Trăng sáng như hào quang của ngọc lạ.

Tôi đã đốt đỉnh trầm đặt trên án… trong thanh khí của nguồn mơ hoa… vì tối hôm nay tôi chuốt lại ngòi bút, mượn hương thơm đưa đẩy lời văn… để giới thiệu một nhà thơ mới. Tôi đã lấy hết tinh lực của hồn, của máu, hấp lại thành một sức mạnh. Nhưng chưa đủ. Tôi đến phải thành tâm, lạy các vì tinh tú, cầu nguyện với những linh hồn thơ, từ muôn năm trước về giúp cho ngòi bút tôi thêm thành thực, lột được chút ít tinh thần văn thơ của ông Chế Lan Viên.

Đảo ngược lại thời gian trong giây phút, ta mơ thấy cả một dân tộc hào hùng! Chiêm Lạp (hay là Lâm Ấp) mà lâu đài tráng lệ đóng từ Quảng Bình, Quảng Ngãi vào tới Phan Rang, Bình Thuận, lấn hết cả giang san của nước Việt… Nhưng sau cuộc “Nam tiến” oanh liệt, còn đâu những thành quách kiêu căng của đám người Hời?

Một dân tộc có lịch sử, có văn minh như Chiêm Thành ngờ đâu lại chịu số kiếp điêu tàn, tiêu diệt! Còn chăng chỉ những ngọn tháp lở lói rải rác đôi nơi cùng với thời gian cố ngạo lại làn nắng úa, và trong đêm sương nặng nề, lắng nghe tiếng oán hờn không bờ bến của những cô hồn vong tộc.

Tôi được ông Chế Lan Viên cho xem tập thơ Điêu tàn của ông trước khi xuất bản. Điêu tàn đã hình dung cả một thời sáng sủa táo bạo, lẫy lừng, trong hơi nặc nồng của máu người tử sĩ, thơm tho bên mình nàng Chiêm nữ… và ủ ê như gió lạnh ngập không gian, và não nùng như tơ trăng ngã im lìm trên cỏ ướt.

Tôi phải kinh ngạc như mọi người khi nhìn thấy ông Chế Lan Viên, một thư sinh hiền lành như một nàng gái mới lớn lên… Làm sao trong tấm linh hồn chất phác ấy đã sớm nở ra những nguồn thơ mới lạ mằn mặn như nước suối Vichy song vẫn ngon môi và mát dạ. Đọc hết tập Điêu tàn, tôi chỉ nghe mãi những tiếng căm hờn đắm đuối như ánh sáng của vừng trăng tan ra thành khí lạnh; tôi chỉ thấy những vẻ hoang tàn rã rời một khi sao vỡ…

Ông Chế Lan Viên, nếu không phải là trích tiên ở thượng giới bị đưa xuống trần gian thì hẳn là một người có “máu” Chàm, nghĩa là kiếp trước ông vốn nòi giống Chiêm Thành vậy. Không thế làm sao ông lại khóc được, – khóc một cách ngon lành… Tôi nhận thấy cái khóc của ông bằng nước mắt thì ít, mà khóc bằng phổi bằng tim bằng hồn bằng máu thì nhiều…

Trong khi ông mường tượng đến cảnh khốc liệt của dải đất Chàm, tự nhiên bùng lửa đỏ, tiếng vàng ngọc tan chảy với tiếng đền đài đổ nát thì ông cảm thấy:

Máu đào tuôn tràng ngập cả lòng ta

Cả thân ta dầu tan trong hơi thở…

Nhìn thời gian tàn phá những cảnh tráng lệ nguy nga trước, “trên đường về” hôm nay ông chỉ còn gặp những dấu điêu tàn:

Đây, những tháp gầy mòn vì mong đợi,

Những đền xưa đổ nát dưới thời gian,

Những sông vắng lê mình trong đêm tối,

Những tượng Chàm lở lói rỉ rên than.

và này:

Đây những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn,

Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi.

Trên những mô đất nhuốm thắm ánh tà dương, biết đâu, đấy chẳng phải là cung điện phi tần, mà những hàng đế vương Hời đã mê mệt với hồng nhan:

Đây trong ánh ngọc lưu ly mờ ảo,

Vua quan say đắm thịt da ngà.

Những Chiêm nữ mơ màng trong tiếng sáo,

Cùng nhịp nhàng uyển chuyển uốn mình hoa.

Thi sĩ nghiệm rằng những cảnh hoan lạc đê mê ấy là hình ảnh của thảm hoạ mất nước, nên chi càng nghĩ đến cuộc binh đao, thi sĩ càng hoảng hốt:

Mà vì đâu những đêm mờ vắng vẻ,

Bên tai ta xào xạc tiếng chân người

Mà rộn ràng loa vang và ngựa hí,

Mà đao thương xoang xoảng dân Chiêm ơi!

Ông Chế Lan Viên đã làm sống lại cả một thời kinh hãi, nhuộm màu lưu huyết. Ta đọc đến phải hồi hộp, có lúc sửng sốt, rít lên như một bại quân tẩu thoát trong ngàn sâu… những cảnh xương máu hỗn độn nặng nề như bước chân con chiến tượng chuyển rừng, đã qua… Thi nhân bấy giờ chỉ ngồi than và mường tượng nhớ tiếc ngày trôi, phác hoạ lại trong tâm hồn những mẩu đời rạng rỡ, phấp phới như lá cờ trương…

Cái cảnh hồn nhiên phớt màu an lạc thật là tài tình trong những nét đơn sơ:

Đây những cảnh thái bình trong Chiêm quốc,

Những cô thôn hồng nhuộm nắng chiều tươi.

Những Chiêm nữ nhẹ nhàng quay về ấp,

Áo hồng nâu phủ phất xõa lời vui…

Trước vẻ hoang tàn, những đêm “Không một mối trăng ngà rung muôn lá – Mà bóng đêm đầy đặc khí u buồn”, chập chờn theo lửa đốm:

Ta hãy nghe trong mồ sâu lạnh lẽo,

Tiếng thịt người nẩy nở, tiếng xương rên.

Ta hãy nghe mơ màng trong cỏ héo,

Tiếng cô hồn lặng thở khí giời đêm.

Nhưng với những hình ảnh mơ hồ, rờn rợn ấy, với tiếng kêu thiêng không chạm vỡ ấy cũng chưa linh động và mầu nhiệm bằng dáng của ma trơi trong lúc lặng:

Đôi cành khô tìm gì trong đêm vắng,

Vươn thân gầy ngăn đón gót ma Hời.

Lắng nghe xem bóng người bay lẳng lặng,

Về tinh cầu giá lạnh chốn xa xôi…

Bãi tha ma hiu quạnh ấy từng phút lại ghê thêm như bóng tối lan tràn, vồ vập cả bao la…

Ông Chế Lan Viên thi sĩ của dân Chiêm đã sống với những giờ trầm mặc giữa đồng hoang đã thấy và đã nghe những hình những tiếng mơ hồ và huyền bí, và đã nhập hồn vào với gió với mây.

Những khi ông nằm dài trên cửa tháp há miệng chực đớp sao rơi, ông thấy hình như núi đá biến dần ra mây khói, trôi ngập cả dải Ngân Hà, ông lại than thở:

Ta vẫn biết nước kia trôi mãi mãi,

Chẳng bao giờ còn giở lại nguồn xa…

Mạch máu ta là những suối đau thương

… Mà quả đất là khối sầu vô hạn

Mà mỗi người là một lời ta thán.

Văn thơ của ông cũng ví như ánh sáng không nguồn, như dư âm của một cung đàn cuối mãi đến ngàn xa, và vì thế người ta càng nhận rõ một triết lý, một ý định, một thở dài, trong những bài não nuột. Cả thế giới, cả ánh sáng thơm tho, cả những lời thiết tha thương nhớ đều tan dần trong bóng tối… Đời chỉ là hư ảo, là một làn hương mơ… Cả tập Điêu tàn như một bài văn tế của Bossuet, như một lời than của Shakespeare, như một tiếng sao rụng im lìm không tiếng dội:

Vì có bao giờ tiếng lòng tôi vang động

Tiếng lòng tôi vang động đến Hư Vô… 

Sự khủng khiếp với sự chết đối với Chế Lan Viên không có gì là giấu diếm nữa. Đây, một sọ dừa rởn gáy, để trước mặt ông, hãy nghe lời ông phán hỏi:

Này chiếc sọ dừa người kia mi hỡi

Dưới làn xanh mỏng mảnh của đầu mi

Mi nhớ gì, tưởng gì trong đêm tối

Mi trông mong, ao ước những điều chi?

Mi nhớ đến những cảnh pháp trường ghê rởn

Sọ muôn người lần lượt đuổi nhau rơi

Hay mi nhớ những đêm mờ rùng rợn

Hồn mi bay trong đám lửa ma trơi?

Nhưng cái sọ dừa vô tri ấy vẫn còn nhe hai hàm răng trắng tinh nguyền rủa lại lời của ông, khiến cho ông điên tiết lên:

Hỡi chiếc sọ! ta vô cùng rồ dại

Muốn giết mi trong sức mạnh tay ta

Để những giọt máu đào còn đọng lại

Theo hồn ta tuôn chảy những lời thơ

Ta muốn cắn mi ra từng mảnh vụn

Muốn điên cuồng nuốt cả khối xương khô

Để nếm lại cả một thời xưa cũ

Cả một giòng năm tháng đã trôi qua.

Nói tóm lại trong tập Điêu tàn, một lời thơ là một lời nức nở, như hạt sương nức nở dưới trời mai.

Tôi đã hớp từng bưng máu, mê man từng ngụm buồn lả lướt và đã nút hết chất ngọt ngào trong lỗ miệng người Chiêm nữ.

Tôi đã để lại những niềm kinh hãi, ở trên bãi tha ma, bịt hết tai mắt để đừng nghe thất tủy xương nghiến âm thầm trong những cỗ quan tài mục nát.

Tôi đã sống với phút giây choáng váng mà một người tráng sĩ Hời một khi lâm trận mà mí mắt vụt nhiên trào huyết.

Tôi đã lẳng lặng nhìn trăng mơ tưởng cái cảnh hồn nhiên của một xứ mà sắc đẹp hay phô phang dưới làn nắng mỏng.

Linh hồn tôi, tuỷ não tôi đã thấm thía, đã ăn sâu những mùi vị não nề.

Và tôi đã no nóc, đã hả hê, đã sung sướng khi nhận chân được cái tài hoa của ông Chế Lan Viên và thấy ở ông: một linh hồn thi sĩ

Nguồn: Hàn Mặc Tử, báo Tràng An (số ra ngày 6-7-1937)

Hits: 42

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *