Unions Network: Phải làm gì để thu thập, sắp xếp và phân tích các bằng chứng, nhằm xác định sự thật và thủ phạm trong các vụ án hình sự? Cảnh sát có quyền và trách nhiệm gì trong từng giai đoạn của cuộc điều tra? Cảnh sát và Viện Kiểm sát phải tuân thủ những quy trình, nguyên tắc nào để không truy tố sai, không xâm phạm các quyền của nhân chứng và nghi phạm?

Để trả lời những câu hỏi này, mời các bạn đọc một giáo trình môn Điều tra Hình sự của Canada, mang tên “Giới thiệu môn Điều tra Hình sự: Quy trình, Thực hành & Tư duy”. Sách do thanh tra Rod Gehl và tiến sĩ Darryl Plecas biên soạn, do Viện Tư pháp British Columbia xuất bản năm 2016, và được chị Nguyễn Trang Nhung (CTV Mạng lưới Nghiệp đoàn) chuyển ngữ. Chúng tôi tin rằng giáo trình này sẽ giúp ích cho rất nhiều người Việt Nam – từ các phóng viên điều tra, luật gia, cho đến những nhà hoạt động muốn giám sát cơ quan thực thi pháp luật.

Xin click vào ĐÂY để đọc những chương đã dịch, hoặc vào ĐÂY để truy cập qua mục lục.

*

Chương 2: Một số khái niệm cơ bản quan trọng (tiếp)

 

Chủ đề 12: Nhiệm vụ điều tra và sử dụng quyền tùy nghi hành động

Việc chỉ định một cảnh sát Canada làm viên chức gìn giữ hòa bình (peace officer), và giao nhiệm vụ cho anh ta, được thực hiện dưới thẩm quyền của nhiều đạo luật khác nhau cho cảnh sát cấp tỉnh, và của Đạo luật RCMP cho cảnh sát cấp liên bang. Người được chỉ định sẽ có khả năng thực hiện các quyền lực (powers) và thẩm quyền (authorities) được quy định bởi mỗi đạo luật vừa nêu, cũng như bởi Bộ luật Hình sự Canada, cùng các luật cấp liên bang và cấp tỉnh khác. Ngoài các quyền lực và thẩm quyền này, những người được chỉ định làm viên chức gìn giữ hòa bình cũng được hưởng một số sự bảo vệ, ở mức giới hạn, khỏi các cáo buộc hình sự và trách nhiệm dân sự trong trường hợp họ vô tình gây ra lỗi hoặc gây thương tích cho một người. Những biện pháp bảo vệ khỏi trách nhiệm hình sự và dân sự được cung cấp dưới Bộ luật Hình sự đối với một số tội phạm, và dưới Đạo luật Cảnh sát tỉnh cùng Đạo luật RCMP đối với các vụ tra tấn dân sự. Những biện pháp bảo vệ này không có sẵn, hoặc có thể được giữ lại, khi một cảnh sát bị phát giác rằng đã hành động với ý định phạm tội, hay đã bất cẩn hoặc phạm tội cẩu thả trong quá trình thi hành nhiệm vụ.

Vì vậy, các cảnh sát được trao cho các quyền lực và thẩm quyền để hành động như những người giữ hòa bình. Đối với cảnh sát, trách nhiệm (responsibility) này được đánh đồng với nhiệm vụ (duty) của họ. Để hiểu đầy đủ điều này đòi hỏi gì, người ta phải xem xét hai câu hỏi quan trọng nhất:

  • Những nhiệm vụ đó là gì?
  • Ai quyết định khi nào, hoặc liệu chúng có hay không được thực hiện đúng?

Những câu hỏi này có một lịch sử tranh luận dài trong cả lĩnh vực triết học và pháp lý, xuất phát từ nguồn gốc của hoạt động cảnh sát ở Anh (Reith, 1943). Trong thời gian đầu, cảnh sát chủ yếu được coi là những người gìn giữ hòa bình. Theo cách này, các “Bobby” địa phương (tiếng lóng để chỉ một viên cảnh sát Anh) sẽ can thiệp để giải quyết các tranh chấp của khu vực. Các cáo buộc hình sự là biện pháp cuối cùng. Khả năng của cảnh sát trong việc giải quyết các tranh chấp tại địa phương bằng cách sử dụng sự phán xét và quyền tùy nghi hành động (discretion) của họ đã trở thành một chức năng có giá trị của các kỹ năng trị an. Ngày nay, việc sử dụng quyền tùy nghi hành động vẫn là cốt lõi của chính sách cộng đồng, các sáng kiến công lý phục hồi (restorative justice) và các chương trình giải quyết tranh chấp thay thế.

Các tranh luận xung quanh việc cảnh sát sử dụng quyền tùy nghi hành động và giải quyết tranh chấp thay thế có hai mặt. Một số người lập luận rằng cảnh sát có quá nhiều quyền tùy nghi hành động sẽ lạm dụng nó và trở nên tham nhũng, trong khi những người khác cho rằng hệ thống tư pháp sẽ trở nên quá tải với các vụ án nhỏ nếu cảnh sát không có quyền cố gắng giải quyết một số tranh chấp mà không buộc tội (R kiện Beare , 1988).

“Trực tiếp về điểm này, Thẩm phán La Forest J. đã nêu; Quyền tùy nghi hành động là một tính năng thiết yếu của hệ thống tư pháp hình sự. Một hệ thống cố gắng loại bỏ quyền tùy nghi hành động sẽ rất phức tạp và cứng nhắc”. (R kiện Beare, 1988)

Hoàn toàn ủng hộ việc sử dụng tiếp tục quyền tùy nghi hành động, các nhà lập pháp tiếp tục chỉ cung cấp các định nghĩa rất chung chung về nhiệm vụ của cảnh sát là gì. Các tuyên bố về nhiệm vụ của cảnh sát, chẳng hạn như sau đây là tiêu chuẩn:

…(Viên chức Cảnh sát) phải thực hiện các nhiệm vụ và chức năng tôn trọng việc gìn giữ hòa bình, phòng ngừa tội phạm cùng các hành vi vi phạm pháp luật, và thực thi công lý, được giao cho các viên chức gìn giữ hòa bình bởi cảnh sát trưởng, theo các tiêu chuẩn của giám đốc hoặc theo Đạo luật này, hoặc bất kỳ đạo luật nào khác.(Chính phủ British Columbia, 2015).

Ngay cả theo Bộ luật Hình sự của Canada, có một quyền tùy nghi hành động ngầm định rằng việc đưa ra thông tin là vấn đề về có thể (a matter of may) và không phải là một đòi hỏi của ý chí (a requirement of will).

Mục 504 CCC. Bất cứ ai, với lý do hợp lý, tin rằng một người đã thực hiện một tội phạm có thể bị truy tố, có thể đưa ra một thông tin bằng văn bản và tuyên thệ trước một thẩm phán, và thẩm phán sẽ nhận thông tin, trong đó có cáo buộc

(a) rằng người đó đã phạm phải, ở bất cứ đâu, một tội phạm có thể bị truy tố, thứ có thể bị xét xử ở tỉnh nơi thẩm phán cư trú”. (Bộ luật Hình sự, 1985, s 504 (1) (a))

Đối với các điều tra viên, quyền tùy nghi ngầm định để không thực hiện hành động đưa ra cáo buộc dường như để mở cánh cửa cho rất nhiều hành xử và diễn giải. Trong lịch sử là vậy; nhưng gần đây, đã có một số trường hợp sử dụng quyền tùy nghi hành động không chính xác dẫn đến án lệ cung cấp hướng dẫn mang tính mệnh lệnh hơn, cùng quy trình xác định cho việc sử dụng quyền tùy nghi hành động (R kiện Beaudry, 2007).

Để kiểm tra việc sử dụng quyền tùy nghi hành động, vụ R kiện Beaudry (2007) đã mang tính hướng dẫn cao trong việc xác định tiêu chí cho các viên chức. Các tình tiết ngắn gọn của vụ án như sau: bị cáo, Hạ sĩ Beaudry, là một viên chức cảnh sát Quebec đã dừng một chiếc xe vào ngày 22 tháng 9 năm 2000. Người lái xe hóa ra bị say. Khi phát hiện ra rằng người lái xe cũng là một viên chức cảnh sát mà anh ta đã gặp trong một dịp trước đó, Hạ sĩ Beaudry đã quyết định không yêu cầu kiểm tra hơi thở của người lái xe. Hạ sĩ Beaudry tin rằng người lái xe bị trầm cảm và tuyên bố rằng mình đang sử dụng quyền tùy nghi hành động để cho anh ta một cơ hội. Hạ sỹ Beaudry bị buộc tội và bị kết án cản trở công lý. Tòa án phán quyết rằng ông đã sử dụng không đúng quyền tùy nghi hành động của mình bằng cách cho phép thiên vị. Cuối cùng, phán quyết của Tòa án tối cao Canada đã làm rõ một số hạn chế cho quyền tùy nghi của cảnh sát. Phán quyết tuyên bố:

“quyền tùy nghi hành động không có tính tuyệt đối. Khác xa với sự toàn quyền hành động (carte blanche), cảnh sát phải biện minh cho quyết định của họ một cách hợp lý”.

Trong vụ R kiện Beaudry, SCC phán quyết rằng việc biện minh hoặc sử dụng quyền tùy nghi hành động phải có ba yếu tố:

“1 – Đó phải là một quyết định có căn cứ, dựa trên bằng chứng cấu thành căn cứ hợp lý (resonable ground)

2 – Phải có lý do cụ thể cho các quyết định để sử dụng quyền tùy nghi hành động không dựa trên thiên vị hoặc thiên kiến

3 – Viên chức phải có niềm tin trung thực, cả chủ quan lẫn khách quan, về lý do sử dụng quyền tùy nghi hành động, và thẩm phán phải xác định rằng niềm tin của viên chức phản ánh thực tế”. (R kiện Beaudry, 2007)

Ngoài ba yếu tố này, Tòa án tối cao cũng tuyên bố rằng:

“Sự biện minh cho quyền tùy nghi hành động phải tương xứng với tội phạm và phải vì lợi ích của an toàn công cộng”. (R kiện Beaudry, 2007)

Từ phán quyết của vụ R kiện Beaudry (2007), một bộ bảy nguyên tắc đã được vạch ra và những nguyên tắc này đóng vai trò là hướng dẫn cho việc cảnh sát sử dụng quyền tùy nghi hành động tại Canada:

“1 – Quyền tùy nghi hành động là rất quan trọng đối với hoạt động của hệ thống tư pháp hình sự. Không phải tất cả những người phạm tội phải bị buộc tội.

2 – Cảnh sát vẫn có quyền tùy nghi hành động, nhưng quyền này không tuyệt đối, nó bị hạn chế.

3 – Quyền tùy nghi hành động bị hạn chế có nghĩa là quyền tùy nghi hành động phải tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.

4 – Sử dụng quyền tùy nghi hành động phải được biện minh với lý do cụ thể.

5 – Việc sử dụng không đúng cách quyền tùy nghi hành động không tự động cấu thành “Cản trở Công lý” (Obstruct Justice).

6 – Một lỗi phán xét đơn giản không phải là “Cản trở Công lý”.

7 – “Cản trở Công lý” bị phạm phải khi quyền tùy nghi hành động không tương xứng, không chính đáng, và có ý định cản trở, làm sai lạc hoặc đánh bại tiến trình công lý”. (R kiện Beaudry, 2007)

Năm 2007 sau phán quyết này, trong vụ án dân sự mang tính bước ngoặt của Hill kiện Cảnh sát khu vực Hamilton-Wentworth, Tòa án tối cao Canada đã bổ sung một quy tắc vào danh sách các nguyên tắc Beaudry hiện có:

Quyết định không buộc tội người phạm tội không thể dựa trên mong muốn ích kỷ để tránh trách nhiệm dân sự tiềm tàng (Hill kiện Ủy ban Dịch vụ Cảnh sát Khu vực Hamilton-Wentworth, 2007).

(còn tiếp)

Nguồn: Rod Gehl & Darryl Plecas, Justice Institute of British Columbia 

dịch bởi Nguyễn Trang Nhung, đăng lần đầu trên  Mạng lưới Nghiệp đoàn

Xin ghi rõ nguồn để tôn trọng công sức của người dịch.

Hits: 21

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *