Unions Network: “Leviathan” (Thủy Quái) là tác phẩm kinh điển của nhà triết học chính trị người Anh Thomas Hobbes (1588 – 1679). Ngoài việc đặt ra khái niệm “khế ước xã hội” mà các triết gia đời sau thường dùng, cuốn sách này còn phát triển các nguyên tắc cơ bản của tư tưởng tự do phương Tây: quyền được bầu cử của các cá nhân; quyền bình đẳng tự nhiên của tất cả mọi người; tính nhân tạo của địa vị chính trị; quan điểm tất cả quyền lực chính trị hợp pháp phải mang tính “đại diện” và dựa trên sự đồng thuận của nhân dân; và sự diễn giải luật khá phóng thoáng cho phép mọi người được làm bất kỳ điều gì mà pháp luật không cấm.

Xét tầm quan trọng đặc biệt của tác phẩm, Mạng lưới Nghiệp đoàn xin mạo hiểm chuyển ngữ “Leviathan”. Do tác phẩm được viết bằng tiếng Anh cổ, với cấu trúc câu phức tạp, bản dịch đầu tiên của chúng tôi chắc chắn sẽ chứa nhiều sai sót. Xin độc giả hỗ trợ bắt lỗi bản dịch bằng cách gửi tin nhắn đến fanpage Mạng lưới Nghiệp đoàn.

Click vào ĐÂY để đọc các chương đã dịch, vào ĐÂY để đọc bản gốc tiếng Anh, và vào ĐÂY để tham khảo bản tiếng Pháp.

*

Phần I – Bàn về Con người

Chương II – Về sự Tưởng Tượng

Khi một vật đứng yên, trừ khi có một yếu tố nào đó khác làm cho vật xê dịch, thì vật đó sẽ vẫn đứng yên, đó là một thực tế hiển nhiên. Tuy nhiên, quan điểm rằng một vật đang chuyển động sẽ tiếp tục chuyển động mãi, trừ phi có một vật khác làm nó dừng lại, lại không dễ được tán thành, dù dựa trên cùng một lý lẽ (cụ thể là, không vật gì có thể tự thay đổi chính nó). Đó là bởi con người đánh giá không chỉ những người khác, mà còn cả mọi sự vật vật khác, dựa trên chính mình. Vì họ thấy mình đau đớn và mệt mỏi sau mỗi chuyển động, họ cho rằng mọi vật khác cũng mệt mỏi sau khi chuyển động, và cũng tìm kiếm sự nghỉ ngơi; trong khi lại không cân nhắc liệu khao khát nghỉ ngơi mà họ tìm thấy trong chính họ có hay không bao gồm nhiều chuyển động khác. Vì lẽ đó, các trường Đại học [1] đã dạy rằng những cơ thể nặng nề đổ sụp xuống vì ham muốn được nghỉ ngơi, và ham muốn được bảo tồn đặc tính tự nhiên của mình ở địa điểm phù hợp với chúng nhất. Ở đây, họ đã gán cho những vật vô tri vô giác cái ham muốn, và hiểu biết, về chuyện cái gì là tốt cho sự tồn tại của chúng, trong khi những điều đó còn vượt quá hiểu biết của con người.

Khi một Cơ Thể đang chuyển động, nó sẽ vẫn mãi chuyển động (trừ khi bị cản trở bởi một vật khác). Và bất cứ thứ gì có thể cản trở chuyển động của vật cũng không thể khiến vật dừng lại ngay tức khắc, nó chỉ làm được điều đó một cách dần dần, từng bước một. Khi gió thổi qua mặt nước, những con sóng vẫn tiếp tục lan xa sau một thời gian dài. Và hiện tượng tương tự cũng xảy ra với những chuyển động nảy sinh ở các bộ phận bên trong con người, khi họ Nhìn, Mơ, .v.v. Ngay cả khi khách thể đã di chuyển, hoặc khi nhắm mắt, chúng ta vẫn còn lưu giữ hình ảnh của khách thể, dù nó có thể mơ hồ hơn lúc ta đang nhìn. Đây là điều mà tiếng Latin gọi là Imagination (Tưởng Tượng), xuất phát từ chữ “image” chỉ “cảnh tượng” hình thành khi ta nhìn; và từ này cũng được dùng cho mọi cảm giác (sense) khác, dù cách gọi không hoàn toàn phù hợp. Nhưng khi người Hy Lạp gọi nó là Fancy (Tưởng Tượng), một từ chỉ sự Xuất Hiện, thì cách dùng từ này trở nên phù hợp với mọi cảm giác. Vì thế, Tưởng Tượng chẳng là gì khác ngoài Cảm Giác đang Phân Hủy; và nó hiện diện ở con người, cũng như nhiều Sinh Vật sống khác, cả trong khi ngủ lẫn khi thức.

 

Ký Ức

Sự phân hủy của Cảm Giác nơi một người đang thức, không phải là sự phân hủy của chuyển động đã tạo ra cảm giác đó; mà là việc nó bị lu mờ đi, theo cách mà ánh sáng Mặt Trời làm lu mờ ánh sáng của những Vì Sao khác. Kể cả vào ban ngày, những Vì Sao cũng phát ra ánh sáng, và ánh sáng đó không hề ít hay yếu hơn ánh sáng chúng phát ra vào ban đêm, là thứ làm cho chúng ta có thể nhìn thấy chúng. Nhưng vì trong số nhiều va chạm mà mắt, tai và các cơ quan khác trên cơ thể chúng ta nhận được từ ngoại vật, ta chỉ cảm nhận được va chạm mạnh nhất; ta không cảm nhận được ánh sáng của các Vì Sao, do ánh sáng của Mặt Trời mạnh hơn. Và khi một khách thể rời khỏi tầm mắt của chúng ta, dù ấn tượng mà nó để lại cho chúng ta tiếp tục được duy trì, những khách thể mới hơn sẽ tiếp tục xuất hiện và tác động lên ta, khiến sự Tưởng Tượng trong quá khứ bị lu mờ, yếu đi, giống như giọng nói của một người bị nhấn chìm giữa những tiếng ồn trên đường phố. Thời gian trôi qua càng lâu kể từ khi ta nhìn hoặc cảm nhận một khách thể, thì sự Tưởng Tượng của ta về nó càng yếu. Vì những thay đổi liên tục trong cơ thể con người thậm chí còn phá hủy những bộ phận từng chuyển động để tạo thành cảm giác, khoảng cách thời gian và khoảng cách không gian tác động lên chúng ta theo cùng một cách. Khoảng cách không gian khiến những vật chúng ta nhìn thấy trở nên mờ nhạt hơn, không thể phân biệt từng chi tiết nhỏ, và khiến những Giọng Nói chúng ta nghe thấy trở nên nhỏ dần đi, không thể nghe rõ ràng. Tương tự như vậy, sau một khoảng cách lớn về thời gian, sự tưởng tượng của chúng ta về quá khứ trở nên yếu đi, khiến ta đánh mất nhiều Đường Phố trong những Thành Phố ta từng ngắm nhìn, hoặc mất nhiều Tình Huống cụ thể trong những Hoạt Động ta từng chứng kiến. Để diễn đạt thứ Cảm Giác đang Phân Hủy này, ta dùng từ Tưởng Tượng, như tôi đã đề cập. Nhưng khi chúng ta cần diễn đạt sự Phân Hủy, và ám chỉ rằng Cảm Giác đang dần mờ, dần cũ, dần trôi qua, ta dùng từ Ký Ức. Vì vậy, Tưởng Tượng và Ký Ức là cùng một thứ, được gọi bằng hai cái tên khác nhau khi được xem xét theo hai góc độ khác nhau.

Một lượng lớn ký ức, hoặc ký ức về nhiều thứ, được gọi là Kinh Nghiệm. Một lần nữa, sự Tưởng Tượng chỉ xoay quanh những thứ mà trước đó đã được ghi nhận bởi cảm giác, hoặc trọn vẹn trong một lượt, hoặc từng phần trong nhiều lần. Sự tưởng tượng ban đầu (tức tưởng tượng toàn bộ vật thể, theo cái cách nó được tiếp nhận bởi giác quan) là sự Tưởng Tượng Đơn Giản – như khi ai đó tưởng tượng ra một con người hoặc một con ngựa mà mình từng nhìn. Một loại khác, sự Tưởng Tượng Pha Trộn, là khi từ hình ảnh của một con người và một con ngựa mà mình từng chứng kiến trong hai lần khác nhau, chúng ta tưởng tượng trong tâm trí mình một con Nhân Mã. Khi một người gộp hình ảnh của chính anh ta với hình ảnh về hành động của một người khác – chẳng hạn như một người có thể hình dung anh ta là Hercules hoặc Alexander (điều thường xảy ra với những người đọc quá nhiều tác phẩm Lãng Mạn), đó là một sự tưởng tượng pha trộn, và thực ra chỉ là một Giả Tưởng (Fiction) của tâm trí. Còn có những loại Tưởng Tượng khác hình nơi con người, bao gồm cả người đang thức, do những ấn tượng lớn của cảm giác. Chẳng hạn, khi chúng ta nhìn chằm chằm vào Mặt Trời, ấn tượng sẽ khiến một hình ảnh Mặt Trời đọng lại trước mắt chúng ta trong một thời gian. Và khi một người chăm chú nhìn những hình vẽ hình học trong một thời gian dài, rồi chuyển sang đứng trong bóng tối, anh ta sẽ thấy hình ảnh của những Đường Nét và Góc Cạnh hiện lên trước mắt mình, dù anh ta còn đang thức. Những loại Tưởng Tượng này không có một tên gọi cụ thể nào, vì chúng không thường được mang ra làm đề tài thảo luận giữa chúng ta.

 

Những Giấc Mơ

Sự tưởng tượng của người đang ngủ được chúng ta gọi là Giấc Mơ. Và cũng như những dạng Tưởng Tượng khác, giấc mơ được tạo thành, hoặc toàn bộ, hoặc từng phần, bởi Cảm Giác. Do những cơ quan cần thiết để hình thành cảm giác, như não và các dây thần kinh, đều bị làm cho mê man trong giấc ngủ, chúng không dễ dàng chịu tác động từ ngoại vật. Vì vậy, trong giấc ngủ, Tưởng Tượng và Giấc Mơ không thể đến từ nguyên nhân nào khác ngoài sự kích động của các phần bên trong cơ thể con người – những phần mà ngay cả khi bị rơi vào hỗn loạn, sự kết nối của chúng với Não và các Cơ Quan khác trong cơ thể vẫn giúp giữ nguyên những chuyển động của chúng. Theo cách này, những sự tưởng tượng từng được tạo thành thành bên trong một người sẽ xuất hiện trở lại như khi người đó còn thức. Trừ một điểm: vì các giác quan đã bị làm cho mê man trong giấc ngủ, chẳng Khách Thể mới nào có thể áp đảo và làm lu mờ những sự tưởng tượng đó bằng một ấn tượng mạnh mẽ hơn. Khi các giác quan im tiếng, một Giấc Mơ trở nên rõ ràng hơn cả những suy nghĩ của chúng ta khi đang thức. Vì vậy, phân biệt chính xác giữa Cảm Giác và Giấc Mơ giờ đây trở thành một việc khó khăn, thậm chí nhiều người cho là không thực hiện được. Về phần mình, tôi thấy khi mơ, tôi thường không nghĩ về các Cá Nhân, các Không Gian, các Khách Thể hay các Hành Động mà tôi thường nghĩ về khi thức. Tôi cũng không nhớ được những chuỗi suy nghĩ mạch lạc mà mình có trong mơ, như cách tôi làm được khi thức. Và vì tôi khi thức thường nhận thấy sự vô lý của những Giấc Mơ, mà không bao giờ mơ đến sự vô lý của những Suy Nghĩ khi thức của mình; tôi thỏa mãn cho rằng khi tôi thức thì tôi không mơ; dù khi tôi mơ, tôi cũng nghĩ rằng mình đang thức.

Và bởi giấc mơ hình thành từ sự rối loạn của một số bộ phận bên trong cơ thể, những sự rối loạn khác nhau phải gây ra những Giấc Mơ khác nhau. Vì thế, chịu lạnh khi ngủ sẽ sản sinh ra những Giấc Mơ về Nỗi Sợ, và dấy lên những suy nghĩ, Hình Ảnh về những khách thể đáng sợ (do tác động từ não tới các cơ quan bên trong tương ứng với tác động từ các cơ quan bên trong tới não). Tương tự, vì Giận Dữ làm nóng một số phần của Cơ Thể khi chúng ta đang thức; việc những bộ phận đó bị nóng khi ta đang ngủ sẽ gây ra Giận Dữ, và dấy lên trong não sự Tưởng Tượng về một Kẻ Thù. Theo cùng cách này, vì khi ta đang thức, lòng tốt tự nhiên sinh ra khao khát, và khao khát làm một số phần cụ thể khác của cơ thể nóng lên; việc những bộ phận này phải chịu nóng khi ta ngủ cũng dấy lên trong não ta sự tưởng tượng về một lòng tốt được thể hiện. Tóm lại, những Giấc Mơ của chúng ta là ảnh phản chiếu của những Tưởng Tượng ta có khi đang thức. Khi ta thức, chuyển động (sinh ra cảm giác) xuất phát từ đầu này, thì khi ta ngủ, chuyển động xuất phát từ đầu ngược lại.

 

Sự Hiện Hồn (Apparitions) và những Thị Kiến (Visions)

Khó khăn lớn nhất mà chúng ta gặp phải khi phân biệt giữa Giấc Mơ của một người và những suy nghĩ của người đó khi thức, là trong vài tình huống ngẫu nhiên, ta không thể nhận thức được là mình đang ngủ. Điều này dễ xảy đến với một người tràn đầy những suy nghĩ sợ hãi; một người bị cắn rứt lương tâm; hoặc một người không được ngủ trong hoàn cảnh phù hợp, chẳng hạn như không được ngủ trên giường, không được thay quần áo, hoặc phải ngủ gục trên ghế. Nếu một người gặp khó khăn trong việc đưa mình vào giấc ngủ, những hình ảnh tưởng tượng kỳ quặc mà anh ta bắt gặp chẳng nên được coi là gì khác, ngoài một Giấc Mơ. Chúng ta đã đọc về Marcus Brutus (người được Julius Caesar tha mạng và cho làm thân cận, nhưng cũng chính là người đã sát hại ông), rằng tại Philippi, vào đêm trước trận chiến với Augustus Caesar, y đã thấy một cảnh hiện hồn đáng sợ. Dù các Sử Gia thường đề cập đến hình ảnh này như một Thị Kiến, nếu xem xét các hoàn cảnh, ta sẽ dễ dàng phán xét rằng đó chỉ là một Giấc Mơ ngắn. Ngồi trong lều, đăm chiêu và lo lắng về hành động thiếu suy nghĩ của mình, không khó cho một người đang ngủ vùi trong cơn lạnh để mơ thấy những điều làm y kinh sợ nhất. Và khi nỗi sợ đó dần đánh thức y dậy, thì cảnh Hiện Hồn cũng dần dần biến mất. Khi y không thể biết chắc mình có đang ngủ hay không, y không có lý do nào để tin rằng đó chỉ là một Giấc Mơ, hoặc bất cứ thứ gì khác ngoài một Thị Kiến. Và đây không phải là một sự Ngẫu Nhiên hiếm gặp: nếu người đang thức là những kẻ nhát gan, mê tín, bị ám ảnh bởi những chuyện kể đáng sợ, và đang ở trong bóng tối một mình; họ cũng dễ mang những sự tưởng tượng tương tự, và tin rằng mình đã thấy những linh hồn, hoặc những Bóng Ma của người chết, đi lại nơi các nghĩa trang trong sân nhà thờ – dù đó chỉ là sự tưởng tượng của riêng họ, hay là trò lừa của những kẻ muốn lợi dụng nỗi sợ mê tín kia để che phủ, trong bóng đêm, những địa điểm mà chúng không muốn ai biết rằng chúng thường lui tới.

Chính sự thiếu hiểu biết về cách phân biệt những Giấc Mơ, và những dạng Tưởng Tượng mạnh khác, với Cảm Giác thật, đã dẫn đến sự nổi lên của những Tôn Giáo của kẻ Ngoại Đạo trong quá khứ – thứ tôn thờ các Satyr, Faun, Nymph, cùng những thứ tương tự. Ngày nay, nó dẫn đến quan điểm của những kẻ dã man về Tiên, Ma, Goblin, và về sức mạnh của Phù Thủy. Về Phù Thủy, tôi không nghĩ rằng những kỹ thuật của họ có sức mạnh thật sự. Dù vậy, tôi vẫn nghĩ rằng họ xứng đáng bị trừng phạt những niềm tin sai lệch của họ, theo đó họ có thể bày những trò phá phách với những mục đích gây hại. Trò buôn bán của họ khiến họ giống với một Tôn Giáo mới hơn là một môn Kỹ Thuật hoặc Khoa Học. Về Tiên và những Bóng Ma biết đi, tôi cho rằng người ta đã dạy về chúng, hoặc không bác bỏ chúng, nhằm giữ con người tiếp tục tin vào Phép Trừ Tà, Thập Giá, Nước Thánh, hoặc các phát minh tương tự khác của những người sợ ma. Tất nhiên, không thể nghi ngờ việc Chúa có thể tạo ra những Sự Hiện Hồn trái tự nhiên. Tuy nhiên, niềm tin Ki-tô giáo không bao gồm quan điểm rằng Chúa làm việc đó một cách rất thường xuyên, và con người cần phải sợ những thứ như vậy, hơn là sợ sự đình trệ hay đổi dời của dòng chảy Tự Nhiên, một thứ không nằm ngoài khả năng của Chúa. Khi những kẻ xấu xa viện cớ “Chúa có thể làm mọi việc” để nói bất cứ thứ gì phục vụ lợi ích của họ, dù họ biết rằng điều đó là không đúng; một người khôn ngoan không nên tin họ ở mức mà lý lẽ không còn cho phép. Khi không còn nỗi sợ mê tín vào các Hồn Ma, những trò Giải Mộng, những lời Tiên Tri giả và nhiều thứ ăn theo khác – mà những kẻ gian xảo sử dụng để lừa dối những người đơn giản – thì mọi người sẽ đến gần hơn với sự Tuân Lệnh dân sự (civill Obeydence).

Dù các trường Đại học lẽ ra phải làm công việc trên, dường như họ lại đang nuôi dưỡng các học thuyết vừa kể. Vì không biết Tưởng Tượng và Cảm Giác vốn là gì, họ đem những thứ mình đã học đi dạy cho người khác. Có người nói rằng những hình ảnh Tưởng Tượng tự xuất hiện, mà không đến từ bất cứ nguyên nhân nào. Người khác nói rằng chúng nhìn chung xuất phát từ Ý Chí, và rằng Chúa thổi những suy nghĩ Tốt vào con người, trong khi Ác Quỷ thổi những suy nghĩ Xấu. Có người lại nói rằng Cảm Giác tiếp nhận Chủng Loại của các vật, rồi chuyển chúng cho Thường Thức (Common Sense); trước khi chúng được chuyền từ Thường Thức đến trí Tưởng Tượng, rồi đến Ký Ức, rồi đến Phán Xét; như thể một vật được nhiều người chuyền tay nhau; một cách giải thích dài dòng không giúp vấn đề được hiểu.

 

Sự Hiểu Biết

Sự Tưởng Tượng hình thành trong con người (hoặc bất cứ giống loài nào khác được ban cho năng lực tưởng tượng) bởi ngôn từ, hoặc những ký hiệu tùy ý khác, là thứ mà chúng ta thường gọi là sự Hiểu Biết – một thứ tồn tại chung ở Con Người và Con Vật. Chẳng hạn, nhờ thói quen, một con chó có thể hiểu được tiếng gọi và tiếng quở mắng của chủ; và nhiều Con Vật khác cũng thế. Sự Hiểu Biết chỉ có ở con người, là không chỉ hiểu ý muốn của anh ta, mà còn hiểu cả các khái niệm và suy nghĩ của anh ta, thông qua việc xâu chuỗi các tên gọi của sự vật thành những lời Khẳng Định, Phủ Định, hoặc các dạng Lời Nói khác. Đó chính là loại Hiểu Biết mà tôi nói đến dưới đây.

(Còn tiếp. Click vào ĐÂY để đọc các chương đã dịch)

Nguyễn Hoàng Nam dịch, Nguyễn Vũ Hiệp hiệu đính
Đăng lần đầu trên Mạng lưới Nghiệp đoàn

Xin ghi rõ nguồn để tôn trọng công sức của người dịch.

Chú thích:

[1] Trong câu này, Hobbes muốn đề cập đến những trường đại học đang giảng dạy triết học chịu ảnh hưởng từ Aristotle vào thời điểm đó.

 

Hits: 15

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *