bảo tồn.

Trong tất cả những chính quyền được thiết lập hài hòa giữa những thành phần dân chúng thì không có điều nào cần phải gìn giữ triệt để hơn là tinh thần thượng tôn pháp luật, nhất là về những vấn đề nhỏ nhặt; vì những điều tưởng là vụn vặt sẽ âm thầm len lỏi vào và cuối cùng làm sụp đổ cả quốc gia, giống như sự tích lũy liên tục những chi tiêu nho nhỏ sẽ làm sụp đổ cả sản nghiệp lớn. Những chi tiêu không xảy ra một lúc, và vì thế không bị để ý; trí óc ta đã bị lừa như một điều ngụy biện đã nói rằng “nếu mỗi phần tử là phần nhỏ, thì tất cả cũng nhỏ.” Điều này chỉ đúng trên một phương diện, nhưng sai trên phương diện khác, vì cái tổng thể và cái “tất cả” không nhỏ, dù được tạo thành bởi nhiều phần tử nhỏ.

Trước hết, ta phải đề phòng và ngăn ngừa sự khởi đầu của thay đổi, và thứ hai, ta không nên ỷ lại vào những biện pháp chính trị mà tôi đã nói đến, những biện pháp được sáng chế ra để đánh lừa quần chúng, vì kinh nghiệm cho ta thấy đó là những biện pháp vô dụng. Hơn thế nữa, ta ghi nhận rằng những chế độ quả đầu cũng như dân chủ có thể tồn tại được, không phải nhờ vào sự ổn định cố hữu ở trong chính những mô thức chính quyền đó, mà bởi vì những người cầm quyền đã có quan hệ tốt với cả những người dân không có quyền bầu cử và giai cấp cai trị, họ đối xử tử tế với những người không được tham dự vào chính quyền và trọng dụng những người lãnh đạo của giới này, đồng thời không xúc phạm đến danh dự của những kẻ có tham vọng và giới bình dân cũng được đối xử đúng đắn về tiền bạc. Không những thế họ đối xử với những người cùng giai cấp và giới bình dân trong tinh thần bình đẳng. Sự bình đẳng mà những người cổ võ cho dân chủ muốn xây dựng cho quảng đại quần chúng là một điều không những công bằng mà còn có lợi cho những người đồng đẳng. Cho nên, nếu giai cấp cầm quyền đông đảo, thì rất nhiều định chế dân chủ sẽ trở nên hữu hiệu; thí dụ như việc giới hạn nhiệm kỳ trong 6 tháng để cho tất cả những người đồng đẳng có cơ hội tham chính. Thực ra, những người bình đẳng hay đồng đẳng khi là một số đông thì đã trở thành một hình thức dân chủ, và vì vậy những kẻ mị dân dễ nổi lên trong số những người này, như tôi đã nói trong các chương trên. Nhiệm kỳ cầm quyền ngắn ngủi sẽ khiến cho chế độ quả đầu hay quý tộc không thể rơi vào tay một dòng họ; thêm nữa, nhiệm kỳ ngắn ngủi khiến cho bất cứ ai cũng khó lòng gây nên sự thiệt hại lớn lao, trong khi đó nhiệm kỳ lâu dài sẽ tạo nên những kẻ độc tài trong chế độ quả đầu và chế độ dân chủ. Những kẻ có tham vọng trở thành độc tài là những người quan trọng trong một nước, dù đó là quả đầu hay dân chủ. Trong chế độ dân chủ, đó là những kẻ mị dân và trong chế độ quả đầu là thành viên của những thế gia vọng tộc, hay là những kẻ nắm trọng quyền trong một thời gian dài.

Hiến pháp được bảo tồn khi những kẻ phá hoại ở xa, nhưng đôi khi cũng vì họ ở gần, vì mối nguy hiểm cận kề khiến cho người ta phải canh giữ hiến pháp cẩn thận hơn. Vì thế những nhà lãnh đạo mà thực sự quan tâm đến sự tồn vong của hiến pháp nên tạo ra những sự khiếp sợ và đưa những mối nguy hiểm từ xa đến gần để khiến cho nhân dân luôn luôn cảnh giác như những người lính gác đêm, không bao giờ lơ là nhiệm vụ. Một nhà lãnh đạo như vậy cũng phải nỗ lực kiềm chế những cuộc tranh chấp giữa các nhà quý tộc bằng luật pháp, và ngăn chặn ngay từ đầu không để cho những nhà quý tộc khác mắc vào những cuộc tranh chấp. Thường dân không thể phân biệt được sự khởi đầu của “cái ác,” chỉ có nhà lãnh đạo chân chính mới phân biệt được điều này.

Còn đối với sự thay đổi do từ chính trong chế độ cả quả đầu và chế độ hiến pháp trị gây ra như thay đổi về tiêu chuẩn tài sản để tham chính, thì dù số lượng tài sản đòi hỏi không thay đổi, nhưng số người có đủ số lượng tài sản đó lại gia tăng khiến cho có nhiều người đủ tiêu chuẩn tài sản để tham chính hơn và sẽ đưa đến thay đổi về hiến pháp. Để ngăn ngừa việc này, ta nên so sánh tổng sản lượng năm nay với năm trước theo định kỳ mỗi năm nếu dân số được kiểm tra hàng năm, và trong những nước lớn thì mỗi 3 hay 5 năm. Nếu tổng sản lượng năm nay nhiều hơn hoặc thấp hơn gấp bội so với năm trước, thì luật pháp nên có điều khoản để cho phép điều chỉnh tiêu chuẩn tài sản cho thích hợp. Nếu không làm điều này, khi tổng sản lượng giảm xuống, thì số người có đủ tiêu chuẩn sẽ ít đi; do đó, chế độ hiến pháp trị sẽ chuyển sang quả đầu, và chế độ quả đầu sẽ biến thành gia đình trị. Ngược lại, chế độ hiến pháp trị sẽ biến thành dân chủ, và quả đầu sẽ trở thành hiến pháp trị hoặc dân chủ.

Sau đây là một nguyên tắc dùng cho chế độ dân chủ, quả đầu và mọi loại chế độ khác. Đó là không để cho bất cứ một công dân nào có sự gia tăng bất cân xứng với những người khác; nghĩa là nên có những tưởng thưởng vừa phải cho một cá nhân trong một thời gian dài hơn là trao tặng những phần thưởng lớn lao và danh vọng tột bực trong một thời gian ngắn. Con người rất dễ bị hư hỏng; không phải ai cũng chống lại được sự hư hỏng do giàu sang mang lại.[4] Nhưng nếu nguyên tắc này không được áp dụng, thì những công danh được trao tặng ngay một lúc nên được thu hồi từ từ. Thêm nữa cũng nên có điều luật ngăn ngừa bất cứ ai có quá nhiều quyền lực, dù từ phe nhóm hay tiền bạc mang lại. Nếu có những ai như vậy, thì kẻ đó phải bị tống xuất ra khỏi nước.

Vì những tư tưởng thay đổi thể chế cũngxuất phát từ đời sống riêng của những cá nhân, cho nên cũng nên có một vị quan để ý tới những ai mà lối sống không hòa hợp với chính thể, thí dụ như sống trong chế độ dân chủ lại có hành vi không dân chủ, hay trong chế độ quả đầu lại khác với cách sống của quả đầu. Tương tự như vậy bất cứ một sự gia tăng tài sản trong bất kỳ thành phần trong nước cũng phải được để ý cẩn thận. Phương cách hay nhất để trị căn bệnh này là giao quyền cai trị cho phần tử đối lập; những cặp đối lập gồm có: thiểu số tài đức và đa số bình dân hay hai phần tử giàu và nghèo. Một phương cách khác là kết hợp người giàu và nghèo thành một cơ cấu, hay là gia tăng phần tử trung lưu. Một chính sách như vậy sẽ chấm dứt được sự phân hóa do bất bình đẳng gây ra.

Nhưng trên hết, tất cả mọi nước nên được cai trị và điều hành bởi luật pháp để cho quan chức không thể lợi dụng chức quyền mà kiếm tiền. Trong chế độ quả đầu cần có những biện pháp đặc biệt để phòng chống tai họa này. Bởi vì người dân sẽ không cảm thấy bị xúc phạm khi không được tham gia vào chính sự—thực ra họ còn thích được như thế vì có thì giờ thư thả lo cho việc riêng của họ—nhưng họ sẽ nổi giận khi nghĩ rằng nhà cầm quyền đang ăn cắp của công. Điều này khiến cho họ nổi giận gấp đôi vì vừa bị sỉ nhục vừa bị mất quyền lợi. Nếu chức quyền không mang lại tư lợi, thì chỉ có điều kiện này mới kết hợp được hai chế độ quả đầu và dân chủ, vì cả hai thành phần quý tộc và quần chúng đều được thỏa mãn: dân chủ thỏa mãn vì ai cũng có quyền được tham chính, và quý tộc thỏa mãn vì sẽ được nắm chức vụ trong chính quyền. Điều này chỉ có thể xảy ra khi việc lợi dụng chức quyền để thủ đắc tư lợi bị cấm chỉ. Người nghèo sẽ không muốn tham chính nếu họ không có được lợi lộc gì và thay vào đó lo cho việc riêng còn ích lợi hơn; người giàu, vì không cần tiền từ công quỹ, sẽ đảm nhiệm những chức vụ trong chính quyền. Như thế người nghèo sẽ tiếp tục công việc của họ để làm giàu, còn phe quý tộc thì không sợ bị cai trị bởi giai cấp thấp kém hơn. Để tránh nạn biển thủ công quỹ, những quan chức thôi làm việc phải bàn giao công quỹ lại trước sự chứng kiến của toàn thể dân chúng, và ngân quỹ đã được kiểm kê sẽ được giao cho những gia tộc, hay khu phố khác nhau gìn giữ. Thêm vào đó, luật pháp nên có điều khoản vinh danh những quan chức thanh liêm. Một mặt, trong chế độ dân chủ, không nên đụng đến người giàu; không những tài sản của họ không sợ bị tịch thu và phân chia ra, mà cả những nguồn lợi tức của họ cũng vậy, phải được bảo đảm, vì điều này đã xảy ra tại một vài nước. Ngoài ra cũng nên ngăn cản những người giàu, ngay cả khi họ cam đoan là không sử dụng những dịch vụ công cộng vừa phù phiếm vừa tốn kém, như là các buổi nhạc hội, rước đuốc, vân vân. Mặt khác, trong chế độ quả đầu, nên thận trọng để ý đến kẻ nghèo, và những chức vụ nào có bổng lộc cao nên giao cho họ. Còn nếu người giàu có nào mà khinh khi làm nhục họ, thì kẻ đó phải bị phạt nặng hơn là đối với lẫn nhau. Luật pháp cũng nên quy định là điền sản chỉ nên được truyền lại cho con cái chứ không nên qua di chúc trao cho người khác, và mỗi người con chỉ được nhận một phần thừa kế mà thôi. Làm như vậy thì điền sản sẽ được bình quân và người nghèo có cơ hội trở nên giàu có. Còn đối với những vấn đề không phải là tài sản, như danh vọng chẳng hạn, thì cả hai chế độ dân chủ và quả đầu nên để cho những người bị thiệt thòi (như người giàu trong chế độ dân chủ và người nghèo trong chế độ quả đầu) được bình đẳng hay có phần hơn, ngoại trừ những chức vụ chính của nhà nước. Những chức vụ chính yếu của nhà nước phải thuộc những người có đầy  đủ quyền hiến định.

(còn tiếp)

Nguồn: “Chính Trị Luận” của Aristotle
Nông Duy Trường dịch, đăng trên Học viện Công dân

Hits: 18

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *