Unions Network: Phải làm gì để thu thập, sắp xếp và phân tích các bằng chứng, nhằm xác định sự thật và thủ phạm trong các vụ án hình sự? Cảnh sát có quyền và trách nhiệm gì trong từng giai đoạn của cuộc điều tra? Cảnh sát và Viện Kiểm sát phải tuân thủ những quy trình, nguyên tắc nào để không truy tố sai, không xâm phạm các quyền của nhân chứng và nghi phạm?

Để trả lời những câu hỏi này, mời các bạn đọc một giáo trình môn Điều tra Hình sự của Canada, mang tên “Giới thiệu môn Điều tra Hình sự: Quy trình, Thực hành & Tư duy”. Sách do thanh tra Rod Gehl và tiến sĩ Darryl Plecas biên soạn, do Viện Tư pháp British Columbia xuất bản năm 2016, và được chị Nguyễn Trang Nhung (CTV Mạng lưới Nghiệp đoàn) chuyển ngữ. Chúng tôi tin rằng giáo trình này sẽ giúp ích cho rất nhiều người Việt Nam – từ các phóng viên điều tra, luật gia, cho đến những nhà hoạt động muốn giám sát cơ quan thực thi pháp luật.

Xin click vào ĐÂY để đọc những chương đã dịch, hoặc vào ĐÂY để truy cập qua mục lục.

*

Chương 2: Một số khái niệm cơ bản quan trọng (tiếp)

 

Chủ đề 13: Bắt (Arrest) và Giữ (Detention)

Bắt hoặc giữ một nghi phạm là hai trong số các hành động quan trọng nhất mà một điều tra viên cảnh sát có thể thực hiện trong quá trình điều tra. Mỗi hành động là một quá trình riêng biệt và cung cấp cho các điều tra viên những lợi thế chiến lược để kiểm soát môi trường điều tra bằng cách:

  • Đưa những nghi phạm bị kiểm soát vào nơi giữ bảo đảm;
  • Ngăn chặn tội phạm đang diễn ra hoặc ngăn chặn tội phạm sắp được thực hiện;
  • Cho phép tìm kiếm các vật có thể gây nguy hiểm cho điều tra viên cảnh sát hoặc những người khác;
  • Cho phép tìm kiếm bằng chứng của tội phạm;
  • Xác lập danh tính của các nghi phạm; và
  • Buộc những người bị buộc tội phải tham dự phiên tòa để đối mặt với cáo buộc.

Khái niệm bắt đối với các điều tra viên cảnh sát liên quan đến quá trình bắt một người khi đạt được những căn cứ hợp lý để tin rằng một tội phạm đã được thực hiện bởi người sẽ bị bắt. Có nhiều đạo luật, cả cấp liên bang và cấp tỉnh, cung cấp cho cảnh sát quyền hạn bắt. Tuy nhiên, Bộ luật Hình sự Canada cung cấp hướng dẫn cho tất cả các điều tra viên cảnh sát ở Canada. Mục 495 của Bộ luật hình sự Canada quy định:

“Bắt mà không có trát (lệnh) bởi viên chức gìn giữ hòa bình (peace officer)

Mục 495

(1) Một viên chức gìn giữ hòa bình có thể bắt mà không có trát

(a) một người đã phạm tội có thể bị cáo buộc hoặc một người mà viên chức cảnh sát – với lý do hợp lý – tin rằng đã phạm tội hoặc sắp thực hiện một tội phạm có thể bị cáo buộc;

(b) một người mà viên chức cảnh sát thấy phạm tội hình sự; hoặc

(c) một người liên quan đến người mà viên chức cảnh sát có cơ sở hợp lý để tin rằng lệnh bắt hoặc tống giam, dưới bất kỳ hình thức nào được nêu trong Phần XXVIII liên quan, có hiệu lực trong phạm vi quyền tài phán lãnh thổ nơi người đó được phát hiện (phạm tội).

Giới hạn

(2) Một viên chức gìn giữ hòa bình sẽ không bắt một người mà không có trát cho

(a) một tội phạm có thể bị cáo buộc được đề cập trong phần 553,

(b) một tội phạm mà vì nó người đó có thể bị truy tố theo cáo trạng hoặc vì nó người đó có thể bị trừng phạt theo sự kết án bởi một tòa án không có hội thẩm (summary conviction), hoặc

(c) một tội phạm có thể bị trừng phạt vì sự kết án bởi một tòa án không có hội thẩm,

trong mọi trường hợp mà

(d) viên chức với lý do hợp lý tin rằng lợi ích công cộng, liên quan đến tất cả các trường hợp bao gồm cả nhu cầu

(i) xác minh danh tính của người đó,

(ii) bảo mật hoặc bảo quản bằng chứng về hoặc liên quan đến tội phạm, hoặc

(iii) ngăn chặn sự tiếp tục hoặc lặp lại của tội phạm hoặc sự thực hiện của tội phạm khác, có thể được thỏa mãn mà không bắt người đó, và

(e) viên chức không có căn cứ hợp lý để tin rằng, nếu anh ta không bắt người đó, người đó sẽ không tham dự phiên tòa để bị xử lý theo pháp luật”. (Bộ luật Hình sự, 1985, s 495 (1, 2)s)

Là một quyền hạn cụ thể để hành động, việc bắt cung cấp cho các điều tra viên cảnh sát một biện pháp để can thiệp vào các tình huống hình sự, và ngăn chặn những người đang trong quá trình hành động nguy hiểm hoặc bất hợp pháp, bằng đưa họ vào nơi giam giữ. Với bất kỳ vụ bắt nào, tồn tại nghĩa vụ đưa người bị bắt ra tòa để trả tự do, bằng không, buộc họ ra tòa bằng cách khác, như triệu tập họ hoặc yêu cầu họ trình diện, để trả tự do.

Là một quyền hạn nhỏ hơn, hành động của cảnh sát trong việc giữ một nghi phạm đã phát triển theo thông lệ để cho phép cảnh sát giữ một người trong thời gian ngắn hơn. Việc giữ này có thể được sử dụng khi căn cứ hợp lý để tin rằng người đó đã phạm tội chưa được chứng minh, nhưng có một số bằng chứng hoặc tình tiết chỉ ra người đó là nghi phạm trong vụ án đang bị điều tra.

Đối với các điều tra viên cảnh sát, các hành động bắt và giữ cần được coi là những chức năng chiến lược của quá trình điều tra. Bắt hoặc giữ nghi phạm không phải là kết quả cuối cùng, mà chỉ là các bước chiến lược trong quá trình xác định người phạm tội và thu thập đủ bằng chứng để tiến hành buộc tội. Các quyền hạn và thẩm quyền tồn tại để các điều tra viên cảnh sát giữ hoặc bắt một đối tượng là phức tạp. Việc giữ hoặc bắt một nghi phạm có thể làm hỏng cuộc điều tra và đe dọa sự chấp nhận đối với bằng chứng có được từ việc giữ hoặc bắt nếu nó không được thực hiện trên cơ sở các sự kiện và tình tiết thực tế mà cảnh sát có thể đưa ra đầy đủ cho tòa án.

Có nhiều án lệ nói về các vấn đề xung quanh cả việc giữ và bắt một nghi phạm. Án lệ tạo nên sự khác biệt đáng kể mà một điều tra viên cần xem xét nếu họ sắp giữ hoặc bắt một đối tượng. Nói một cách đơn giản nhất, sự khác nhau giữa bắt và giữ là:

  • Để bắt một nghi phạm, một điều tra viên cảnh sát cần có căn cứ hợp lý để tin rằng một người đã phạm tội và ngược lại,
  • Để giữ một nghi phạm, một điều tra viên cảnh sát chỉ đòi hỏi một sự nghi ngờ hợp lý rằng một nghi phạm bằng cách nào đó có liên quan đến tội phạm đang được điều tra.

Sự phân biệt giữa việc hình thành các căn cứ hợp lý để tin rằng một người đã thực hiện tội phạm và có sự nghi ngờ hợp lý rằng một người nào đó có liên quan đến tội phạm đang được điều tra là vấn đề đánh giá bằng chứng tại thời điểm giữ hoặc bắt đang được xem xét.

Để hình thành căn cứ hợp lý để tin rằng một nghi phạm đã phạm tội, điều tra viên phải có bằng chứng chỉ trực tiếp đến nghi phạm đó. Loại bằng chứng này có thể là một nhân chứng xác định nghi phạm đã phạm tội hoặc bằng chứng tình tiết mạnh như dấu vân tay hoặc DNA kết nối nghi phạm với hiện trường hoặc nạn nhân. Những loại bằng chứng này có thể cung cấp các căn cứ hợp lý cần thiết để tin rằng nghi phạm đã thực hiện tội phạm. Ngược lại, sự nghi ngờ hợp lý rằng một người có liên quan đến tội phạm đang được điều tra đòi hỏi bằng chứng ít cụ thể hơn đáng kể. Một điều tra viên tìm thấy bằng chứng tình tiết gián tiếp chỉ ra một người có liên quan có thể đủ để giữ người đó. Trong án lệ, các thẩm phán đã xây dựng các quyền hạn của cảnh sát theo thông luật để sử dụng biện pháp giữ như một phần của một cuộc điều tra.

“Năm 2004 trong vụ R kiện Mann, Tòa án Tối cao Canada tuyên bố rằng, mặc dù thực tế là không có quyền hạn chung cho điều tra viên để giữ nghi phạm, cảnh sát có thể giữ một người nếu có căn cứ hợp lý để nghi ngờ, trong mọi tình huống, rằng cá nhân đó có liên quan đến một tội phạm và việc giữ người đó là cần thiết một cách hợp lý dựa trên quan điểm khách quan về các tình huống. Các tình huống cần xem xét phải bao gồm mức độ mà sự tự do của nghi phạm bị can thiệp để cảnh sát thực hiện các nhiệm vụ cần thiết, và cá nhân bị giữ để điều tra phải được cho biết bằng cách nói đơn giản về lý do giữ đó. Việc giữ phải có thời gian càng ngắn càng tốt và không áp đặt bất kỳ nghĩa vụ trả lời các câu hỏi cho người bị giữ. Ngoài ra, nếu cảnh sát có căn cứ hợp lý để tin rằng sự an toàn của người bị giữ hoặc sự an toàn của người khác đang bị đe dọa, cảnh sát có thể tiến hành khám xét toàn thân (pat-down search) đối tượng bị giữ và loại khám xét này không giống như khám xét theo sau một vụ bắt thực tế”. (R kiện Mann, 2004)

Với những điểm khác biệt giữa bắt và giữ trong tâm trí, hãy xem xét kịch bản sau đây để minh họa việc ra quyết định mà một điều tra viên phải xem xét.

 

Kịch bản

Bây giờ là 3 giờ sáng thứ Tư và bạn là một nhân viên tuần tra vận đồng phục làm việc ca đêm một mình trong chiếc xe tuần tra của bạn. Đơn vị của bạn và hai đơn vị tuần tra khác được phái đi xử lý một vụ báo động phá hoại và đột nhập tại một nhà kho nằm trong khu công nghiệp ở rìa thành phố. Khu công nghiệp này là một khu phức hợp với nhiều nhà kho và cơ sở sản xuất, và nó giáp với một khu vực phân khu dân cư. Khi bạn đến nơi báo động, bạn được thông báo trên đài phát thanh rằng hai đơn vị khác đã đến nhà kho. Họ đang xác nhận rằng một cuộc đột nhập đã diễn ra. Họ báo rằng cửa kính ra vào chính của nhà kho đã bị đập vỡ. Hai đơn vị khác đang chờ bạn đến để bắt đầu tìm kiếm bất kỳ nghi phạm nào trong nhà kho. Trên đài phát thanh, bạn nghe rằng hai đơn vị khác đã quan sát thấy một chiếc xe bán tải Ford màu xanh lá cây không có người đang đỗ trên đường gần khu nhà kho. Khi tra biển số xe, người ta xác định rằng chiếc xe đã được đăng ký với một người có tên Larry Lurken. Kiểm tra hồ sơ tội phạm về Lurken cho thấy anh ta có tiền án về một số tội phạm đột nhập và trộm cắp trong quá khứ.

Khi bạn tới khu công nghiệp, bạn tiếp cận đường vào thông qua phân khu dân cư. Nhà kho bạn sẽ đến chỉ là một khối nhà bên trong khu công nghiệp, nếu nhìn từ điểm thâm nhập qua khu dân cư của bạn. Khi bạn đến gần lối vào, bạn thấy một chàng trai trẻ đứng khuất một phần thân sau một cái cây trên đại lộ ngăn cách phân khu dân cư với khu công nghiệp. Chàng trai trẻ mặc quần jean xanh đậm và áo hoodie tối màu, và khi bạn đến gần anh ta, anh ta bắt đầu bỏ đi.

Đây là một trường hợp điển hình trong đó chiến lược giữ điều tra có thể được sử dụng. Các sự kiện và tình tiết trước mặt bạn với tư cách điều tra viên là:

  • Bạn có một thanh niên mặc quần áo tối màu;
  • Anh ta đang đứng ẩn một phần thân sau một cái cây;
  • Bây giờ là 3 giờ sáng;
  • Địa điểm này nằm trên biên giới của một khu công nghiệp, chỉ cách hiện trường một vụ đột nhập được xác nhận; và
  • Anh ta đang bắt đầu bỏ đi.

Đây là những căn cứ đủ để nghi ngờ rằng người này có thể có liên quan đến tội phạm hình sự đang được điều tra. Trong trường hợp này, mục tiêu của bạn với tư cách là điều tra viên sẽ là giữ và xác định danh tính của người này. Để tôn trọng đúng các quyền của người này, bạn sẽ báo chàng trai trẻ như sau:

“Tôi đang tiến hành một cuộc điều tra về một vụ đột nhập tại một tòa nhà kho gần đó và tôi sẽ giữ anh để điều tra vụ đột nhập này. Anh không bắt buộc phải nói bất cứ điều gì và bất cứ điều gì anh nói có thể được sử dụng làm bằng chứng. Anh có quyền thuê và báo luật sư mà không chậm trễ”.

Sau khi bạn đưa ra thông báo về việc giữ cùng quyền và cảnh báo thích hợp, người này không bắt buộc phải trả lời bất kỳ câu hỏi nào, ngoài việc cung cấp danh tính của anh ta. Việc người bị giữ không bắt buộc phải nói chuyện, không có nghĩa là bạn, với tư cách điều tra viên, không được phép đặt câu hỏi. Sau cùng, người đàn ông này có thể cung cấp một cách giải thích hợp lý về việc tại sao anh ta có mặt tại địa điểm và thời điểm này, và, là một điều tra viên khách quan, bạn phải luôn sẵn sàng để nghe những khả năng đó. Anh ta có thể nói với bạn rằng anh ta sống trong ngôi nhà bên kia đường từ nơi anh ta đang đứng, và khi anh ta nghe thấy tiếng chuông báo động ở nhà kho, anh ta ra ngoài để xem chuyện gì đang xảy ra. Nếu đó là tuyên bố của anh ta và sau đó bạn kiểm tra giấy tờ tùy thân của anh ta và xác nhận đó là sự thật, căn cứ của bạn để nghi ngờ anh ta có liên quan đến tội phạm sẽ bị giảm nhiều, có khả năng đến mức anh ta nên được thả ra.

Mặt khác, nếu anh ta chỉ cung cấp danh tính và từ chối trả lời các câu hỏi về việc ở địa điểm này, sự nghi ngờ của bạn sẽ vẫn còn. Khám xét an toàn toàn thân (pat-down safety search) nghi phạm này có thể tiết lộ điều gì đó có liên quan, chẳng hạn như các công cụ đột nhập hoặc chìa khóa cho xe tải Ford, hoặc thậm chí là bộ đàm, có thể cho thấy anh ta đang canh chừng cho những người khác thực hiện cuộc đột nhập trong thực tế. Bạn có thể phát hiện những mảnh kính vỡ trên đôi giày chạy bộ của anh ta giống như mảnh kính từ cửa trước bị vỡ của nhà kho, hoặc bạn có thể tra tên anh ta thông qua cơ sở dữ liệu của cảnh sát để xác định rằng anh ta có tiền án về đột nhập, hoặc có lẽ bị lộ và là một cộng sự của Larry Lurken, chủ sở hữu của chiếc xe đậu gần vị trí đột nhập. Bất kỳ loại sự thật hoặc liên kết nào trong số này sẽ đủ để biện minh cho việc tiếp tục giữ để điều tra nghi phạm này. Những sự thật này có thể là khởi đầu của bằng chứng gián tiếp mà từ đó các căn cứ hợp lý để tin có thể được hình thành để bắt nghi phạm này.

Nếu nhà kho được khám xét và Larry Lurken được tìm thấy bên trong, Lurken có bộ đàm phù hợp với nghi phạm bị giữ của bạn, và sau đó người ta phát hiện ra rằng chìa khóa Ford trong túi của người bị giữ là chìa khóa cho chiếc xe tải Ford đậu của Lurken, bằng chứng tình huống đầy đủ sau đó tồn tại để hình thành căn cứ hợp lý để tin rằng nghi phạm bị giữ của bạn đã tham gia tội phạm phá hoại và đột nhập.

Nếu, khi đến khu vực và nhìn thấy người đàn ông trẻ tuổi đáng ngờ này, bạn đã lập tức bắt anh ta, việc bắt đó sẽ không hợp pháp bởi vì nó không được hỗ trợ bởi bằng chứng có thể vượt qua phần kiểm tra về sự hình thành căn cứ hợp lý cho niềm tin. Bằng chứng được xác định sau đó, chẳng hạn như bộ đàm và chìa khóa xe được tìm thấy trong vụ bắt đó, có thể bị tòa án loại trừ vì chúng không bị tịch thu trong một cuộc khám xét hợp pháp liên quan đến việc bắt hợp pháp. Còn trong trường hợp bên trên, việc giữ đã được biện minh bằng các tình tiết đáng ngờ, và việc phát hiện ra bằng chứng buộc tội khác sau việc giữ hợp pháp đó có thể dẫn đến việc bắt, với lý do hợp lý có thể được đưa ra tòa một cách hợp thức.

Như đã đề cập trước đây, quá trình giữ và bắt là những hành động được ủy quyền mà một điều tra viên có thể thực hiện để tiến hành thông qua một cuộc điều tra. Những hành động này là một phần của quá trình điều tra và chúng phải được thực hiện sau khi xem xét cẩn thận bằng chứng chứng minh có sự nghi ngờ hợp lý để giữ hoặc hình thành căn cứ hợp lý cho niềm tin để bắt. Điều quan trọng là một điều tra viên phải thực hiện xem xét cẩn thận các thông tin và bằng chứng có sẵn trước khi một trong những hành động này được thực hiện. Bất kỳ sự bắt hoặc giữ một nghi phạm phải được thực hiện với nhận thức rằng các bằng chứng được xem xét để hỗ trợ cho quyết định hành động sẽ cần phải được đưa ra sau đó tại tòa.

 

Tóm tắt

Trong chương này, chúng ta đã phác thảo và thảo luận về nhiều quy tắc pháp lý phải được xem xét bởi một điều tra viên để hướng dẫn quá trình điều tra của họ. Điểm chung của các định nghĩa, khái niệm, nguyên tắc, học thuyết và nghi thức pháp lý này là chúng cần phải được đưa vào quá trình tư duy điều tra. Điều tra viên cần xem xét các trường hợp gặp phải và áp dụng luật vì nó tồn tại đặc biệt cho các trường hơp đó. Những định nghĩa, khái niệm, nguyên tắc, học thuyết và nghi thức pháp lý này tạo thành nền tảng kiến thức mà một điều tra viên cần kết hợp vào bản đồ tinh thần của mình để điều hướng thành công quá trình điều tra. Sự hiểu biết về các vấn đề này và ứng dụng phù hợp của họ sẽ chứng minh cho tòa án rằng điều tra viên nhận thức được nhiệm vụ của mình, thẩm quyền hành động của mình và nó sẽ cho phép điều tra viên đưa ra lời biện minh chính xác cho hành động của mình.

 

Câu hỏi học tập

1 – Chính xác thì chúng ta muốn nói gì khi chúng ta đề cập đến “công lý cơ bản”, đối với những người bị buộc tội hình sự ở Canada?

2 – Sự bảo vệ nào liên quan đến tính mạng, quyền tự do và an ninh được cung cấp bởi Phần 7 của Hiến chương về Quyền và Tự do của Canada?

3 – Sự bảo vệ nào liên quan đến khám xét và tịch thu được cung cấp bởi Phần 8 của Hiến chương về Quyền và Tự do của Canada?

4 – Sự bảo vệ nào liên quan đến việc giữ hoặc bỏ tù được cung cấp bởi Phần 9 của Hiến chương về Quyền và Tự do của Canada?

5 – Sự bảo vệ nào khi bị bắt hoặc giữ được cung cấp bởi Phần 10 của Hiến chương về Quyền và Tự do của Canada?

6 – Sự bảo vệ nào cho các nhân chứng được cung cấp bởi Phần 13 của Hiến chương về Quyền và Tự do của Canada?

7 – Những biện pháp trợ giúp nào về ngôn ngữ được cung cấp bởi Phần 14 của Hiến chương về Quyền và Tự do của Canada?

8 – Sự khác biệt giữa “bằng chứng trong cán cân xác suất” và “bằng chứng vượt qua sự nghi ngờ hợp lý” là gì?

9 – Kiểm tra chung cho “căn cứ hợp lý để tin” là gì?

10 – Khi nào một điều tra viên vẫn cần mẫn trong việc thu thập và bảo quản bằng chứng, mặc dù họ tin rằng họ sẽ không theo đuổi cáo buộc hình sự?

11 – Vai trò của điều tra viên tại tòa án khi trình bày bằng chứng là gì?

12 – Tại sao điều tra viên cảnh sát phải chú ý đến thông luật?

13 – Việc một bị cáo có hay không thuộc trường hợp “phòng vệ cần thiết” (defence of necessity) có thuộc quyền quyết định của một điều tra viên cảnh sát hay không?

14 – Học thuyết pháp luật phổ biến nào có thể được áp dụng khi bị cáo bị phát hiện chiếm hữu trong thời gian gần đối với tài sản bị đánh cắp?

15 – Bằng chứng nào mà một điều tra viên cảnh sát phải thu thập để chứng minh rằng một bị cáo mù quáng cố ý?

16 – Thuật ngữ “Mens Rea” có nghĩa là gì và tại sao nó quan trọng?

17 – Trường hợp prima facie là gì?

18 – Thông tin tội phạm là gì?

19 – Điều tra viên cảnh sát có được bảo vệ khỏi trách nhiệm hình sự hoặc dân sự nếu họ gây ra lỗi hoặc gây thương tích cho một người không?

20 – Khi áp dụng quyết định của mình để không buộc tội nếu có lý do để tin rằng một người đã phạm tội có thể bị truy tố, một điều tra viên cảnh sát phải nhớ điều gì?

21 – Khi nào một điều tra viên cảnh sát có thể bắt mà không có trát?

22 – Khi nào một điều tra viên cảnh sát có thể giữ một người?

(còn tiếp)

Nguồn: Rod Gehl & Darryl Plecas, Justice Institute of British Columbia 

dịch bởi Nguyễn Trang Nhung, đăng lần đầu trên  Mạng lưới Nghiệp đoàn

Xin ghi rõ nguồn để tôn trọng công sức của người dịch.

Hits: 158

One thought on “Giới thiệu môn Điều tra Hình sự – Chương 2: Một số khái niệm cơ bản – Kỳ 8: Bắt (Arrest) và Giữ (Detention)”

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *