Unions Network: Phải làm gì để thu thập, sắp xếp và phân tích các bằng chứng, nhằm xác định sự thật và thủ phạm trong các vụ án hình sự? Cảnh sát có quyền và trách nhiệm gì trong từng giai đoạn của cuộc điều tra? Cảnh sát và Viện Kiểm sát phải tuân thủ những quy trình, nguyên tắc nào để không truy tố sai, không xâm phạm các quyền của nhân chứng và nghi phạm?

Để trả lời những câu hỏi này, mời các bạn đọc một giáo trình môn Điều tra Hình sự của Canada, mang tên “Giới thiệu môn Điều tra Hình sự: Quy trình, Thực hành & Tư duy”. Sách do thanh tra Rod Gehl và tiến sĩ Darryl Plecas biên soạn, do Viện Tư pháp British Columbia xuất bản năm 2016, và được chị Nguyễn Trang Nhung (CTV Mạng lưới Nghiệp đoàn) chuyển ngữ. Chúng tôi tin rằng giáo trình này sẽ giúp ích cho rất nhiều người Việt Nam – từ các phóng viên điều tra, luật gia, cho đến những nhà hoạt động muốn giám sát cơ quan thực thi pháp luật.

Xin click vào ĐÂY để đọc những chương đã dịch, hoặc vào ĐÂY để truy cập qua mục lục.

*

Chương 2: Một số khái niệm cơ bản quan trọng

Kỳ 4: Hệ thống tranh tụng, Luật thành văn & Án lệ

 

Chủ đề 7: Hệ thống tranh tụng (Adversarial System)

Trong phiên tòa xét xử một người bị buộc tội trong một vụ kiện tại tòa án hình sự, thẩm phán sẽ nghe các bằng chứng và lập luận được đưa ra bởi cả bên công tố và bên bào chữa. Bên công tố và bên bào chữa có mặt tại tòa án trong mối quan hệ đối nghịch, trong đó bên công tố gánh trách nhiệm chứng minh sự thật của vụ án vượt qua sự nghi ngờ hợp lý. Bên bào chữa có thể thách thức các bằng chứng, đặt câu hỏi về lời khai và độ tin cậy của các nhân chứng, và đưa ra các giả thuyết khác nhau về các sự kiện hoặc bằng chứng, trong đó người bị buộc tội có thể được xem là không chịu trách nhiệm hoặc đôi khi ít chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội. Các sự thật cần phải được chứng minh sẽ khác nhau tùy thuộc vào hành vi phạm tội bị cáo buộc; tuy nhiên, nhiệm vụ của công tố viên để đạt được một sự kết tội đòi hỏi rằng mọi yếu tố buộc tội đều được chứng minh vượt qua sự nghi ngờ hợp lý.

Là điều tra viên, bạn sẽ thường xuyên làm việc trong sự hợp tác với công tố viên để ráp nối bằng chứng sẽ được trình bày trước tòa. Tuy nhiên, một khi ra tòa, cảnh sát chỉ là nhân chứng cho tòa án và không đóng vai trò tích cực trong việc truy tố bị cáo. Các điều tra viên cảnh sát không phải là đối thủ của bên bào chữa hoặc bị cáo và không nên coi mình như vậy. Rất thường xuyên tại tòa, điều tra viên cảnh sát sẽ bị luật sư bào chữa thách thức một cách mạnh mẽ về bằng chứng theo cách rất đối nghịch và chắc chắn sẽ cảm thấy có vẻ đang bị thách thức như một kẻ thù. Thậm chí đôi khi đó còn là một chiến lược bào chữa để khiêu khích điều tra viên cảnh sát vào một cuộc đối đầu, trong đó họ có lập trường đối nghịch với bên bào chữa của bị cáo. Trong các trường hợp này, điều quan trọng là điều tra viên phải nhớ rằng uy tín của họ với tư cách là điều tra viên khách quan có thể bị tổn hại khi thể hiện thái độ hoặc ứng xử đối nghịch trước tòa. Điều này không có nghĩa là điều tra viên phải phục tùng người bào chữa mà cần cung cấp bằng chứng một cách khách quan, và chìa khóa là thái độ tôn trọng và cân bằng. Một điều tra viên cao cấp dày dạn kinh nghiệm đã chia sẻ một số lời khuyên từng được cung cấp cho người viết cuốn sách này như sau:

“Công việc của bạn kết thúc trên các bậc thang của tòa nhà nơi có phiên tòa xét xử. Thực hiện việc điều tra của bạn và đưa bằng chứng của bạn ra tòa. Đưa ra lời khai của bạn và công việc của bạn đã xong. Hãy để tòa án đưa ra quyết định của họ và vụ án kết thúc. Nếu bạn cho phép bản thân nắm quyền sở hữu mọi quyết định của tòa án, bạn sẽ không tồn tại như một điều tra viên. Hãy để công việc của bạn kết thúc trên các bậc thang này.” (Fookes, 1973)

Các điều tra viên cảnh sát là những cảnh sát của hệ thống tư pháp, độc lập với văn phòng công tố viên chính phủ. Cảnh sát điều tra và thu thập bằng chứng, và công tố viên chính phủ trình bày các bằng chứng được cảnh sát thu thập cho tòa án. Công tố viên chính phủ không và không nên chỉ đạo hoặc can thiệp vào cuộc điều tra của cảnh sát. Ở Canada, khái niệm về chức năng độc lập giữa cảnh sát và văn phòng công tố viên đôi khi bị hiểu lầm. Sự hiểu lầm này đôi khi có thể xảy ra do chúng ta tiếp xúc với hệ thống tư pháp Mỹ, nơi các luật sư quận, với tư cách công tố viên, đã tham gia rất nhiều vào việc chỉ đạo các quá trình điều tra tại các khu vực tài phán của Mỹ.

 

Chủ đề 8: Luật thành văn (Statutory Law)

Luật thành văn là luật dưới dạng văn bản được ban hành bởi các cấp chính quyền khác nhau. Các luật bằng văn bản quy định hành vi của công dân. Luật được ban hành với các cấp thẩm quyền leo thang từ ba cấp chính quyền ở Canada. Các luật quan trọng nhất là lĩnh vực của chính phủ liên bang, chịu trách nhiệm kiểm soát hành vi phạm tội theo Bộ luật Hình sự của Canada, cũng như hành vi phạm tội được coi là mối quan tâm quốc gia dưới một loạt các luật liên bang khác, như:

  • Bộ luật Hình sự của Canada
  • Đạo luật về Ma túy và Chất bị Kiểm soát đối với tội phạm ma túy
  • Đạo luật Súng Cầm tay để kiểm soát súng cầm tay và các vũ khí bị hạn chế
  • Đạo luật Bảo vệ Môi trường của Canada về các vi phạm môi trường
  • Đạo luật Cơ quan Thu thuế Canada về các vi phạm thuế thu nhập
  • Đạo luật Hải quan và Dịch vụ Biên giới Canada về an ninh biên giới

Các luật, chẳng hạn như Đạo luật về Xe Cơ giới hoặc Đạo luật Kiểm soát và Cấp phép Rượu, được ban hành bởi chính quyền cấp tỉnh, và các luật này khác nhau tùy theo từng tỉnh. Mỗi tỉnh có quyền điều chỉnh độc lập các vấn đề, chẳng hạn như giới hạn tốc độ hoặc tuổi tối thiểu được phép uống rượu, phản ánh sự khoan dung về văn hóa và các chuẩn mực xã hội trong phạm vi quyền hạn của họ. Ở cấp độ thấp nhất, các chính quyền thành phố ban hành các luật địa phương dành riêng cho các mối quan tâm địa phương của họ, chẳng hạn như luật đỗ xe hoặc xả rác.

Bộ luật Hình sự của Canada là đạo luật liên bang quan trọng và mang tính hướng dẫn nhất cho các điều tra viên. Nó cung cấp cho các điều tra viên cảnh sát thẩm quyền sử dụng vũ lực, bắt giữ, xâm nhập tài sản riêng, tìm kiếm và thu giữ chứng cứ, và đưa ra cáo buộc chống lại những kẻ phạm tội. Từ ngữ của Bộ luật Hình sự Canada rất rõ ràng về các loại hành động và hành vi cấu thành tội phạm hình sự. Bộ luật Hình sự nói chung cũng rõ ràng về các quy tắc xác định khi nào và làm thế nào một cảnh sát có thể sử dụng vũ lực, bắt giữ một nghi phạm, tiếp nhận tài sản riêng, tìm kiếm và thu giữ chứng cứ, và buộc tội hình sự đối với một nghi phạm. Tuy nhiên, vẫn còn một lượng đáng kể sự giải thích chủ quan trong bộ luật mà điều tra viên phải thực hiện trong tâm trí để sử dụng hiệu quả các thẩm quyền khác nhau nhằm thực thi luật. Nhu cầu giải thích luật thành văn tồn tại bởi vì có các phán quyết án lệ và các tiền lệ thông luật được thiết lập từ các phán quyết án lệ đó.

 

Chủ đề 9: Thông luật / Án lệ (Common Law / Case Law)

Thông luật là luật không được viết thành văn như một luật hoặc một quy định được ban hành, và dựa trên các phán quyết và tiền lệ của các vụ án trong quá khứ để hướng dẫn các thẩm phán đưa ra các quyết định về sau trong các vụ án tương tự. Nó không thể được tìm thấy trong bất kỳ quy định hay luật nào, mà chỉ trong các phán quyết về trước. Nó linh hoạt và thích nghi với hoàn cảnh thay đổi.

Để hoàn thành vai trò của điều tra viên cảnh sát, cần có sự hiểu biết về các thẩm quyền luật định cụ thể, cùng với các định nghĩa trong án lệ và thông luật để sử dụng các thẩm quyền đó. Các thẩm quyền luật định cung cấp quyền hạn để bắt giữ và sử dụng vũ lực, quyền hạn để xâm nhập tài sản riêng và quyền hạn để tìm kiếm và thu giữ chứng cứ. Án lệ và thông luật về bản chất có tính thủ tục. Chúng giúp xác định các giới hạn trong các thẩm quyền luật định và chỉ ra cách tòa án thực thi pháp luật. Theo đó, án lệ và quy tắc chứng cứ xác định cách tiến hành điều tra của cảnh sát, cách xử lý nghi phạm và các quy trình thu thập chứng cứ và bảo quản chúng trước tòa. Khả năng của điều tra viên trong việc giải thích và tuân thủ đúng thông luật, án lệ và quy tắc chứng cứ này có thể đóng một vai trò lớn trong việc xác định xem bằng chứng từ một cuộc điều tra được tòa án chấp nhận hay từ chối.

Án lệ và thông luật tồn tại bởi vì, qua nhiều năm, các tòa án đã liên tục thấy rằng không thể áp dụng luật thành văn mà không cần giải thích và xem xét các trường hợp ngoại lệ. Các điểm quan trọng của phân tích chủ quan, quyết định các vấn đề về công bằng cho bị cáo và cân bằng nhu cầu bảo vệ xã hội khỏi hành vi phạm tội đã khiến các tòa án giải thích cách áp dụng pháp luật. Những diễn giải này, khi được hệ thống tư pháp chấp nhận, trở thành tiền lệ và đôi khi thậm chí trở thành học thuyết pháp luật. Nhiều cái trong số chúng trực tiếp bình luận về các vấn đề mà điều tra viên nên xem xét khi đưa ra quyết định cụ thể để hành động.

Với cơ sở là các vấn đề án lệ đã tuyên, các điều tra viên được yêu cầu giải thích một cách chủ quan các tình tiết, bằng chứng và thông tin liên quan đến một sự kiện và xác định xem các sự kiện và tình tiết cụ thể có đáp ứng các kiểm tra cho phép thực hiện hành động hay không.

Nhiều diễn giải của điều tra viên và các hành động tiếp theo có thể rất quan trọng đối với tòa án trong việc chấp nhận các bằng chứng được thu thập khi xét xử vụ án, như:

  • Sử dụng vũ lực, đến mức và bao gồm cả vũ lực làm chết người
  • Hình thành các căn cứ hợp lý để giam giữ hoặc bắt giữ nghi phạm\
  • Xâm nhập tài sản riêng có hoặc không có trát
  • Sử dụng các quy tắc của tình huống khẩn cấp (rules of exigent circumstances) để bảo vệ tính mạng và sự an toàn của người hoặc bằng chứng
  • Sử dụng sự suy xét để hành động, ngoài cáo buộc, khi hành vi phạm tội đã được thực hiện

Bên cạnh các phán quyết án lệ này, thông luật cũng cung cấp một số học thuyết pháp luật (doctrines of law) xác định các phán quyết thống nhất của tòa án khi đưa ra các đánh giá về bằng chứng liên quan đến một số vấn đề chung cụ thể. Một học thuyết được thiết lập thông qua việc áp dụng lặp đi lặp lại các tiền lệ pháp lý tương tự, và có một kỳ vọng rằng các tòa án cấp dưới sẽ tôn trọng việc áp dụng các tiền lệ pháp lý này trong các vụ án đã tuyên của các tòa án cấp cao hơn. Việc biết các học thuyết này và xem xét cách tòa án có thể áp dụng chúng cho các bằng chứng được đưa ra giúp các điều tra viên có cách thích hợp để thu thập bằng chứng mang đến thông tin tốt nhất cho tòa án.

Học thuyết thông luật về sự phòng vệ cần thiết (The Common Law Doctrine of Necessity)

Theo luật hình sự, sự phòng vệ cần thiết có thể được viện dẫn trong trường hợp bị cáo tìm cách đưa ra một lý do rằng việc thực hiện hành vi phạm tội là kết quả không thể tránh khỏi của một tình huống nghiêm trọng nào đó ngoài tầm kiểm soát của anh ta hoặc cô ta. Khi xem xét sự phòng vệ này, tòa án sẽ áp dụng một tiêu chuẩn rất nghiêm ngặt để đáp ứng các điều kiện được quy định trong học thuyết thông luật về sự phòng vệ cần thiết (Gecker, 1989). Điều quan trọng là điều tra viên phải biết tiêu chí mà tòa án sẽ áp dụng, càng nhiều càng tốt, vì nó sẽ cho phép điều tra viên tìm ra bằng chứng hỗ trợ hoặc phủ nhận sự phòng vệ cần thiết. Vụ án quan trọng ở Canada về sự phòng vệ như vậy là vụ R kiện Perka, trong đó thẩm phán Dickson mô tả lý do căn bản của sự phòng vệ như một sự công nhận rằng:

“Một bộ luật hình sự tự do và nhân đạo không thể khiến mọi người tuân thủ nghiêm ngặt pháp luật trong các tình huống khẩn cấp, trong đó bản năng bình thường của con người, cho dù là tự vệ hay vị tha, một cách áp đảo, buộc phải bất tuân.

Tuy nhiên, nó “phải được kiểm soát chặt chẽ và hạn chế nghiêm ngặt”, và chỉ có thể được áp dụng trong tình huống nghiêm ngặt nhất trong đó “sự không tự nguyện” thật sự hiện diện. Ba yếu tố được đòi hỏi để bảo vệ thành công sự phòng vệ cần thiết bao gồm:

  • bị cáo phải ở trong tình trạng hiểm họa hoặc nguy hiểm sắp xảy ra
  • bị cáo phải không có sự thay thế hợp pháp cho quá trình hành động mà mình thực hiện
  • thiệt hại do bị cáo gây ra phải cân xứng với thiệt hại mà bị cáo tránh được

Hiểm họa hay nguy hiểm phải không đơn thuần là có thể thấy trước hoặc có khả năng xảy ra. Nó phải gần kề và không thể tránh khỏi.

Ở mức tối thiểu, tình huống phải thật khẩn cấp và hiểm họa phải thật bức bách đến mức bản năng bình thường buộc phải hành động và một lời khuyên về sự kiên nhẫn trong tình huống đó là không hợp lý.

Liên quan đến yếu tố thứ hai, nếu có một sự thay thế hợp pháp cho việc vi phạm pháp luật, thì có thể không thể tìm thấy sự phòng vệ cần thiết. Về yếu tố thứ ba đòi hỏi sự cân xứng, thiệt hại tránh được ít nhất phải tương đương với thiệt hại gây ra”. (R kiện Perka, 1984)

Rõ ràng, tiêu chuẩn cho sự phòng vệ cần thiết đôi khi đòi hỏi sự diễn giải các vấn đề phức tạp. Diễn giải này xác định liệu các tình tiết và bằng chứng có hay không nằm trong những định nghĩa đã nêu để xác định tính cần thiết. Diễn giải này là công việc của tòa án khi đánh giá bằng chứng để đạt được niềm tin vượt qua sự nghi ngờ hợp lý.

Nếu điều tra viên đã phát hiện đủ bằng chứng và có căn cứ hợp lý để tin rằng một hành vi phạm tội đã được thực hiện, thì có đủ căn cứ để buộc tội. Trong các vụ án nghiêm trọng, khi thiệt hại về người hoặc thiệt hại đáng kể về tài sản xảy ra, do sự phức tạp của vấn đề, các điều tra viên cảnh sát không được tùy nghi xem xét liệu một người bị buộc tội có đáp ứng tiêu chuẩn cho sự phòng vệ cần thiết hay không. Trong những vụ án ít nghiêm trọng hơn, chẳng hạn khi cảnh sát dừng một chiếc xe đang vượt quá tốc độ cho phép, và tài xế chỉ ra rằng họ đang tăng tốc để đưa một người bị thương nặng đến bệnh viện, cảnh sát có thể sử dụng sự tùy nghi và chấp nhận lý do cần thiết để bỏ qua phạt quá tốc độ. Ngược lại, nếu người bị buộc tội đã quyết định cắt đai an toàn để giữ cho mình khỏi bị rơi xuống vực, và việc đó khiến một người leo núi khác rơi xuống rồi chết, phán quyết về sự phòng vệ cần thiết phải được đưa ra bởi một thẩm phán tại tòa án.

Trong các vụ án nghiêm trọng, điều quan trọng là điều tra viên phải nhớ rằng công việc của họ không bao gồm việc đưa ra bất kỳ diễn giải cuối cùng nào về sự phòng vệ cần thiết, ngay cả khi bằng chứng vè sự phòng vệ cần thiết có thể tồn tại. Nhiệm vụ của điều tra viên bị hạn chế để nhận dạng và thu thập tất cả các bằng chứng có thể giúp tòa án đưa ra quyết định về các vấn đề về sự phòng vệ cần thiết. Điều này bao gồm nhận dạng và thu thập:

1 – Bằng chứng cho thấy về bản chất, mối nguy hiểm có sắp xảy ra hay không

2 – Bằng chứng về các lựa chọn hoặc hành động thay thế hợp pháp khác có sẵn cho bị cáo

3 – Bằng chứng cho thấy mối nguy hiểm là có thể tránh được hay không thể tránh được

4 – Bằng chứng để chứng minh thiệt hại dự đoán từ mối đe dọa, so với thiệt hại do hành động bị cáo buộc

Học thuyết chiếm hữu trong thời gian gần (Doctrine of Recent Possession)

Học thuyết chiếm hữu trong thời gian gần đề cập đến việc chiếm hữu tài sản bị đánh cắp trong thời gian gần. Nó cho phép tòa án suy luận rằng người chiếm hữu tài sản bị đánh cắp biết tài sản đó có được nhờ thực hiện hành vi phạm tội, và trong một số trường hợp nhất định, cũng là một bên tham gia hành vi phạm tội ban đầu (R kiện Terrence, 1983; & R kiện Kowlyk, 1988). Khi xem xét liệu có nên suy luận về sự chiếm hữu trong thời gian gần hay không, bên công tố phải xem xét tất cả các tình huống (R kiện Abernathy, 2002). Điều này bao gồm các yếu tố về cảm thức thông thường, chẳng hạn như khoảng thời gian nằm giữa hành vi phạm tội và hành vi chiếm hữu (R kiện Gagnon, 2006). Các yếu tố để xem xét liệu việc chiếm hữu có diễn ra trong thời gian gần hay không bao gồm bản chất của vật; độ hiếm của vật; độ sẵn sàng của vật để có thể, hoặc như thể, được chuyền từ người này sang người khác; và tính dễ nhận dạng. Để đạt được kết luận, công tố viên chính phủ phải chứng minh rằng người bị buộc tội đã chiếm hữu vật phẩm, và trước đó không lâu, vật phẩm đã bị đánh cắp mà không có lời giải thích (R kiện Gagnon, 2006). Khi bị cáo được phát hiện chiếm hữu trong thời gian gần mà không có lời giải thích, bên công tố có thể rút ra suy luận và đưa ra giả định rằng bị cáo có vai trò trong vụ trộm hoặc các tội phạm liên quan. Bên bào chữa có thể đưa ra một lập luận để chống lại giả định này bằng cách cung cấp bằng chứng về một lời giải thích hợp lý (R kiện Graham, 1974).

Học thuyết về sự mù quáng cố ý (Doctrine of Wilful Blindness)

Sự mù quáng cố ý, còn được gọi là sự thiếu hiểu biết về pháp luật hoặc sự thiếu hiểu biết chủ định, là điều mà tòa án sẽ xem xét khi bị cáo đưa ra lời bào chữa rằng họ không nhận thức được các sự kiện sẽ khiến họ phải chịu trách nhiệm hình sự cho tội hình sự, hoặc trách nhiệm dân sự cho lỗi dân sự. Ví dụ, điều này có thể phát sinh khi một người đã mua một món đồ đắt tiền là tài sản bị đánh cắp với giá rất nhỏ, sau đó cố gắng biện hộ chống lại tội chiếm hữu tài sản bị đánh cắp bằng cách tuyên bố rằng họ không biết món đồ đó đã bị đánh cắp và / hoặc không biết giá trị thực của món đồ. Khi áp dụng học thuyết sự mù quáng cố ý, tòa án sẽ xem xét cẩn thận các tình tiết để xác định những gì bị cáo phải biết hoặc liệu bị cáo có phải truy vấn thêm hay không.

Tòa án Tối cao Canada đã nói rõ suy nghĩ đằng sau việc đánh giá sự mù quáng cố ý trong vụ R kiện Briscoe:

“Sự mù quáng cố ý (wilful blindness) không xác định ý định phạm tội (mens rea) cần thiết đối với các hành vi phạm tội cụ thể. Thay vào đó, nó có thể thay thế cho sự hiểu biết thực tế bất cứ khi nào sự hiểu biết là một thành phần của ý định phạm tội. Học thuyết về sự mù quáng cố ý áp đặt sự hiểu biết cho một bị cáo có sự nghi ngờ được khơi dậy đến mức anh ta hoặc cô ta thấy cần phải truy vấn thêm, nhưng cố tình chọn không đưa ra những truy vấn đó.” (R kiện Briscoe, 2010)

Cách thức mà tòa án phải xem xét các vấn đề này được thể hiện rõ hơn trong vụ Sansregret kiện Nữ hoàng, [1985] 1 S.C.R. 570 và vụ R kiện Jorgensen, [1995] 4 S.C.R. 55. Như Sopinka J. diễn giải một cách súc tích trong vụ R kiện Jorgensen (tại đoạn 103):

“[Một] phát hiện về sự mù quáng cố ý liên quan đến một câu trả lời khẳng định cho câu hỏi: Có phải bị cáo lờ đi vì anh ta biết hoặc nghi ngờ mạnh mẽ rằng việc tìm kiếm sẽ giúp anh ta biết? Các tòa án và các nhà bình luận đã luôn nhấn mạnh rằng sự mù quáng cố ý khác biệt với sự cẩu thả. Sự khác biệt này được nhấn mạnh lặp đi lặp lại.”

Như Tòa án đã giải thích thêm trong vụ Sansregret kiện Nữ hoàng (tại trang 584):

“Trong khi ‘cẩu thả’ liên quan đến sự hiểu biết về rủi ro và mối nguy hiểm, và sự cố chấp trong ứng xử dẫn đến nguy cơ xảy ra kết quả bị cấm; sự mù quáng cố ý phát sinh khi một người nhận thức được sự cần thiết của việc truy vấn nhưng từ chối truy vấn vì anh ta không muốn biết sự thật. Anh ta muốn không biết sự thật hơn là biết. Tội cẩu thả được chứng minh bằng ý thức về rủi ro và bằng cách thức đối mặt với nó, trong khi tội trong mù quáng cố ý được chứng minh bằng lỗi của bị cáo khi cố tình không truy vấn khi anh ta biết có lý do để truy vấn.” (Sansregret kiện Nữ hoàng, 1985)

Đối với điều tra viên dự đoán rằng sự mù quáng cố ý có thể trở thành một vấn đề tại phiên tòa, điều quan trọng là phải nhận ra sự cần thiết phải thu thập bằng chứng bổ sung có thể chứng minh rằng bị cáo biết hoặc phải biết bản chất của hành vi phạm tội và cố tình không truy vấn.

(còn tiếp)

Nguồn: Rod Gehl & Darryl Plecas, Justice Institute of British Columbia 

dịch bởi Nguyễn Trang Nhung, đăng lần đầu trên  Mạng lưới Nghiệp đoàn

Xin ghi rõ nguồn để tôn trọng công sức của người dịch.

Hits: 29

One thought on “Giới thiệu môn Điều tra Hình sự – Chương 2: Một số khái niệm cơ bản – Kỳ 4: Hệ thống tranh tụng, Luật thành văn & Án lệ”

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *