Mạng lưới Nghiệp đoàn xin dịch và giới thiệu với các bạn một sổ tay về nghiệp vụ công đoàn, do Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) xuất bản vào năm 2002, mang tên “Trade Union Administration: A Caribbean Workers’ Education Guide”. Đây là một tài liệu tham khảo hữu ích, giúp chúng ta hình dung những thách thức mà công đoàn ở các nước đang phát triển có thể phải đối mặt trong quá trình toàn cầu hóa, cùng những phương thức quản lý cơ bản để vượt qua chúng.

Xin click vào ĐÂY để đọc những chương đã dịch, hoặc click vào ĐÂY để truy cập qua mục lục.

*

Chương 5:
Tổ chức người lao động

Kỳ 2: Tại sao mọi người tham gia vào công đoàn?

5.7. Tại sao mọi người tham gia vào công đoàn?

Nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng người lao động tham gia vào công đoàn vì một vài lý do – một số thuần túy là lý do cá nhân, một số thực dụng và thực tế, và một số lý tưởng và triết lý.

Có đôi khi, những nhóm lớn hợp thành tổ chức chỉ vì sự thay đổi quá nhanh hoặc quá tồi tệ ở công sở, bao gồm: sợ đóng cửa, thay đổi công nghệ, tái cấu trúc, vấn đề liên quan đến y tế và sức khỏe, mức thù lao thấp và điều kiện làm việc kém, hoặc cảm thấy không thể làm việc ở công sở đó. Đôi khi, người lao động phải ứng phó cả với những mối đe dọa đến từ công sở.

Trong những trường hợp này (nơi mà động lực hình thành tổ chức xuất phát từ chính công sở), người tổ chức phải thành thạo các kĩ năng và kinh nghiệm để biến động lực thành một tổ chức hoàn chỉnh. Vấn đề đầu tiên mà họ phải giải quyết là sự nhanh chóng và tính thỏa đáng.

Thiết lập các mối quan hệ với người lãnh đạo; nhận biết các vấn đề; tuyển dụng; thiết lập cơ cấu địa phương; đào tạo lãnh đạo; bảo đảm tính đa số tuyệt đối; nhận được sự công nhận; và đàm phán hợp đồng đầu tiên, tất cả những việc này đều phải được tiến hành thật chuyên nghiệp. Vì lý do động lực, công đoàn có thể có một bộ phận khen thưởng.

Công đoàn lao động Barbados có nhiều động lực được khởi đầu bằng chính người lao động. Một vài ví dụ có thể nhắc đến như: Ngân hàng Barclays (nỗi sợ thay đổi kĩ thuật và tái cơ cấu); Dịch vụ dữ liệu Manulife (chấn thương nặng lặp đi lặp lại); N D L (sợ bị đóng cửa); Modutec (quản lý độc tài và mức thù lao và điều kiện làm việc thấp).

Nhưng cần phải thừa nhận rằng, với những người lao động bất mãn tham gia vào công đoàn, có một số điều kiện tiền đề cần thiết như sau:

  • họ cần phải hiểu về công đoàn, vai trò và chức năng của nó;
  • họ nên tự tin về khả năng của Công đoàn trong việc đại diện cho nhu cầu và mong muốn của mình.
  • Ý chí của đội nhóm trong công đoàn có thể được coi là tổng hợp của ý chí cá nhân.

Lý thuyết “nhu cầu”

Lý thuyết “nhu cầu” được sử dụng để tập trung vào lý do tại sao nhiều cá nhân tham gia vào công đoàn. Các nhà tâm lý công sở thường nói về nhu cầu “cơ bản” và rồi tiến đến các nhu cầu phái sinh cao hơn.

Với nhiều người lao động, công sở là nơi cung cấp và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản.

Tiền (thù lao hay lương) là mối quan hệ giữa ông chủ và nhân viên nơi công sở. Ông chủ đòi hỏi “công việc”, còn người lao động giao dịch bằng dịch vụ, kĩ năng và nỗ lực của mình – và được trả tiền sau khi thương lượng.

Hợp đồng lao động bao gồm các nghĩa vụ và trách nhiệm nhất định để duy trì mối quan hệ. Bất cứ sự vi phạm nào của một trong hai bên đều dẫn đến sự đứt gãy của mối quan hệ và sự chia rẽ.

Đối với ông chủ, dịch vụ hiệu suất sao liên tục mà người lao động cung cấp có thể mang đến những giá trị thặng dư to lớn cho tổ chức, tích lũy sự thịnh vượng, và sự ổn định về tài chính. Giá trị thặng dư dưới dạng lợi nhuận có thể được sử dụng để đầu tư lâu dài như mở rộng doanh nghiệp, tạo ra các khoản đầu tư mới khác; trả cổ tức cho cổ đông; và thực hiện các chức năng dân sự của doanh nghiệp.

Đối với người lao đông, thù lao hay lương của họ chính là chi phí của công ty. Đôi khi, người lao động có thể chia sẻ phần giá trị thặng dư thông qua cơ chế chia sẻ lợi nhuận hoặc tương tự.

Đối với người lao động, thù lao hay lương của họ là khoản thu nhập đáp ứng được nhu cầu cơ bản, thường là:

  • Thức ăn và thực phẩm
  • Quần áo
  • Nơi ở, nơi trú ngụ
  • Phương tiện đi lại
  • Thuốc thang và chăm sóc sức khỏe
  • Giáo dục
  • Giải trí
  • Bảo vệ
  • Các hoạt động sinh dục và sinh sản
  • An toàn

Vậy nên, nếu ai đó hỏi rằng “Tại sao mọi người lại làm việc?”, thì câu trả lời cơ bản rất đơn giản, đó là “Để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của họ”.

Tiền – những đồng đô-la toàn năng, trở thành biểu tượng quyền lực cho sự sống sót. Trong thế giới hiện đại tinh vi này, chúng ta gần như không thể sống mà thiếu tiền.

Ngày nay, tiền mặt, hóa đơn, thẻ tín dụng, voucher và các công cụ khác đều có sẵn. Tài sản cá nhân người lao động cũng có thể mở rộng ra đối với các tài sản như trang sức, dụng cụ, cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu. Những người khác có thể có những tài sản như ô tô, xe buýt, taxi, và các phương tiện khác. Một số có tài sản dưới dạng đất đai, nhà cửa, và căn hộ.

Người lao động phân biệt giữa “nhu cầu” và “mong muốn” của mình. Họ thiết lập các “vùng an toàn” và quyết định kiểu xây dựng năng lực mà họ cần để đạt đến mục tiêu của mình.

Thông qua các khoản chi trả cho dịch vụ mà họ cung cấp, người lao động có thể phục vụ được nhu cầu của mình, thực hiện được các cam kết và tích lũy để sở hữu tài sản cá nhân và bất động sản.

Các nhu cầu khác

Tất cả người lao động đều không tham gia vào công đoàn chỉ để thỏa mãn nhu cầu cá nhân của mình. Những người khác còn đòi hỏi cao hơn:

  • Sự công nhận
  • Chứng tỏ bản thân
  • Lòng tự tôn
  • Được tôn trọng

Công đoàn có thể tổ chức những chương trình gì, và có thể cung cấp dịch vụ gì để giúp các thành viên của nó có thể đạt được các nhu cầu của mình, và thu hút thêm thành viên có chung nhu cầu đó?

 

5.8. Luật và quy trình tổ chức

Chúng ta đều biết Công ước số 87 và 98 của ILO đưa ra những định nghĩa cơ bản về quyền tổ chức người lao động và thương lượng tập thể.

Bất cứ chính phủ nào là thành viên của Công ước ILO đều phải có quy định pháp luật hài hòa với Công ước ILO. Ở Jamaica, Luật giải quyết tranh chấp và quan hệ lao động năm 1975, và một trong những lĩnh vực của nó đã chỉ quy định rằng người lao động có quyền được tổ chức trong các công đoàn, tuân thủ theo các quy trình nhất định, có thể thông qua bầu cử giữa người lao động.

Trong hệ thống tình nguyện, có thể không có luật nào để xác định việc công nhận tư cách đàm phán. Nhưng Bộ Lao động có thể đưa ra quy trình khảo sát thay cho quy trình bỏ phiếu. Điều này cần thiết trong việc nhận thức những điều luật liên quan đến tổ chức.

Quy trình nội bộ công đoàn

Công đoàn nên có một mẫu đơn đăng ký để dùng cho quy trình tuyển dụng. Quy trình này có thể là nguồn quan trọng để thu thập dữ liệu về thành viên. Hầu hết các công đoàn đều yêu cầu các khoản phí gia nhập, cũng như khoản đóng góp hàng tuần hay hàng tháng. Một số công đoàn có phí ngang nhau, nhưng một số khác thì yêu cầu đóng phí theo phần trăm lương của người lao động.

Một khi thành viên tham gia vào công đoàn, nên có một mối quan hệ gần gũi giữa người tổ chức và các cơ quan khác của công đoàn. Ban kế toán phải đảm bảo giữ được mọi chứng từ. Ban giáo dục nên bắt đầu nhiệm vụ “công đoàn hóa” – một trong những chức năng chủ chốt của tổ chức.

Quản trị

Các nhà tổ chức phải nhận ra rằng một khi cuộc bỏ phiếu hoặc khảo sát đã đem đến kết quả có lợi cho công đoàn, “all’s fair in love and war”. Công ty có thể thử hàng loạt “chiến thuật phá công đoàn” khác nhau để ngăn chặn các nỗ lực của công đoàn. Những việc này bao gồm: sa thải lãnh đạo công đoàn cấp cơ sở; sa thải những công nhân trong đơn vị thương lượng; tăng lương và các điều kiện làm việc; từ chối phản ứng lại những tiếp cận của công đoàn; đe dọa rời đi; và chiến tranh tuyên truyền.

Các nhà tổ chức phải đảm bảo kỉ luật chặt chẽ qua động cơ tổ chức. Đặc biệt khi đối mặt với chiến lược quản trị đối nghịch, người lao động phải hoàn toàn tuân theo sự hướng dẫn của người tổ chức công đoàn.

Công đoàn phải mở rộng tổ chức trong những lĩnh vực bền vững, đặc biệt là trong giới lao động trí thức đang gia tăng số lượng. Họ cũng phải thiết lập mối quan hệ với những ông chủ doanh nghiệp nhỏ.

 

Bài tập:

– Những tiêu chuẩn nào sẽ giúp quy trình tổ chức thành công?

– Khi đã đạt được sự công nhận ở công sở, công đoàn làm thế nào để tiếp tục nâng cao chất lượng tuyển dụng thành viên trong đơn vị thương lượng?

– Điều gì xác định đơn vị thương lượng?

– Liệt kê và thảo luận các chiến lược mà bạn sẽ dùng để tổ chức người lao động trong:

  • Công nghiệp
  • Nông nghiệp
  • Dịch vụ tài chính
  • Dịch vụ khách sạn

– Điều quan trọng là công đoàn được chấp nhận ở phạm vi quốc gia hoặc tầm vĩ mô, nếu nó có ảnh hưởng ở tầm vĩ mô. Công đoàn của bạn có sức ảnh hưởng ở tầm vĩ mô không? Làm thế nào để nó quản trị các quy trình marketing và quan hệ công chúng của nó?

– Thảo luận về các kiểu lãnh đạo và điều hành khác nhau và ảnh hưởng của chúng lên nhóm.

Nguồn: ILO

Dịch bởi Hải Anh – CTV Mạng lưới Nghiệp đoàn

Ảnh minh họa: Safety Line

Xin ghi rõ nguồn khi phổ biến để tôn trọng công sức của người dịch.

Hits: 24

One thought on “Sổ tay hướng dẫn quản lý công đoàn – Chương 5: Tổ chức người lao động – Kỳ 2: Tại sao mọi người tham gia vào công đoàn?”

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *