(Trích Quyển 5 trong bộ Chính Trị Luận của Aristotle, Nông Duy Trường dịch, đăng trên Học viện Công dân)

 

Chương I

Chúng ta đã luận qua bốn đề mục trong các chương vừa qua. Đề mục kế tiếp là về những nguyên nhân gây ra cách mạng, có bao nhiêu loại, và bản chất của những cuộc cách mạng này. [Ngoài ra,] còn phải xét xem loại chế độ nào thì dễ thoái hóa sang loại nào nhất, và những phương thức bảo tồn các chế độ nói chung và từng loại chế độ nói riêng, và cách thức nào sẽ là cách thức tốt nhất để bảo tồn chế độ.

Đầu tiên ta phải giả thiết rằng trong những mô hình chính quyền đã được thiết lập đều có khát vọng công lý và bình đẳng, dù người ta vẫn chưa đạt được khát vọng này như tôi đã giải thích trước đây. Thí dụ như chế độ dân chủ được xây dựng trên khái niệm là những ai bình đẳng trên bất kỳ một phương diện nào thì cũng bình đẳng trên mọi phương diện: bởi vì mọi người đều có tự do như nhau, nên mọi người phải được tuyệt đối bình đẳng. Chế độ quả đầu dựa trên khái niệm là những ai không bình đẳng về một phương diện nào, thì cũng nhất thiết không bình đẳng trên mọi phương diện, thí dụ như sự bất bình đẳng về tài sản dẫn tới sự bất bình đẳng tuyệt đối. Những người dân chủ nghĩ rằng vì họ bình đẳng cho nên họ phải được bình đẳng trên mọi phương diện; còn những người theo quả đầu lại đòi hỏi hơn nữa cho rằng họ không bình đẳng với những người khác. Cả hai mô hình chính quyền này đều cho rằng chế độ của họ có một nền tảng công lý, nhưng nếu xét trên tiêu chuẩn tuyệt đối thì cả hai đều còn khiếm khuyết, và như vậy cả hai phe, khi mà không được tham gia vào chính sự theo như định kiến của họ, sẽ nổi loạn. Những người tài năng kiệt xuất là những người có lý lẽ vững chắc nhất để nổi loạn (vì chỉ có họ mới thực sự là không bình đẳng với người khác), nhưng những người này lại ít có khuynh hướng nổi loạn nhất. Còn có một loại ưu việt khác do những người cho rằng họ hơn người là vì xuất thân từ danh gia vọng tộc. Như thế, đây chính là cội nguồn của cách mạng, đưa đến hai loại thay đổi chế độ. Loại thứ nhất nhằm thay đổi hiến pháp, tức là thay đổi cơ cấu hiện hữu sang cơ cấu khác, như từ dân chủ sang quả đầu hay từ hai loại này sang chính thể theo hiến pháp hoặc quý tộc hay ngược lại. Loại thứ hai không nhằm thay đổi hiến pháp mà chỉ nhằm nắm những cơ quan chính quyền. Thêm vào đó phe cách mạng trong trường hợp này có thể gia giảm tính chất của chế độ, thí dụ chế độ dân chủ trở nên dân chủ hơn hay kém dân chủ hơn sau cách mạng; tương tự như vậy với các chế độ khác. Hoặc là cách mạng chỉ nhắm tới thay đổi một phần nào của hiến pháp mà tôi, như là lập thêm một cơ quan hay hủy bỏ một cơ quan nào đó: tại Sparta, Lysander âm mưu lật đổ chế độ quân chủ cùng Hội đồng Giám sát. Tại Epidaurus cũng vậy, cách mạng cũng chỉ thay đổi một phần hiến pháp như thay đổi cơ cấu lãnh đạo gồm trưởng các bộ tộc bằng một hội đồng được bổ nhiệm; nhưng cho đến nay, chỉ có quan chức tức là thành viên của giai cấp cai trị, mới phải đi họp khi có cuộc bầu cử bổ nhiệm một chức quan khác. Và cũng tại đây còn có cơ cấu một người lãnh đạo chính quyền thay vì một hội đồng lãnh đạo tập thể; đây cũng là tính cách của chế độ quả đầu. Trong mọi trường hợp và ở mọi nơi, sự bất bình đẳng luôn luôn là nguyên nhân gây ra cách mạng; nhưng nếu sự không đồng đều về quyền lợi được chia theo tỷ lệ, thì sự không đồng đều đó không phải là bất bình đẳng[1]; do đó, một chế độ quân chủ cha truyền con nối chỉ được coi là bất bình đẳng giữa những vương hầu đồng đẳng mà thôi. Dù sao, chính ước muốn được bình đẳng là nguyên nhân gây ra cách mạng.

Nhưng bình đẳng cũng có hai loại, bình đẳng theo số lượng và bình đẳng tỷ lệ theo quyền lợi. Bình đẳng theo số lượng có nghĩa là được đối xử đồng đều về số lượng; còn về bình đẳng theo tỷ lệ, hãy lấy một thí dụ: số thặng dư của 3 đối với 2 thì bằng với số thặng dư của 2 đối với 1, về số lượng; trong khi đó tỷ lệ của số thặng dư của 4 trên 2 cũng bằng với tỷ lệ của 2 trên 1. Như đã trình bày ở trên, người ta đồng ý với nhau trên nguyên tắc về sự công bằng theo tỷ lệ, nhưng khác nhau ở chỗ thực hành, vì một số người cho rằng nếu họ bình đẳng trên bất kỳ một phương diện nào thì cũng bình đẳng trên mọi phương diện, những người khác lại cho rằng chỉ cần không bình đẳng về một phương diện cũng không bình đẳng trên mọi phương diện. Cho nên, có hai mô hình chính quyền chính là dân chủ và quả đầu. Những người xuất thân danh gia vọng tộc và có tài đức cao thì hiếm, nhưng tài sản và số đông người thì lại có nhiều. Khó lòng mà tìm thấy được một trăm người vừa là con nhà gia thế vừa có tài đức trong bất kỳ nước nào, nhưng mà người giàu có trong một nước không phải là hiếm. Như thế, thiết lập một hiến pháp hoàn toàn dựa trên một trong hai khái niệm về bình đẳng không phải là điều hay: có nhiều bằng chứng cho thấy những mô hình chính quyền như vậy khó lòng tồn tại vì chúng khởi đầu bằng một sự sai lầm, và vì thế không thể tránh khỏi một kết quả tai hại. Ta có thể suy ra là nên ứng dụng cả hai khái niệm về bình đẳng; trong một số trường hợp dùng số lượng, trong những trường hợp khác theo tỷ lệ.

Dù sao thì chế độ dân chủ vẫn có vẻ an toàn và ít rủi ro dẫn đến cách mạng hơn là chế độ quả đầu. Trong chế độ quả đầu có hai sự nguy hiểm song song đưa đến cách mạng; đó là sự bất bình đẳng giữa những người trong giai cấp giàu có với nhau và giữa họ với quần chúng. Còn trong chế độ dân chủ thì chỉ có thể có tranh chấp giữa quần chúng với giai cấp trưởng giả, chứ không có một sự tranh chấp nào đáng nói giữa quần chúng với nhau. Ta có thể nhận xét thêm là một chính quyền được thành lập bởi giai cấp trung lưu thì gần với chế độ dân chủ hơn là quả đầu, và là chế độ bền vững nhất trong tất cả những mô hình chính quyền vốn dĩ bất toàn [do con người thiết lập nên].

 

Chương II

Để xét xem sự bất mãn và cách mạng xảy ra như thế nào, ta phải, trước hết, xác định được những nguồn gốc và nguyên nhân nói chung ảnh hưởng đến cơ cấu chính trị. Có ba loại và ta sẽ lần lượt điểm qua từng loại: (1) tâm tình của những người làm cách mạng như thế nào? (2) động cơ của những người làm cách mạng là gì? và (3) vì sao mà những xáo trộn và bất đồng chính trị xảy ra?

Nguyên nhân chính và phổ quát nhất dẫn đến tâm tình cách mạng đã được bàn qua; đó chính là ước muốn được bình đẳng khi người ta nghĩ rằng họ bình đẳng với những người khác nhưng lại thua kém những người này, hoặc là ước muốn được hơn người khi nghĩ rằng họ có khả năng cao hơn nhưng lại được hưởng ít hơn hay bằng những người thấp kém hơn họ. Những tâm tình này có thể có căn cứ mà cũng có thể chỉ là những suy nghĩ chủ quan, và đó là những tâm tình gây ra cách mạng. Động cơ làm cách mạng là mong muốn đạt được quyền lợi vật chất và danh vọng, hay là nỗi sợ bị mất danh vọng và quyền lợi khiến họ phải nổi loạn để tránh bị mất mát những điều kể trên.

Ta vừa mới bàn qua những nguyên nhân và lý do mà người ta bị tác động dẫn đến cách mạng tựu trung có thể đếm được là bảy nguyên nhân, còn nếu nhìn theo khía cạnh khác thì có thể hơn bảy. Hai nguyên nhân đã được bàn qua liên quan đến danh vọng và quyền lợi: thứ nhất là mục tiêu để tranh đoạt, thứ hai là để thay đổi hoàn cảnh mà họ nghĩ là bất công khi kẻ khác thủ đắc nhiều hơn họ. Những nguyên nhân khác gồm có: sự ngạo mạn, sợ hãi, bị đè nén quá đáng, bị khinh rẻ, sự gia tăng bất quân bình trong nước, bầu cử gian lận, sơ xuất có cố ý, sơ xuất vô ý về những tiểu tiết, và sự khác biệt về các thành phần dân chúng.

 

Chương III

Ta đã thấy rõ sự ngạo mạn và lòng tham của quan chức dẫn đến cách mạng như thế nào. Khi quan chức ngạo mạn và tham lam thì họ phải âm mưu kình chống lẫn nhau và đi ngược lại với nền hiến pháp đã trao cho họ quyền lực để giành lấy những lợi lộc nếu không phải từ người dân thì cũng từ công quỹ. Thêm nữa, ta cũng thấy rõ ràng, danh vọng tác động mạnh mẽ đến con người như thế nào và là một nguyên nhân gây ra nổi loạn. Những kẻ bị mất danh vọng ganh ghét những người có danh vọng và vì thế nổi loạn. Danh vọng chỉ được xem là chính đáng khi đi đôi với tài năng, ngoài ra đều được xem là không chính đáng.

Sự siêu việt cũng là nguyên nhân của cách mạng khi một hay nhiều người có một thế mạnh quá mức so với mọi người trong nước, ngay cả so với quyền lực của nhà nước; đây chính là điều kiện dẫn đến chế độ quân chủ hay quả đầu gia đình trị. Và như thế, tại một số nước như Athens và Argos, những người siêu tuyệt này bị tẩy chay không cho ở trong nước. Nhưng thực ra, trước hết, ngăn ngừa trường hợp như vậy xảy ra — không nên để cho có những người siêu tuyệt như vậy — thì vẫn tốt hơn là để cho xảy ra rồi tìm biện pháp cứu chữa.

Một nguyên nhân nữa của cách mạng là sự sợ hãi. Hoặc là những người làm điều sai quấy và sợ bị hình phạt, hoặc là những người e rằng họ sẽ bị đối xử bất công nên ra tay trước. Vì thế tại Rhodes, những nhà quý tộc âm mưu chống lại nhân dân vì sợ bị nhân dân kiện ra tòa. Sự khinh thường cũng là một nguyên nhân gây ra nổi loạn; thí dụ, trong chế độ quả đầu, những người không được tham gia chính sự là thành phần đa số, họ nổi loạn vì nghĩ rằng họ mạnh hơn. Hay trong chế độ dân chủ, người giàu nổi loạn vì ghét sự mất trật tự và tình trạng hỗn loạn của nhà nước; thí dụ như tại Thebes, sau trận chiến Oenophyta, chính quyền dân chủ bị suy đồi vì điều hành tồi tệ. Tại Megara, sự sụp đổ của chế độ dân chủ do mất trật tự và hỗn loạn gây ra. Tại Syracuse, chế độ dân chủ đã khiến cho người ta chán ghét trước khi Gelo trở thành nhà độc tài, tương tự như thế tại Rhodes, chế độ dân chủ đã bị chán ghét trước khi những nhà quý tộc nổi loạn.

Cách mạng chính trị cũng bắt nguồn từ sự gia tăng bất cân xứng của bất kỳ một phần tử nào trong nước. Vì một cơ thể gồm nhiều phần tử tạo thành và mỗi phần tử khi phát triển cũng phải tương ứng với nhau để giữ được tính cân đối của toàn thể, nếu không cả cơ thể sẽ sụp đổ tỉ như bàn chân dài ra bốn mươi phân mà cơ thể chỉ có hai gang tay. Nếu sự gia tăng bất bình thường, kể cả phẩm cũng như lượng, cứ tiếp tục, thì cơ thể đó sẽ trở thành một thứ gì khác hẳn. Trong một nước cũng vậy, có những phần tử phát triển âm thầm, như số những người nghèo tăng lên quá mức trong chế độ dân chủ hay trong chế độ theo hiến pháp. Nhưng sự gia tăng bất cân xứng này đôi khi chỉ là tình cờ, như tại Tarentum, sau trận chiến với dân Iapygia rất nhiều quý tộc bị sát hại khiến cho chế độ hiến pháp tại đây bị biến thành dân chủ; hoặc như tại Argos, sau khi quân đội xứ này bị quân của Cleomenes xứ Sparta đánh tan thành nhiều mảnh, nên đành phải nhận thêm nông nô (người Perioeci) thành công dân của họ; hoặc tại Athens, sau khi bộ binh bị thua trận liên tục trong cuộc chiến chống lại liên quân Peloponnesia, con số các nhà quý tộc bị giảm sút vì phải bổ sung cho quân đội.[2] Trong chế độ dân chủ, sự gia tăng bất cân xứng cũng là nguyên nhân dẫn đến cách mạng, tuy không nhiều như ở các chế độ khác. Khi giới giàu có gia tăng hay tài sản gia tăng, hình thức chính quyền chuyển sang quả đầu hay gia đình trị. Sự thay đổi thể chế chính trị, đôi khi có thể xảy ra mà không có cách mạng, vì có tranh cãi trong kết quả bầu cử, như tại Heraea (thay vì quan chức được bầu ra, họ lại được lựa chọn bằng bốc thăm vì những cử tri có thói quen là bầu cho những người cùng phe); hay là vì bất cẩn để cho một kẻ bất trung lọt vào hàng lãnh đạo cao nhất, như tại Oreum, khi Heracleodorus vào được vị trí lãnh đạo bèn thay đổi chế độ quả đầu thành chế độ dân chủ và theo hiến pháp.

Chưa hết, cách mạng có thể xảy ra chỉ vì một sơ xuất vô ý về tiểu tiết, như tại Ambracia, muốn được bổ nhiệm, quan chức cần có tiêu chuẩn nho nhỏ về tài sản, nhưng tiêu chuẩn này dần dần được hủy bỏ vì dân Ambraciot nghĩ rằng tiêu chuẩn ít ỏi như vậy cũng không đáng gì hết.

Một nguyên do khác nữa tạo ra cách mạng là sự khác biệt sắc tộc nhất là khi những sắc tộc khác nhau chưa có đủ thì giờ để đồng hóa với nhau, vì sự phát triển của một nước không phải chỉ trong một sớm một chiều, hay vì nhiều sắc dân do ngẫu nhiên mà tụ họp lại với nhau. Như vậy, việc thu nhận sắc dân khác vào một nước, dù ngay từ khi mới lập quốc hay sau đó, chẳng chóng thì chầy sẽ dẫn đến cách mạng.[3] Thí dụ, người Achaean cùng với người Troezen lập thành nước Sybaris, nhưng khi dân số Achaean gia tăng bèn tìm cách trục xuất người Troezen để chiếm lấy nước Sybaris. Tại Thurii, người Sybarite tranh chấp với những cư dân khác sắc tộc vì cho rằng họ mới là chủ nhân ông của lãnh thổ và đòi có phần nhiều hơn; cuối cùng chính họ bị các sắc dân khác đuổi đi. Tại Byzantium, những người tới sau âm mưu chống lại những người định cư trước nhưng âm mưu bị bại lộ và bị trục xuất; dân cư xứ Antissa sau khi thu nhận những người Chian lại tranh chấp với họ, rồi cũng phải trục xuất những người này; và người Zanclean, sau khi thu nhận người Samian, bị những người này trục xuất khỏi đất nước của họ. Người xứ Apollonia trên bờ biển Hắc Hải, sau khi nhận thêm các dân mới vào thì xảy ra cách mạng; người xứ Syracuse, sau khi trục xuất viên bạo chúa nhận thêm dân ngoại và lính đánh thuê vào làm công dân, khiến cho tranh chấp xảy ra; và người xứ Amphipolis, sau khi nhận sắc dân Chalcidia, bị sắc dân này trục xuất khỏi lãnh thổ.

Trong những chế độ quả đầu, quần chúng nổi loạn vì nghĩ rằng họ bị đối xử bất công, bởi vì, như đã được trình bày trước đây, họ nghĩ rằng họ là những người bình đẳng nhưng lại không được hưởng quyền lợi đồng đều. Còn trong chế độ dân chủ thì giới quý tộc nổi loạn vì họ nghĩ rằng họ cao quý hơn nhưng lại chỉ được hưởng quyền lợi như những người khác.

Thêm nữa, tình trạng lãnh thổ của một nước cũng là nguyên nhân gây ra nổi loạn. Thí dụ, tại Clazomenae, người dân vùng Chytian trong đất liền có mối bất hòa với những người dân sống ngoài hải đảo; và người dân trong đất liền xứ Colophon có sự bất hòa với dân hải cảng Notium; tại Athens cũng vậy, dân ở hải cảng Piraeus thì dân chủ hơn dân sống sâu trong đất liền. Nếu trong chiến tranh một chiến hào dù nhỏ tới đâu cũng có thể chặn được một đạo quân, thì bất cứ một sự khác nhau nào, dù nhỏ tới đâu cũng tạo ra sự phân hóa. Có lẽ sự phân hóa lớn nhất là giữa đức hạnh và tội lỗi, rồi đến sự phân hóa giữa giàu và nghèo, và những sự tương phản lớn nhỏ khác nữa, như sự khác biệt về lãnh thổ như vừa bàn ở đây.

 

Chương IV

Trong những cuộc cách mạng, những duyên cớ có thể rất nhỏ mọn nhưng lại dính dáng đến những quyền lợi lớn lao. Khi những chuyện lặt vặt dính đến những người lãnh đạo thì lại trở nên quan trọng, như đã xảy ra tại Syracuse chỉ vì chuyện tình cảm giữa hai người lãnh đạo trẻ tuổi. Một trong hai viên tướng có việc vắng nhà và người yêu của viên tướng này bị người kia quyến rũ; để trả thù, viên tướng này tìm cách cám dỗ lại vợ của người kia. Đây là chuyện cá nhân nhưng họ lại kéo cả giai cấp lãnh đạo vào cuộc khiến cho chính quyền bị chia thành hai phe. Bài học ở đây là ta phải cẩn thận ngăn không cho những sự xấu xa xảy ra ngay từ đầu và phải chấm dứt ngay những xung đột giữa những người lãnh đạo. Tất cả những sai lầm khởi đi từ thưở ban đầu — như cách ngôn đã nói: “Khởi đầu tốt thì đã xong nửa việc.” Cho nên, một lầm lỗi từ phần đầu, dù rất nhỏ cũng to lớn như những lầm lỗi trong những phần sau. Nói chung, khi những nhà lãnh đạo tranh chấp với nhau, cả nước cũng bị dính vào như đã xảy ra tại Hesdaea sau Cuộc chiến Ba tư. Duyên cớ là việc chia gia tài giữa hai anh em. Một trong hai người không chịu công bố tài sản do người cha để lại và kho tàng người cha tìm được là bao nhiêu; cho nên, người kia, nghèo hơn, tranh cãi với người anh em của mình và kéo theo những người trong cùng giai cấp với mình vào cuộc. Người kia cũng kéo những người giàu có về phe mình.

Ở Delphi, một chuyện cãi vã về hôn nhân lại là đầu mối của những rắc rối sau này. Chàng rể trên đường đi rước dâu thấy một chuyện gì đó cho là điềm bất tường nên lại quay về không chịu rước dâu. Gia đình cô dâu cảm thấy bị xúc phạm nên tìm cách giấu những châu báu thiêng liêng vào hành lý của chàng rể khi chàng đi tế thần và giết chết chàng rể sau khi đổ cho chàng tội ăn cướp đền thánh. Ở Mytiline cũng vậy, một cuộc tranh giành quyền thừa kế giữa những người con gái cũng dẫn đến những rủi ro và chiến tranh với Athens khiến cho Paches tiến chiếm được Mytiline. Câu chuyện như sau: một nhà trưởng giả tên Timophanes để lại gia tài cho hai người con gái; Dexander, một người dân khác, muốn cưới hai cô gái này cho con trai của mình, nhưng bị từ chối. Vì vậy, Dexander (một nghị viên của Athens) xúi dân Athens can thiệp. Một chuyện tương tự có liên quan đến người thừa kế nữ xảy ra tại Phocis giữa Mnaseas, cha của Mnason và Euthycrates, cha của Onomarchus. Đây là sự khởi đầu của cuộc Thánh Chiến. Một cuộc tranh cãi có liên quan tới hôn nhân cũng là nguyên nhân của sự thay đổi chế độ tại Epidamnus. Một người cha có con gái hứa gả cho một thanh niên. Nhưng cha của thanh niên này là một quan chức và vì một chuyện gì đó bắt phạt cha của cô gái. Cảm thấy bị làm nhục, cha của cô gái mưu toan với những người dân không có quyền bầu cử để lật đổ chính quyền.

Chính quyền cũng có thể thay đổi từ chế độ này sang chế độ khác như từ dân chủ sang quả đầu hay ngược lại hay sang chế độ theo hiến pháp chỉ vì những quan chức, hoặc một thành phần nào của nhà nước được tăng gia quyền lực hay tăm tiếng. Vì lẽ đó ở Athens, Hội đồng Areopagus được nổi danh sau cuộc chiến Ba Tư, muốn xiết chặt lại chính quyền (tiến sang chế độ quả đầu). Nhưng sau đó nhờ vào chiến thắng tại Salamis của thủy quân đưa đến việc thành lập đế quốc Athens do kiểm soát được vùng biển, nên chế độ lại chuyển sang dân chủ vì thủy quân gồm toàn dân bách tính. Tại Argos, thành phần quý tộc, sau khi đã chứng tỏ khả năng chống lại quân Sparta trong trận chiến Mantinea, tìm cách dẹp bỏ chế độ dân chủ. Tại Syracus, những người dân thường mới là tác nhân chính trong chiến thắng chống lại quân Athens, bèn thay đổi chế độ theo hiến pháp thành dân chủ. Tại Chalcis, nhân dân kết hợp với quý tộc giết chế bạo quân Phoxus rồi nắm lấy chính quyền. Tại Ambracia, nhân dân sau khi liên kết với những kẻ âm mưu phản loạn lật đổ được bạo quân Periander và dành lấy chính quyền cho chính họ. Một cách tổng quát, kinh nghiệm dạy cho ta một bài học mà ta phải luôn ghi nhớ; đó là, bất cứ ai—thường dân, quan chức, bộ tộc, hay giai cấp nào—đã giành được chính quyền, đều trở thành cái cớ để gây nên thay đổi chế độ, vì hoặc là bị người khác ganh ghét địa vị mới của mình, hoặc là chính mình cảm thấy không hài lòng với địa vị mới mà còn muốn phần hơn.

Những sự thay đổi chế độ cũng xảy ra khi những phe đối nghịch, như giai cấp giàu và nghèo, có lực lượng tương đương với nhau mà lại không có hay rất ít thành phần trung lưu để làm lệch cán cân. Điều này xảy ra vì nếu một trong hai phe mà mạnh hơn hẳn phe kia,thì phe đối nghịch chẳng dại gì tấn công để chịu thiệt hại. Cũng vì lý do này mà những nhà trí giả không phải là thành phần gây xáo trộn, vì họ luôn luôn là thiểu số. Đó là những nguồn gốc và nguyên nhân của những xáo trộn và thay đổi chế độ mà chế độ nào cũng có thể mắc phải.

Những sự thay đổi chế độ có thể xảy ra bằng hai cách, bằng bạo lực hay bằng âm mưu. Bạo lực có thể được sử dụng hoặc vào thời điểm xảy ra cách mạng hay sau đó. Âm mưu cũng vậy, có hai loại: thứ nhất, người dân bị lừa và đành chấp nhận sự thay đổi chế độ, và sau đó chịu sự áp đặt. Đây là trường hợp Nhóm Bốn Trăm tung tin lừa dối dân chúng tại Athens là vua Ba Tư sẽ tài trợ cho cuộc chiến chống Sparta, và sau đó chiếm giữ chính quyền. Thứ hai là dùng phương pháp thuyết phục để chiêu dụ người dân đi theo, rồi lại tiếp tục hứa hẹn, và cứ như vậy người dân tiếp tục bị kềm giữ mà không phản kháng. Tóm lại, đó là những nguyên nhân gây ra cách mạng và thay đổi chế độ.

(còn tiếp)

Nguồn: “Chính Trị Luận” của Aristotle
Nông Duy Trường dịch, đăng trên Học viện Công dân

Hits: 15

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *