Unions Network: Năm 1947, sau quá trình nghiên cứu kéo dài 4 năm, Ủy ban Tự do Báo chí Mỹ đã công bố bản báo cáo mang tên “Một nền Báo chí Tự do & Có Trách nhiệm”. Báo cáo khẳng định rằng vào thời điểm đó, quyền lực báo chí ở Mỹ đang tập trung trong tay một vài công ty, trong khi báo chí ngày càng có khả năng chi phối xã hội. Nhờ thế độc quyền, các công ty lớn đã kiểm soát dư luận vì lợi ích cá nhân; đồng thời lạm dụng các tin tức giật gân, sai sự thật để kiếm tiền. Khi phân tích những vấn đề vừa nêu, để tìm hướng xây dựng một nền báo chí tự do, công bằng và có trách nhiệm hơn, bản báo cáo đã góp phần khai sinh các chuẩn mực của nền báo chí phương Tây hiện đại.

Do nền báo chí Việt Nam đang gặp những vấn đề gần giống báo chí Mỹ cách đây 70 năm, chúng tôi xin dịch bản báo cáo và đăng thành từng phần, để làm tài liệu tham khảo cho những bạn quan tâm. Xin click vào ĐÂY để đọc những chương đã dịch, hoặc click vào ĐÂY để truy cập qua mục lục.

Để hỗ tham gia hoặc hỗ trợ tài chính cho các dự án dịch của Mạng lưới Nghiệp đoàn, xin liên hệ với chúng tôi qua hộp thư unionsnetwork@gmail.com hoặc fanpage.

*

Chương 4: Hoạt động báo chí trong thực tế

 

Doanh nghiệp tư nhân trong lĩnh vực truyền thông đã có những tiến bộ lớn trong việc gây dựng uy tín. Tỷ lệ người dân có thể tiếp cận báo chí ở Mỹ cũng cao như ở các quốc gia khác. Các trang thiết bị kỹ thuật của báo chí Mỹ chắc chắn là thuộc hàng tốt nhất thế giới. Báo chí Mỹ cũng dẫn đầu trong việc giới thiệu nhiều kỹ thuật mới giúp làm gia tăng nhanh chóng tốc độ và mức độ đa dạng của truyền thông. Dù vẫn còn một số khuyết điểm song báo chí Mỹ ít phụ thuộc, ít chịu ảnh hưởng trước áp lực chính trị, kinh tế như ở các quốc gia khác. Các thành phần chính của báo chí Mỹ đã đạt tới tiêu chuẩn xuất sắc mà chưa nơi nào trên thế giới vượt qua được. Chúng ta cần nhớ những lời nhận xét chung này trước khi đọc những lời phê bình được nêu dưới đây.

Logic kinh tế của các doanh nghiệp tư nhân đã khiến hầu hết các tổ chức trong ngành công nghiệp truyền thông đại chúng phải tìm kiếm lượng khách hàng lớn hơn. Kết quả là sự ra đời của những sản phẩm đa dạng nội dung có thể phục vụ mọi người.

Trong quá trình xây dựng sản phẩm đa dạng nội dung, ngành công nghiệp truyền thông đã không giới thiệu bất cứ chất liệu mới nào cho truyền thông. Ngành công nghiệp này đã chuyển hóa thành truyền thông đại chúng, trong quá khứ vốn từng tồn tại ở dạng tán dóc, tin đồn và tranh luận trực tiếp giữa những cá nhân. Phương tiện truyền thông đại chúng cổ nhất được ghi chép lại là Acta Diurna – một bảng tin chính thức, xuất bản những thông tin của thành Rome vào thời kỳ đầu của Đế chế Rome, đăng những nội dung về thể thao, tội phạm và các sự kiện dễ gây xúc động khác, cũng như những thông tin về công vụ, tuyên truyền của nhà nước. Kể cả ở Anh, nơi báo chí bị giới hạn trong một lượng nhỏ người đọc có học thức cao, vẫn tồn tại những tờ rơi và cuốn sách nhỏ về tin tức tội phạm.

Hiện nay báo chí Mỹ không chỉ là một phương tiện giải chí và đưa tin chuyên biệt mà còn là phương tiện quảng cáo. Một chương trình phát thanh buổi tối có nội dung ngang với việc đọc một tờ báo có lượng phát hành lớn, trừ việc tỷ lệ tin và thảo luận về công vụ sẽ giảm đi nhiều. Tỷ lệ này có thể xuống thấp còn 0% ở một số đài địa phương, 2% ở nhiều nơi khác và 10% ở một vài đài thuộc các mạng lưới. Các tạp chí có lượng phát hành lớn nhất có nội dung kết hợp giữa tin, ảnh, phóng sự, bài viết, những chuyện tán dóc nhằm cung cấp thông tin và phục vụ giải trí cho độc giả ở mọi lứa tuổi và có sở thích khác nhau, và các nội dung quảng cáo chiếm tới quá nửa mỗi số. Như mọi người đều biết, phim ảnh đã phát triển chủ yếu trở thành phương tiện giải trí đại chúng.

Chúng ta đã thấy rằng thông tin và thảo luận về công vụ chỉ là một phần – và thường là phần nhỏ trong sản phẩm đầu ra của ngành công nghiệp truyền thông. Mặt khác, những thông tin, thảo luận như vậy lại có thể tới được với nhiều độc giả hơn nhờ vào mức giá rẻ của sản phẩm do quảng cáo và lượng phát hành lớn tạo thành.

Thông tin, thảo luận về các vấn đề công, được truyền tải với vai trò như người “lái xe” trong chuyến xe gồm các thông tin đa dạng của truyền thông đại chúng, cũng có những đặc tính tương tự những “hành khách” khác, và là đối tượng chịu điều chỉnh của cùng những định luật quy định việc lựa chọn những thông tin này: những thông tin, thảo luận như vậy phải được định hình để có thể thu hút được nhiều độc giả nhất có thể.

 

Tin sốt dẻo và tính giật gân             

Từ đây, từ “Tin tức” đã có nghĩa khác đi với nghĩa “thông tin mới, quan trọng”. Khi một nhà báo nói rằng một sự kiện nhất định là tin tức thì anh ta không có ý nói rằng bản thân sự kiện đó quan trọng. Thường thì sự kiện đó cũng quan trọng, nhưng cũng nhiều lúc không hề quan trọng. Khi nói “Tin tức”, nhà báo có ý rằng một việc nào đó xảy ra trong một vài giờ qua có thể thu hút được sự chú ý của độc giả. Tiêu chí để thu hút độc giả là tính thời sự, sự gần gũi về địa lý, sự xung đột, tính hữu ích cho con người, và sự mới lạ. Những tiêu chí như vậy lại giới hạn tính chính xác và tính quan trọng của thông tin.

Cuộc truy đuổi đầy hào hứng những tiêu chí, chất lượng nêu trên rõ ràng đang quyến rũ những nhà báo tham gia quá trình ấy, nhưng đối với thế giới nói chung thì nó lại thường dẫn tới sự thừa mứa một cách bất hạnh. Vào cuối Thế chiến 2, những “bản tin sốt dẻo” chưa được phê chuẩn, với những lời tuyên bố vội vàng đã được phát ra chỉ để sau đó các hiệp hội báo chí và mạng lưới phát thanh phải thu hồi lại một cách lúng túng, đã gây xáo động niềm tin của người dân vào mức độ tin cậy của những nguồn tin tức này, và làm xấu đi thành tích khá tốt trong việc đảm bảo tính chính xác của những thông cáo quan trọng trong chiến tranh.

Để thu hút được tối đa độc giả, báo chí nhấn mạnh tới những tính đặc biệt thay vì tính đại diện, tính giật gân thay vì tầm quan trọng. Nhiều hoạt động, sự việc, sự vật có tính quan trọng trong xã hội thì lại nằm dưới bề mặt của những thứ thường được coi là những vụ việc có thể đưa tin, trong đó nên kể đến việc máy móc có công suất lớn hơn, máy móc yêu cầu ít nhân lực vận hành hơn, nhiều thời gian nghỉ ngơi hơn, thời lượng học tăng lên với trẻ em, sự suy giảm lòng khoan dung, việc đàm phán thành công các hợp đồng lao động, gia tăng số lượng người tham gia chơi nhạc nhờ được nhà trường dạy dỗ từ nhỏ, hay sự gia tăng trong doanh số bán sách lịch sử, tiểu sử.

Trên đa số các kênh tin tức, những vấn đề như vậy bị nhấn chìm bởi những câu chuyện về án mạng trong câu lạc bộ đêm, bạo loạn sắc tộc, biểu tình bạo lực và tranh cãi giữa các quan chức. Ủy ban không phản đối việc đưa tin những sự vụ như vậy, mà phản đối việc báo chí bận tâm thái quá tới chúng. Sự quan tâm của báo chí đã lên tới mức công dân không được cung cấp những thông tin, thảo luận mà anh ta cần đến để thực hiện trách nhiệm của mình với cộng đồng.

Nỗ lực thu hút được nhiều độc giả nhất có thể có nghĩa là mỗi tin bài đều phải được viết với mục đích gây chú ý. Kết quả không phải là một câu chuyện tiếp diễn về cuộc đời một con người, mà là hàng loạt những nét họa tiết, chấm phá được cho là quan trọng hơn giá trị thật của chúng. Tổng của các phần rời rạc này không phải là tổng thể, vì các phần này không hề đại diện cho kích thước và màu sắc thật trong mối quan hệ với tổng thể.

Việc này đã được thể hiện trong Hội nghị San Francisco. Hội nghị này tuân theo một chương trình có các quy trình riêng về đề nghị, phản đề nghị, chuẩn bị văn bản, sửa đổi và bổ sung, và đạt đến thỏa thuận sau cùng bằng thỏa hiệp.

Với hội thảo kéo dài hàng tuần, dù không phải ngày nào cũng có tin tường thuật nhưng phóng viên vẫn phải gửi bài. Bằng bất cứ giá nào, luôn cần có tin để đăng. Hậu quả là, ở mức độ nhẹ nhàng, hàng loạt các câu chuyện đời tư theo mô tuýp tạp chí Hollywod ra đời, và ở mức độ nghiêm trọng hơn là những câu chuyện bóp méo sự thật. Đáp ứng yêu cầu của các biên tập viên tại trụ sở, những câu chuyện kịch tính và căng thẳng được sản xuất hàng loạt tại San Franciso. Vì thế mà không khí yên ắng được coi là sự yên bình trước giông bão. Không khí tĩnh lặng trở thành sự lặng yên chờ xung đột. Thời gian trở thành sự trì hoãn. Do đó, với cách sản xuất tin gay cấn và hội hộp như vậy, sau vài tuần, khi các bên chấp thuận và ký kết một hiến chương, hiệu ứng tạo ra với độc giả là một sự bất ngờ kinh ngạc (Một nghiên cứu chi tiết về giải pháp được báo chí đưa ra trong Hội thảo đã được Milton D. Stewart, nhân viên Ban Điều tra thực hiện và sẽ được xuất bản dưới tiêu đề “Báo chí Mỹ và Hội nghị San Francisco [The American Press and San Francisco Conference]).

Những nhà phụ trách chuyên mục và bình luận viên phát thanh là những người phạm lỗi này nặng nhất. Đây là công việc thực hiện chức năng không thể thiếu trong các cuộc thảo luận tại Mỹ. Tuy nhiên, họ cũng muốn thu hút số lượng khán giả tối đa có thể. Một vài người nghĩ rằng cách để đạt được điều đó là cung cấp cho công chúng những lời đồn thổi, những câu chuyện ám sát và những lời lẽ dối trá.

 

Áp lực từ độc giả

Hiếm khi mọi người muốn đọc hoặc nghe những gì không làm họ hài lòng; hiếm khi họ muốn người khác đọc hoặc nghe những gì trái với niềm tin của họ, hoặc những gì thể hiện một bức tranh bất lợi cho nhóm người mà họ là thành viên. Khi những nhóm như vậy được tổ chức, họ cho báo chí biết những điều mà họ phản đối, để báo chí chọn chúng làm chủ đề được quan tâm. Do đó, báo chí bị kẹt giữa mong muốn làm hài lòng đối tượng, có thêm khán giả và mong muốn đưa ra một bức tranh chân thực về sự kiện và con người.

Ngành công nghiệp phim ảnh là minh chứng  rõ nhất cho việc cố làm hài lòng trước áp lực của khán giả. (Bộ Quy tắc Sản xuất Phim ảnh [“The Motion Picture Code”] được mô tả trong một nghiên cứu của Ruth Inglis, một thành viên của Ban Điều tra. Nghiên cứu này được Ban Điều tra xuất bản dưới tiêu đề Tự do Điện ảnh [“Freedom of the Movies”]). Việc làm hài lòng khán giả có thể đã không đi quá xa như Bộ Quy tắc hiện hành đã phát biểu, rằng nó sẽ phải thỏa mãn tất cả những người chống đối: nó không giới hạn nhân vật phản diện của màn ảnh thành “một người da trắng bản địa, không có việc làm, và không có bất kỳ liên kết chính trị, xã hội, tôn giáo nào”. Nhưng các nhóm gây áp lực, vì họ có ảnh hưởng hoặc được cho là có ảnh hưởng đến số lượng người xem, đã định hình lĩnh vực này diễn ra theo mong muốn của họ. Những nỗ lực của Hollywood để phát triển phim tài liệu có thể bị cản trở bởi các phản ứng thông thường này.

Mọi nhánh của ngành công nghiệp truyền thông đều chịu áp lực như nhau. Các nhà xuất bản kiên định với ý kiến của mình thường phải trả giá cho điều đó. Trong cuộc điều tra, biên tập viên quản lý một trong những tờ báo chính thống (tại Mỹ) cho rằng ấn phẩm của ông đã giảm hơn 50.000 bản phát hành vì một chính sách gây mất lòng một nhóm gây áp lực.

Cũng không hẳn là đúng khi cho rằng áp lực luôn tiêu cực chỉ vì nó là áp lực. Buổi điều trần trước Ủy ban đã chỉ ra các nhóm tạo áp lực thường giúp chỉnh sửa các định kiến hoặc những lỗi vô thức, và đưa các vấn đề bị bỏ quên vào cuộc thảo luận. Nhưng sức mạnh của các nhóm này và tầm quan trọng của các phương tiện truyền thông đại chúng đặt ra một câu hỏi quan trọng mà chúng ta sẽ bàn luận trong các tiếp tục phần sau: Làm thế nào một phương tiện truyền thông – thứ gần như được định nghĩa rằng phải cố gắng làm hài lòng tất cả mọi người – lại có thể thực hiện chức năng mà nó nên thực hiện trong xã hội hiện nay ?

(còn tiếp)


Cuốn sách này được CTV Mạng lưới Nghiệp đoàn dịch từ bản tiếng Anh của Thư viện Đại học Osmania, đăng trên Internet Archieve. Xin ghi rõ nguồn Mạng lưới Nghiệp đoàn để tôn trọng công sức của người dịch.

Để đọc những chương đã dịch, xin click vào ĐÂY.

Để truy cập qua mục lục, xin click vào ĐÂY.

Hits: 14

One thought on “Một nền Báo chí Tự do & Có Trách nhiệm (A Free & Respondsible Press) – Chương 4: Hoạt động báo chí trong thực tế – Phần 1: Tin sốt dẻo, tính giật gân & áp lực từ độc giả”

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *