Unions Network: Phải làm gì để thu thập, sắp xếp và phân tích các bằng chứng, nhằm xác định sự thật và thủ phạm trong các vụ án hình sự? Cảnh sát có quyền và trách nhiệm gì trong từng giai đoạn của cuộc điều tra? Cảnh sát và Viện Kiểm sát phải tuân thủ những quy trình, nguyên tắc nào để không truy tố sai, không xâm phạm các quyền của nhân chứng và nghi phạm?

Để trả lời những câu hỏi này, mời các bạn đọc một giáo trình môn Điều tra Hình sự của Canada, mang tên “Giới thiệu môn Điều tra Hình sự: Quy trình, Thực hành & Tư duy”. Sách do thanh tra Rod Gehl và tiến sĩ Darryl Plecas biên soạn, do Viện Tư pháp British Columbia xuất bản năm 2016, và được chị Nguyễn Trang Nhung (CTV Mạng lưới Nghiệp đoàn) chuyển ngữ. Chúng tôi tin rằng giáo trình này sẽ giúp ích cho rất nhiều người Việt Nam – từ các phóng viên điều tra, luật gia, cho đến những nhà hoạt động muốn giám sát cơ quan thực thi pháp luật.

Xin click vào ĐÂY để đọc những chương đã dịch, hoặc vào ĐÂY để truy cập qua mục lục.

*

Chương 2: Một số khái niệm cơ bản quan trọng

Kỳ 3: Những tiêu chuẩn để đo lường sức nặng của bằng chứng

 

Chủ đề 4: Bằng chứng vượt qua sự nghi ngờ hợp lý (Proof Beyond a Reasonable Doubt)

Bằng chứng vượt qua sự nghi ngờ hợp lý là biện pháp chứng minh tiêu chuẩn mà tòa án hình sự sẽ áp dụng khi xác định liệu bằng chứng được đưa ra bởi bên công tố có đủ để kết án bị cáo hay không. Nếu bằng chứng là đủ, và gánh nặng chứng minh đã được thỏa mãn, tòa án có thể kết án bị cáo. Trong các trường hợp này, trách nhiệm chứng minh tất cả các yếu tố của tội danh hoàn toàn thuộc về bên công tố. Bị cáo không bắt buộc phải chứng minh rằng họ vô tội.

Tòa án Tối cao Canada đã đưa ra khái niệm bằng chứng vượt qua sự nghi ngờ hợp lý cho thấy rằng nó nên được giải thích cho các bồi thẩm đoàn như sau:

Tiêu chuẩn của bằng chứng vượt qua sự nghi ngờ hợp lý được kết hợp một cách chặt chẽ với nguyên tắc cơ bản dùng cho mọi phiên tòa hình sự, là giả định bị cáo vô tội. (R kiện Lifchus, 1997)

  • Gánh nặng chứng minh thuộc về bên công tố trong suốt phiên tòa và không bao giờ chuyển sang bị cáo.
  • Sự nghi ngờ hợp lý không phải là sự nghi ngờ dựa trên sự cảm thông hay định kiến, và thay vào đó, dựa trên lý trí và lẽ thường.
  • Sự nghi ngờ hợp lý được kết nối hợp lý với bằng chứng hoặc sự vắng mặt bằng chứng.
  • Bằng chứng vượt qua sự nghi ngờ hợp lý không liên quan đến bằng chứng cho sự chắc chắn tuyệt đối. Nó không phải là bằng chứng vượt qua mọi sự nghi ngờ, hay sự nghi ngờ tưởng tượng hoặc phù phiếm.
  • Cần nhiều thứ hơn ngoài bằng chứng cho thấy bị cáo có thể có tội. Một bồi thẩm đoàn mà chỉ kết luận rằng bị cáo có lẽ có tội thì phải tha bổng cho bị cáo đó.

Tòa án Tối cao Canada nhấn mạnh trong vụ R kiện Starr, rằng một cách hiệu quả để giải thích khái niệm này là nói với bồi thẩm đoàn rằng bằng chứng vượt qua sự nghi ngờ hợp lý “tới gần sự chắc chắn tuyệt đối hơn là bằng chứng trong cán cân xác suất (proof within a balance of probabilities)”. Chỉ rằng bị cáo có thể có tội, hoặc có khả năng có tội, là không đủ. Bằng chứng về việc bị cáo có thể có tội, hoặc có khả năng có tội, không phải là bằng chứng vượt qua sự nghi ngờ hợp lý. (R kiện Starr, 2000)

Điều quan trọng đối với các điều tra viên là hiểu rằng bằng chứng vượt qua sự nghi ngờ hợp lý là một sự kiểm tra khác với những gì họ buộc phải đáp ứng khi xem xét giá trị của bằng chứng trong quá trình điều tra. Trong cuốn sách này về sau, chúng ta sẽ xem xét tầm quan trọng của việc thu thập, ghi chép và bảo quản đúng cách càng nhiều bằng chứng càng tốt để giúp tòa án đạt được niềm tin vượt qua sự nghi ngờ hợp lý.

 

Chủ đề 5: Căn cứ hợp lý để tin tưởng (Reasonable Grounds to Believe)

Căn cứ hợp lý để tin tưởng, đôi khi được gọi là căn cứ hợp lý và khả dĩ để tin tưởng, là sự kiểm tra mà một điều tra viên cảnh sát phải áp dụng khi xem xét các bằng chứng để thực thi quyền hạn của họ trong quá trình điều tra tội phạm. Thiết lập các căn cứ hợp lý để tin rằng một người chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội cho phép điều tra viên thực hiện các quyền hạn được cung cấp theo bộ luật hình sự. Đây là những quyền hạn để bắt giữ kèm hay không kèm trát, quyền tìm kiếm và thu giữ chứng cứ kèm hay không kèm trát, và quyền tuyên thệ thông tin chống lại một người khi căn cứ hợp lý để tin tưởng đã được thiết lập.

Hình thành cơ sở hợp lý cho niềm tin là một quy trình tư duy chủ quan. Nó được cho là quy trình tư duy quan trọng nhất mà một điều tra viên sẽ thực hiện. Đó là một quy trình tư duy dựa trên việc xem xét thông tin, bằng chứng và sự kiện mà điều tra viên đã thu thập được trong quá trình điều tra của mình. Các căn cứ hợp lý cho niềm tin này phải dựa trên đánh giá của điều tra viên về thông tin và bằng chứng có sẵn cho mình tại thời điểm quyết định hành động được đưa ra. Bằng chứng về tội được phát hiện sau một hành động (chẳng hạn như khi một vụ bắt giữ hoặc khám xét đã diễn ra) không thể được sử dụng để biện minh hồi tố cho hành động đó. Như vậy, khi tòa án xem xét liệu điều tra viên có đúng và hợp lý trong việc hình thành các căn cứ hợp lý để tin tưởng dựa trên bằng chứng có sẵn tại thời điểm hành động hay không, thẩm phán sẽ suy nghĩ về bản chất của bằng chứng mà điều tra viên đã mô tả trong lời khai của mình.

Thẩm phán Cory trong vụ R kiện Storrey (1990) đã đưa ra một sự cân nhắc rất thông thường được áp dụng trong việc xác định liệu điều tra viên có căn cứ hợp lý để tin tưởng hay không:

Bộ luật hình sự đòi hỏi một cảnh sát bắt giữ nghi phạm, theo chủ quan, phải có căn cứ hợp lý và khả dĩ để thực hiện bắt giữ. Ngoài ra, các căn cứ đó phải được chứng minh theo quan điểm khách quan. Điều đó có nghĩa là, một người duy lý được đặt vào vị trí của cảnh sát phải có khả năng kết luận rằng thực sự có căn cứ hợp lý và khả dĩ cho vụ bắt giữ. Mặt khác, cảnh sát không cần chứng minh bất cứ điều gì ngoài căn cứ hợp lý và khả dĩ. Cụ thể họ không buộc phải chứng minh một trường hợp prima facie (ấn tượng ban đầu) để kết tội trước khi bắt giữ. (R kiện Storrey, 1990)

Căn cứ hợp lý để tin tưởng là một khái niệm rất quan trọng mà một điều tra viên cần hiểu, và không được nhầm lẫn với sự kiểm tra nặng nề hơn về bằng chứng vượt qua sự nghi ngờ hợp lý (R kiện Starr, 2000), tức thứ mà tòa án sẽ sử dụng trong việc cân nhắc các bằng chứng để xác định xem sự kết tội có hợp lý hay không. Nhầm lẫn giữa hai mức độ niềm tin này là một lỗi mà đôi khi các điều tra viên mắc phải, và có thể khiến một điều tra viên do dự vì họ không tin rằng họ đã đạt đến mức độ tin tưởng đầy đủ để hành động.

May thay, mức độ thấp hơn của niềm tin và căn cứ hợp lý này tạo thuận lợi cho các điều tra viên cảnh sát, bởi nó chỉ đòi hỏi cảnh sát đưa ra một niềm tin chủ quan về thông tin và bằng chứng có sẵn cho họ tại thời điểm điều tra. Nó cho phép các điều tra viên cảnh sát hình thành những cơ sở niềm tin hợp lý dựa trên vật chứng mà họ đã thấy, hồ sơ họ đã xem xét và thông tin đồn đoán có được từ các nhân chứng. Trong những tình huống mà thời gian là điều cốt yếu để bảo vệ sự sống, sự an toàn, và bằng chứng hoặc để đặt một tình huống trong tầm kiểm soát, nó không đòi hỏi điều tra viên thực hiện bất kỳ xác nhận nào về thông tin mà họ đang dựa vào. Thông tin có thể được thu thập chỉ với giá trị bề mặt của nó.

Thiết lập các căn cứ hợp lý để tin tưởng và thực hiện hành động bắt giữ hoặc tiến hành khám xét sẽ không nhất thiết được thực hiện trước khi thu thập đủ bằng chứng để đưa ra cáo buộc. Trong một số trường hợp, một vụ bắt giữ được thực hiện vì có căn cứ hợp lý tồn tại và sau khi có thêm thông tin và bằng chứng, có thể thấy rõ rằng người đó không phạm tội. Do đó, quá trình cáo buộc không diễn ra và nghi phạm được thả ra. Để mở cho kết quả của việc xác định vô tội thực sự là một sự kiểm tra về tính khách quan cho các điều tra viên. Sự khách quan này đôi khi có thể khó đạt được khi có áp lực nghiêm trọng trong việc bắt một kẻ phạm tội nguy hiểm. Sai lầm của việc quá nhanh chóng tiến hành buộc tội, hoặc thậm chí xem nhẹ và bỏ qua bằng chứng cho thấy sự vô tội, là một cái bẫy khiến nhiều điều tra viên chấm dứt sự nghiệp của họ dưới những cáo buộc về tính khách quan hoặc thậm chí không đủ năng lực (Pennington, 1999).

Khi các cáo buộc được đưa ra, tính khách quan có thể trở thành vấn đề chính tại phiên tòa và người bào chữa có thể yêu cầu điều tra viên cung cấp một giải thích chính xác về bằng chứng đã được xem xét hoặc bỏ qua trong quy trình tư duy để thiết lập căn cứ hợp lý để tin tưởng. Hình thành các căn cứ hợp lý là một quy trình nên được thực hiện với sự xem xét cẩn thận các sự kiện. Hình thành các căn cứ hợp lý đòi hỏi một chủ định siêng năng để ghi nhớ các sự kiện, với lưu ý rằng một phát biểu về phân tích chủ quan được sử dụng để hình thành các căn cứ hợp lý cho niềm tin có thể được xem như lời chứng trước tòa.

Mức độ tự nhận thức này là một bước quan trọng trong việc xây dựng các kỹ năng tư duy để trở thành một điều tra viên giỏi. Với những kỹ năng tư duy này, các công cụ sẽ được cung cấp về sau trong cuốn sách này có thể hỗ trợ điều tra viên thực hành tư duy thông qua các cuộc điều tra bằng cách sử dụng quy trình từng bước một.

 

Chủ đề 6: Bằng chứng trong cán cân xác suất (Proof Within a Balance of Probabilities)

Như đã đề cập ở trên, cán cân xác suất là tiêu chuẩn bằng chứng của tòa án dân sự, và nó đỡ nặng nề hơn tiêu chuẩn “bằng chứng vượt qua sự nghi ngờ hợp lý” của tòa án hình sự. Một thứ được chứng minh trong cán cân xác suất có nghĩa là nó có nhiều khả năng xảy ra hơn là không xảy ra. Trên một cán cân thăng bằng, nếu khả năng xảy ra điều gì đó hơn 50%, thì thử nghiệm trong cán cân xác suất đã được đáp ứng. Trong hầu hết các trường hợp, nếu sự kiểm tra hình sự về “bằng chứng vượt qua sự nghi ngờ hợp lý” được đáp ứng, thì bằng chứng tương tự được đưa ra tại một phiên tòa dân sự có khả năng đáp ứng ngưỡng yêu cầu của “bằng chứng nằm trong cán cân xác suất (Allen, 1991). Điều quan trọng là một điều tra viên hình sự phải hiểu rằng, mặc dù có thể không có đủ bằng chứng để đáp ứng yêu cầu buộc tội hình sự hoặc đưa ra bằng chứng vượt qua sự nghi ngờ hợp lý, bằng chứng vẫn có thể thành công trong việc xác định trách nhiệm dân sự trong cán cân xác suất. Vì khả năng này của vụ kiện dân sự mà điều quan trọng là các điều tra viên vẫn phải cần mẫn trong việc thu thập và bảo quản bằng chứng, ngay cả khi họ tin rằng sẽ không có một vụ kiện hình sự nào cả.

(còn tiếp)

Nguồn: Rod Gehl & Darryl Plecas, Justice Institute of British Columbia 

dịch bởi Nguyễn Trang Nhung, đăng lần đầu trên  Mạng lưới Nghiệp đoàn

Xin ghi rõ nguồn để tôn trọng công sức của người dịch.

Hits: 42

One thought on “Giới thiệu môn Điều tra Hình sự – Chương 2: Một số khái niệm cơ bản – Kỳ 3: Những tiêu chuẩn để đo lường sức nặng của bằng chứng”

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *