Giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX diễn ra quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam. Quá trình này diễn ra sớm ở Nam Kỳ.

Tiểu thuyết là thể loại ra đời tương đối muộn nhưng nó đã chứng tỏ được sức sống mạnh mẽ trong quá trình sinh thành và phát triển. Văn học Nam Kỳ trong giai đoạn đầu của quá trình hiện đại hóa đã lựa chọn tiểu thuyết (thể loại tự sự nằm ở vị trí vùng biên trong thời kỳ trung đại) làm thể loại chính, thể loại trung tâm của đời sống văn học, dù nó không thật sự có bề dày và thành tựu trong lịch sử văn học dân tộc. Sự lựa chọn ấy chắc chắn có điểm tựa từ truyền thống tự sự Nôm của khu vực văn chương Công giáo [1] và sự tác động của những điều kiện lịch sử, văn hóa, xã hội đã hội đủ cho quá trình hiện đại hóa văn học xuất hiện khá sớm ở đây : sự phát triển thành thục của chữ Quốc ngữ, báo chí và xuất bản, đời sống đô thị phát triển và mô hình giáo dục theo lối Tây phương góp phần du nhập mô hình văn chương mới và hình thành tầng lớp công chúng mới, viết văn trở thành một nghề trong xã hội, quan niệm mới về văn chương, hệ thống thể loại mới của văn học hiện đại được du nhập (Tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, kịch, phóng sự, dịch thuật, nghiên cứu, phê bình văn học…). Góp phần tác động mạnh và đẩy nhanh xu hướng chuyển vị thể loại từ thơ ca, phú, lục, truyện thơ Nôm (vốn là những thể loại truyền thống và là thế mạnh của nền văn học trung đại Việt Nam) sang tiểu thuyết văn xuôi Quốc ngữ la tinh có vai trò lớn của dịch thuật.

Phiên dịch quốc ngữ đã đóng một vai trò kiến tạo to lớn trong quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX. Các nhà nghiên cứu nhìn chung đều thống nhất quan điểm cho rằng chính phiên dịch quốc ngữ là cầu nối giữa văn học truyền thống và văn học hiện đại. Phiên dịch đóng vai trò giúp nhà văn học tập di sản văn học quá khứ (phiên âm tác phẩm Hán Nôm Việt Nam), tiếp thu tiếp biến hệ thống thể loại (dịch thể loại) [2] và quan niệm văn chương từ văn học nước ngoài, thúc đẩy nhà văn sáng tác, giúp người đọc làm quen với hệ hình văn chương mới.

Trong bài viết này, chúng tôi tìm hiểu cơ chế chuyển đổi, giao lưu và tương tác, sự ảnh hưởng của hoạt động phiên dịch tiểu thuyết lịch sử Trung Hoa [3] và sáng tác tiểu thuyết lịch sử Việt Nam trong đời sống văn hóa lịch sử Nam Kỳ đầu thế kỷ XX. Chọn một thể loại là tiểu thuyết lịch sử, với tư cách là một hiện tượng văn hóa lịch sử tương đối nổi bật để bàn về những vấn đề quan yếu của quá trình hiện đại hóa (vấn đề thể loại), chúng tôi muốn đóng góp những ý kiến luận bàn bên cạnh những kiến giải sâu sắc nhiều giá trị của các học giả, nhà nghiên cứu đã công bố trong thời gian vừa qua [4].

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX diễn ra quá trình hiện đại hóa văn học không chỉ nơi nền văn học Việt Nam mà của nhiều nền văn học khác. Riêng các quốc gia trong khu vực Đông Á, do điều kiện lịch sử, văn hóa tương đối giống nhau nên quá trình này diễn ra gần như đồng thời và có những đặc trưng phổ quát bên cạnh những đặc thù riêng. Đặc trưng dễ nhận thấy là thời trung đại, các quốc gia Đông Á đều chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa, tư tưởng, học thuật và văn học Trung Hoa. Đến thời kỳ cận hiện đại, trước sự ảnh hưởng và bành trướng mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, văn hóa phương Tây (có khi chủ động, có lúc bị áp đặt lệ thuộc), các cuốc gia đã tự tìm cho mình những con đường riêng để đổi mới trên nhiều phương diện, trong đó có văn học nghệ thuật. Quá trình đổi mới văn học theo xu thế chung là học tập Tây phương, nhưng đồng thời vẫn hướng về cái nôi truyền thống là nền văn học Trung Hoa. Quá trình ly tâm vừa hướng tâm làm cho các nền văn học của các quốc gia không bị Tây phương hóa và đứt gãy với truyền thống.

Vấn đề sự ảnh hưởng của tiểu thuyết truyền thống Trung Hoa đối với các nền văn học ở Châu Á đã được các học giả tổng kết trong công trình Literary Migrations : Traditional Chinese Fiction in Asia : 17-20 th centuries [5] do học giả Claudine Salmon biên soạn. Đây là kết quả học thuật quan trọng của chuyên ngành phiên dịch học lịch sử văn hóa và văn học so sánh, công bố những khảo sát đối chiếu thú vị về thể loại tiểu thuyết truyền thống (có tác giả gọi là tiểu thuyết thông tục) của Trung Hoa với các nền văn học ở Châu Á như Triều Tiên, Nhật Bản, Mông Cổ, Việt Nam, Thái Lan, Campuchia, Indonesia, Malaysia.

Một trong những tác phẩm được các nền văn học chịu ảnh hưởng nhiều nhất là Tam quốc chí. Trong quá trình hiện đại hóa văn học ở các nước ở Châu Á, phiên dịch thường đóng một vai trò quan trọng. Sự đổi mới văn học của các quốc gia Châu Á thông thường đi theo trình tự từ dịch thuật qua cải biên phóng tác rồi đến sáng tác thực thụ. Riêng đối với các nước khu vực văn hóa chữ Hán Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên tình hình dịch tiểu thuyết Trung Hoa diễn ra tương đối muộn. Là các nước sử dụng chữ Hán, do vậy việc tiếp xúc trực tiếp với các tác phẩm này trong thời kỳ trung đại khiến chưa xuất hiện nhu cầu phiên dịch. Chỉ khi có sự thay đổi hệ hình chữ viết nhu cầu phiên dịch mới trở nên bức thiết. Các quốc gia không sử dụng chữ Hán thì quá trình tiếp nhận thông qua hoạt động phiên dịch diễn ra khá sớm.

 

1. Từ làn sóng phiên dịch và xuất bản tiểu thuyết lịch sử Trung Hoa

Trước khi có các bản dịch chữ quốc ngữ la tinh, các nhà văn Việt Nam đã tiếp thu tiểu thuyết lịch sử Trung Hoa để viết các tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí và Nam triều công nghiệp diễn chí. Đầu thế kỷ XX, phong trào phiên dịch tiểu thuyết lịch sử Trung Hoa diễn ra rầm rộ và có ảnh hưởng đến sáng tác.

Khi bàn đến hoàn cảnh có thể đưa vai trò của hoạt động dịch thuật trong một nền văn hóa lên một vị trí cao, học giả Evan-Zohar cho rằng : “Một là nền văn học đang ở vào buổi sơ kỳ; hai là khi văn học nhận ra vị trí ngoại vi (hay yếu kém) của nó; ba là khi có những bước ngoặt hay khủng hoảng trong văn giới” [6]. Đời sống văn hóa, văn học Nam Kỳ đầu thế kỷ XX cũng hội đủ gần như trọn vẹn các yếu tố này.

Nam Kỳ là vùng đất mới, nền văn học nơi đây là một nền văn học trẻ, đang trong quá trình kiến tạo. Các điều kiện cho công việc tái cấu trúc lại nền văn học theo mô hình hiện đại xuất hiện khá sớm ở đây. Sự có mặt của người Pháp, đầu tiên là quân đội rồi tiếp đến là văn hóa của họ làm cho Nam Kỳ sớm tiếp xúc với văn hóa Phương tây trên một phạm vi và cấp độ rộng, sâu sắc. Trong đời sống xã hội bắt đầu diễn ra sự va chạm giữa những giá trị văn hóa truyền thống người Việt và văn hóa Pháp (văn hóa Tây phương). Một trong những rào cản văn hóa lớn ngăn cách người Pháp và văn hóa Việt chính là ngôn ngữ văn tự. Chữ Quốc ngữ la tinh đã được lựa chọn nhằm xóa bỏ sự ngăn cách này. Vì thế, từ địa vị là ngôn ngữ được sử dụng hạn hẹp trong việc chép sách đạo nơi nhà thờ giáo hội Thiên chúa, chữ Quốc ngữ đã bước vào đời sống thông tục thông qua những chính sách, chương trình có lợi cho người Pháp [7]. Từ đời sống thông tục chữ quốc ngữ bước vào địa hạt văn chương và học thuật thông qua các trí thức xuất thân từ trường học Pháp – Việt. Trong sự phát triển của đô thị theo kiểu tư bản ở Nam Kỳ, sự xuất hiện của tờ công báo Gia Định báo rồi hàng loạt các tờ báo khác xuất hiện (báo chí Nam Kỳ đầu thế kỷ XX thường có mục dành cho văn chương sáng tác và văn chương dịch thuật) cùng với sự ra đời của nhà in và sự phát triển của ngành xuất bản làm cho đời sống văn hóa đọc có nhiều thay đổi. Hệ thống trường học Pháp – Việt ra đời sớm. Kiến thức được giảng dạy chủ yếu qua tiếng Pháp và chữ Quốc ngữ la tinh đã góp phần tạo ra nhiều thế hệ người học tiếp xúc với văn minh Tây phương, do đó hình thành một lớp người có gu thẩm mỹ mới. Họ sẽ là những người cầm bút, độc giả của nền văn học đang trên đà hiện đại hóa. Nền văn học trẻ đang trong quá trình kiến tạo chưa thật sự hoàn bị, sáng tác chưa đồng đều, người cầm bút chắc chắn chưa đông đảo và chưa có nhiều kinh nghiệm trong sáng tác để đáp ứng nhu cầu của lớp người đọc mới. Điều đó sẽ tạo nên khoảng trống văn học đầu thế kỷ XX. Phiên dịch là một cách quan trọng trong nhiều phương thức để khỏa lấp khoảng trống đó.

Phiên dịch tiểu thuyết lịch sử được thực hiện trong phong trào dịch tiểu thuyết thông tục của Trung Hoa mà các nhà nghiên cứu thường gọi là tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc hay truyện Tàu. Về thư mục các tác phẩm loại này được dịch và xuất bản tại Nam Kỳ đã được các nhà nghiên cứu công bố trong thời gian vừa qua [8]. Tác phẩm dịch sớm nhất ở Nam Kỳ được ghi nhận là Tam Quốc chí với tên gọi Tam Quốc chí tục dịch đăng trên báo Nông cổ mín đàm ngay từ số đầu 1-8-1901, đến số 8 ngày 19-9-1901 bắt dầu in kèm tên dịch giả là Canavaggio [9]. Làn sóng phiên dịch bắt đầu diễn ra mạnh mẽ vào thập niên đầu tiên của thế kỷ XX, sau khi xuất hiện Tam Quốc chí tục dịch. Các danh tác tiểu thuyết lịch sử Trung Hoa hầu như đã được dịch trong những năm đầu của phong trào : Truyện Nhạc Phi (1905), Thủy Hử diễn nghĩa (1906), Phong Thần diễn nghĩa (1906), Đông Châu liệt quốc (1906), Phản Đường diễn nghĩa (1906), Tiết Đinh San chinh Tây (1907), Phong Thần diễn nghĩa (1907), Tam Quốc diễn nghĩa (1907), Ngũ hổ bình Nam (1907), Càn Long hạ Giang Nam (1908), Chung Vô Diệm (1909), Tây Hớn diễn nghĩa (1908), Thuyết Đường diễn nghiã (1908), Tiết Nhơn Quý chinh Đông (1910),… bước sang thập niên hai mươi và ba mươi của thế kỷ XX, các danh tác đều được tái bản nhiều lần hoặc được dịch lại bên cạnh nhiều tác phẩm mới ít nổi tiếng. Theo các bảng thư mục thì Tam Quốc diễn nghĩa có 3 bản dịch của Nguyễn Liêng Phong và Nguyễn An Cư (1907), Nguyễn An Cư (1912), Nguyễn Liêng Phong (1927), Đông Châu liệt quốc có bốn bản dịch của Nguyễn Chánh Sắt (1906), Nguyễn Công Kiều (1919), Trần Đình Nghị (1928), Đào Trinh Nhất (1929),… Trong phong trào dịch tiểu thuyết Trung Hoa ở Nam Kỳ rất ít thấy những cuốn tiểu thuyết tình cảm kiểu như Tuyết Hồng lệ sửHồng Lâu Mộng.

Vậy tại sao lại có nhiều dịch giả Nam Kỳ chọn tiểu thuyết Trung Hoa, trong khi có không ít những dịch giả dịch các tác phẩm từ những nền văn học Pháp? Tại sao dịch giả Nam Kỳ lại không chú trọng dịch các tiểu thuyết “ngôn tình nhu cảm” mà chỉ chú trọng đến loại truyền thống. Có lẽ cần xuất phát từ vấn đề thuộc về độc giả và dịch giả của bộ phận văn học này. Độc giả Nam Kỳ phần đông là người bình dân ít học nhưng ham hiểu biết. Sự ham hiểu biết, thích khám phá, tính cách trọng đạo nghĩa chắc chắn là có căn nguyên trong tâm thế của nhiều lưu dân mở đất buổi đầu. Chính điều kiện tự nhiên, đặc tính địa văn hóa đã hình thành nên thói quen sáng tác và thưởng thức văn nghệ về căn bản là nói và trình diễn [10] chứ không là phải viết, như nhận xét của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân. Tác phẩm thể hiện rõ đặc tính này là truyện thơLục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu. Lục Vân Tiên sẽ lấp lánh và độc đáo khi được thể hiện qua điệu nói, hình thành nên cả một thể loại là Nói thơ Vân Tiên trong đời sống văn hóa Nam Kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Trở lại với tiểu thuyết lịch sử Trung Hoa, là những tác phẩm được sáng tác dười thời Minh Thanh, phần lớn có nguồn gốc từ văn học dân gian, là những truyện kể dạng thoại bản, về sau các tác giả bác học mới chỉnh lý cốt truyện và sáng tạo thành các văn phẩm nghệ thuật. Tiểu thuyết lịch sử thường đề cao trung, hiếu, tiết, nghĩa, thế thiên hành đạo, khử bạo trừ gian, trung thần thắng nịnh nay gặp mảnh đất Nam Kỳ nó như được hồi sinh trở lại. Từ trong bản chất, tiểu thuyết lịch sử Trung Hoa rất hợp với môi trường diễn xướng, điều này không đi ngược lại với sở thích và thẩm mỹ của phần đông độc giả Nam Kỳ. Cần chú ý rằng, trước khi có phong trào dịch tiểu thuyết lịch sử Trung Hoa, các nhân vật trong các bộ tiểu thuyết trứ danh như Tam Quốc diễn nghĩa, Thủy HửTiết Nhơn Quý đã được tiếp nhận trong hình thức của tuồng tích sân khấu [11], trong thơ bác học [12] trước đó ở Nam Kỳ. Nay qua chữ quốc ngữ la tinh, nhiều bộ tiểu thuyết lịch sử Trung Hoa lại được thưởng thức lại trong một tinh thần mới, hoàn cảnh lịch sử văn hóa mới. Những người trẻ tuổi biết chữ quốc ngữ và còn chịu ảnh hưởng của Hán học thưởng thức và thường đọc lại cho người lớn tuổi nghe, cứ thế mà tạo ra một phong trào rộng lớn trong văn hóa đọc xứ Nam Kỳ.

Độc giả số đông là vậy, còn dịch giả thì sao. Chắc chắn một điều là trong xu thế văn chương gắn chặt với thị trường, dịch giả bị người đọc chi phối trong cách chọn lựa tác phẩm và văn phong thể hiện. Do vậy, để dịch sách người dịch phải hội đủ được các điều kiện tiên quyết là tinh thông Hán văn, giỏi Việt ngữ và nắm bắt nhanh nhạy thị hiếu người đọc. Dịch giả Nam Kỳ thường là trí thức nho học cầm bút viết văn, ký giả, những người làm công việc liên quan đến văn hóa. Chẳng hạn Nguyễn Chánh Sắt tự Tân Châu (1869-1947) lúc nhỏ học chữ Hán với Tú tài Trần Văn Thường sau đó học tiểu học pháp Việt ở Châu Đốc, làm báo, viết văn, dịch tiểu thuyết Trung Hoa; Lương Khắc Ninh tự Dũ Thúc (1862-1943), thuở nhỏ học chữ Hán, năm 14 tuổi bị cưỡng bức học trường Pháp-Việt; Trần Phong Sắc tự Đặng Huy là giáo viên dạy chữ Hán và Quốc ngữ ở trường tỉnh lỵ Tân An; Nguyễn An Khương tự Tân An là danh y, tinh thông nho học, Nguyễn An Cư… và rất nhiều dịch giả khác chúng ta chưa có điều kiện khảo sát hành trạng của họ.

Hơn một trăm năm, giờ đây lật lại những trang sách dịch từng một thời làm nức lòng độc giả Nam Kỳ, chúng ta không khỏi ngạc nhiên về những kỳ tích : số lượng tác phẩm dịch đồ sộ, số lượng ấn bản lớn, tái bản nhiều lần, cùng một tác phẩm nhưng xuất hiện nhiều bản dịch khác nhau, tạo được những ảnh hưởng to lớn trong đời sống xã hội và đặc biệt là gây nên phong trào sáng tác tiểu thuyềt lịch sử Việt Nam. Tìm hiểu quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam không thể không đề cập đến phong trào phiên dịch tiểu thuyết Trung Hoa. Nó không chỉ là đối tượng của chuyên ngành phiên dịch học lịch sử văn hóa và văn học so sánh mà còn là đối tượng của văn học sử. Còn có nhiều vấn đề đặt ra cho chúng ta chẳng hạn như vấn đề văn bản nguồn (tác giả, xuất xứ, năm in), vấn đề đối chiếu giữa bản nguồn và văn bản tiêu đích, đối chiếu các bản dịch quốc ngữ của cùng một tác phẩm, tìm hiểu quan niệm phiên dịch, cơ chế chuyển dịch thể loại, chưa nói đến việc cần thiết phải tìm hiểu kỹ bằng con đường nào nguyên tác du nhập vào Nam Kỳ nói riêng và Việt Nam nói chung.

 

2. Đến trào lưu sáng tác tiểu thuyết lịch sử ở Nam Kỳ đầu thế kỷ XX

Phong trào phiên dịch và xuất bản tiểu thuyết Trung Hoa trở nên ồ ạt vào thập niên thứ hai của thế kỷ XX đã làm cho các nhà văn Nam Kỳ phản ứng lại bằng cách sáng tác các cuốn tiểu thuyết lịch sử Việt Nam. Tiểu thuyết dịch Trung Hoa đã khuynh đảo thị trường văn chương chữ nghĩa trong giai đoạn đầu hiện đại hóa khi sáng tác chưa đáp ứng được nhu cầu độc giả. Bên cạnh những tác phẩm thuộc hàng danh tác không hiếm những cuốn có nội dung không lành mạnh, chứa nhiều điều mê tín dị đoan. Trước tình trạng nhiều người Việt thông thạo lịch sử Trung Hoa hơn lịch sử Việt, các nhà văn thấy nhất thiết phải hành động. Các nhà văn Nam Kỳ như Tân Dân Tử, Phạm Minh Kiên, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Chánh Sắt bắt đầu chú ý đến đề tài lịch sử với niềm tin tiểu thuyết lịch sử chính là một phương tiện hữu hiệu để phổ biến lịch sử nước nhà. Xu hướng tìm về với truyền thống dân tộc, ý thức dân tộc chủ nghĩa trỗi dậy [13] với khát khao muốn chứng minh rằng người Việt không hề thua kém người Trung Hoa đã khích lệ nhà văn sáng tác tiểu thuyết lịch sử. Điều này đã được các nhà văn nói đến nơi lời nói đầu của các bộ tiểu thuyết lịch sử của họ. Hồ Biểu Chánh, nhà văn chuyên viết tiểu thuyết phong tục đạo lý khi viết tiểu thuyết lịch sử đã trăn trở nơi lời tựa cuốn Năng gánh cang thường “Trung Hoa có sử rồi có truyện nữa. Việt Nam cũng có sử, há lại không có truyện hay sao?”. Phạm Minh Kiên trong lời tựa cuốn Việt Nam Lý trung hưng đã tự hào “Lý Thường Kiệt là một danh tướng nước ta trong đời Lý, khi đánh Chiêm Thành, khi chinh nam phạt bắc, chống vững sơn hà, dẹp loạn phù nguy, vun bồi tổ quốc. Cái công nghiệp của Lý Thường Kiệt có kém gì Địch Thanh đời Tống, Nhơn Quý đời Đường, Quan Công đời Hán bên Trung Quốc”. Hay ý thức chống lại sự đổ bộ ồ ạt của các tiểu thuyết mang nội dung mê tín dị đoan đã được Trương Duy Toản phát biểu nơi tác phẩm Phan yên ngoại sử xuất bản năm 1910, khi phong trào dịch thuật tiểu thuyết Trung Hoa đã lớn mạnh “Theo trí mọn của tôi nay phải bỏ những Lê Huê pháp thuật, Kim Đính thần thông, Khương Thượng phong thần, Thế Hùng tróc quỷ, Chung Ly lập trận, Bồ Tát cứu binh, Đại Thánh loạn thiên cung, Đăng Anh về tiên cảnh… mà sắp bày một chuyện chi mới, bây giờ mặc dầu miễn là cho lánh khỏi cái nẻo dị đoan và báo ứng phân minh thì đủ rồi”. Tân Dân Tử, cây bút chuyên về tiểu thuyết lịch sử cũng đã chỉ ra hiện trạng thông thuộc lịch sử Trung Hoa mà xa rời quốc sử “Thử hỏi : Trương Lương, Hàn Tín, Hạng Võ, Tiêu Hà thì sự tích làu thông; còn hỏi lại ai là anh hung hào kiệt trong nước ta thì ngẩn ngơ chẳng biết” (tựa Giọt máu chung tình). Phạm Minh Kiên cũng chia sẻ “Các đấng vĩ nhân tiền bối bị mai một là do mấy ông văn sĩ cựu học ơ hờ không để ý đến mà diễn dịch ra truyện sách cho người mình xưng tụng, để mua các thứ truyện Tàu về xem rồi xúm nhau khen ngợi; vì vậy bây giờ phần nhiều người mình hỏi đến các ông danh giá của Tàu thì làu thông mà hỏi qua các bậc vĩ nhân trong nước thì ngẩn ngơ không biết. Thật là một việc đáng buồn” (tựa Việt Nam Lý Trung hưng). Các nhà văn đã lên tiếng nhắc nhở ý thức và trách nhiệm của những người làm văn hóa (dịch giả) và số đông độc giả đối với lịch sử dân tộc, đồng thời chống lại các cuốn tiểu thuyết không có lợi cho đường tiến hóa của dân tộc.

Trào lưu sáng tác tiểu thuyết lịch sử ở Nam Kỳ hẳn không chỉ có một nguyên do chính từ sự phản ứng lại làn sóng phiên dịch tiểu thuyết Trung Hoa mà xuất phát từ nhu cầu bức thiết của đời sống. Chính ngọn gió duy tân (ở Nam Kỳ là phong trào Minh Tân) với chủ trương nâng cao dân trí và chấn dân khí, rồi không khí của các cuộc đấu tranh chính trị sôi động đã giúp những người cầm bút nói lên khát vọng của dân tộc, khát vọng tìm lại “hồn nước” từng được giới sĩ phu cất lên thống thiết đầu thế kỷ XX. Chưa bao giờ ý thức dân tộc, tinh thần dân tộc lại được nhắc nhiều như thế trong văn chương. Tái hiện quá khứ với cảm thức và cảm xúc của con người thời đại mới với mục đích cuối cùng là ấp ủ tinh thần yêu nước, khích lệ lòng tự hào dân tộc chi phối ngòi bút của các tác giả viết tiểu thuyết lịch sử.

Nếu làm một phép so sánh giữa tiểu thuyết lịch sử Trung Hoa được phiên dịch và những sáng tác của các nhà văn Nam Kỳ chúng ta sẽ nhận thấy một sự chênh lệch rất lớn. Trong lúc tiểu thuyết dịch là bức tranh đầy màu sắc với hàng trăm bộ thì tác phẩm sáng tác hết sức khiêm tốn (khoảng 14 bộ). Nhưng các sáng tác là thành quả của văn học Việt Nam trên quá trình cách tân hiện đại hóa. Nó thuộc về giai đoạn quan trọng của quy luật vận động từ phiên dịch, phóng tác đến sáng tác thực thụ. Những tác phẩm sẽ góp phần hoàn thiện bức tranh văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX : Việt Nam Lê Thái Tổ – 1929 của Nguyễn Chánh Sắt, Nam cực tinh huy – 1924, Nặng gánh cang thường , Chưởng hậu quân Võ Tánh – 1926 của Hồ Biểu Chánh, Tiểu anh hùng Võ Kiết – 1926 của Phú Đức, Giọt máu chung tình – 1925, Gia Long tẩu quốc – 1930, Gia Long phục quốc – 1932, Hoàng tử Cảnh như Tây – 1931 của Tân Dân Tử, Vì nước hoa rơi – 1926, Việt Nam anh kiệt – 1927, Việt Nam Lý trung hưng – 1929, Lê triều Lý thị – 1931, Tiền Lê vận mạt – 1932, Trần Hưng Đạo – 1933 của Phạm Minh Kiên. Các tác phẩm ra đời nhận được sự chào đón nồng nhiệt của độc giả chứng tỏ nhu cầu biết lịch sử dân tộc của một bộ phận không nhỏ nhân dân Nam Kỳ mà các nhà làm sử lúc đó chưa đáp ứng dược. Cùng một thời đoạn, tiểu thuyết lịch sử ở Bắc Kỳ cũng có nhiều thành tựu, có thể kể Chuyện Đức Thánh Trần của Nguyễn Nhật Quang, Ngọn cờ vàng của Đinh Gia Thuyết, Tiếng sấm đêm đông – 1928, Vua bà Triệu Ẩu – 1929, Hai bà đánh giặc – 1929, Việt Thanh chiến sử – 1929, Trần Nguyên chiến kỷ – 1932 của Nguyễn Tử Siêu (1887-1965). Nguyễn Tử Siêu là cây bút chuyên chú vào đề tài lịch sử giống Tân Dân Tử trong Nam.

Trong số tác giả viết tiểu thuyết lịch sử ở Nam Kỳ hồi đầu thề kỷ XX chỉ có Nguyễn Chánh Sắt (1869-1947) vừa là nhà văn vừa là dịch giả tiểu thuyết Trung Hoa, còn các nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử khác không tham gia phong trào dịch thuật. Khi phong trào dịch thuật trở nên ồ ạt, mất phương hướng, vào giữa thập niên hai mươi thì các nhà văn như Hồ Biểu Chánh (1885-1958), Phú Đức (1901-1970), Phạm Minh Kiên (?-?), Tân Dân Tử (1875-1955) mới quay sang viết tiểu thuyết lấy đề tài từ lịch sử Việt Nam. Việc phản ứng lại phong trào dịch thuật để rồi đi đến sáng tác, thực chất các nhà văn Nam Kỳ chỉ mới dừng lại ở mức nhận ra những tác động và hạn chế về mặt nội dung của tiểu thuyết dịch góp phần rất lớn làm cho độc giả Việt thông thuộc lịch sử Trung Hoa mà quên lịch sử nước nhà, chứ chưa có ý thức phủ định về mặt cấu trúc thể loại một cách triệt để. Nhà văn không có ý thức (hoặc chưa có khả năng) phá tung thể loại và tái cấu trúc nó cho phù hợp với hoàn cảnh mới mà sử dụng lại hình thức cũ : hình thức chương hồi. Tuy vậy, trong ý thức về thể loại, trên phương diện lý thuyết nhà văn đã bắt đầu chạm tới một số vấn đề cơ bản của lý luận tiểu thuyết hiện đại mà chắc chắn là có ảnh hưởng đến quá trình sáng tác của họ. Khi bàn về thể loại tiểu thuyết lịch sử, Tân Dân Tử đã đi từ sự phân biệt giữa lịch sử và lịch sử tiểu thuyết, nhấn mạnh tính chất “đời tư” của nhân vật, quyền năng hư cấu trên sự thật lịch sử của nhà văn “Lịch sử đại lược chỉ nói tóm tắt những sự lớn lao mà không nói cặn kẽ những sự mảy mún. Còn lịch sử tiểu thuyết thì nói đủ cả, vừa chuyện lớn lao vừa chuyện mảy mún, đều trạng ra như một cảnh vật tự nhiên hiển hiện trước mắt. Lịch sử đại lược có nói nhơn vật sơn xuyên, quốc gia hưng phế mà không tả trạng mạo ngữ ngôn, không tả tánh tình phong cảnh. Còn lịch sử tiểu thuyết thì tả đủ các nhơn vật sơn xuyên, tánh tình ngôn ngữ, tả tới hỉ, nộ, ái ố, trí não tinh thần, tả tới phong cảnh cỏ hoa, cửa nhà đài các, nhành chim lá gió, nhạc suối kèn ve, làm cho độc giả ngồi xem quyển sách, miệng đọc câu văn mà tưởng mình đã hóa thân đi du lịch một phong cảnh nào kia, xem thấy một nhơn vật nào đó, khiến cho kẻ đọc ấy dễ cảm xúc vào lòng, dễ cảm xúc vào trí” (tựa Gia Long tẩu quốc). Từ những nhận thức về thể loại, các nhà văn sáng tác nên những tác phẩm không dừng ở mức độ “giảng sử” mà tiến lên một trình độ nghệ thuật hư cấu tương đối cao.

Giọt máu chung tình của Tân Dân Tử xuất bản năm 1925, cùng thời điểm với cuốn Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách ở đất Bắc, là cuốn tiểu thuyết lịch sử lãng mạn miêu tả tình yêu của đôi trai tài gái sắc Võ Đông Sơ và Bạch Thu Hà. Cuốn tiểu thuyết thiên về hướng “dã sử”, lịch sử chỉ là “cái đinh để nhà văn treo bức bích họa”. Sau những thành công vang dội của Giọt máu chung tình, Tân Dân Tử viết tiếp bộ ba tác phẩm về vua Gia Long như Gia Long tẩu quốcGia Long phục quốcHoàng tử Cảnh như Tây. Tính cho đến hôm nay, Tân Dân Tử là tác giả viết tiểu thuyết lịch sử về vua Gia Long với số trang đồ sộ và trọn vẹn nhất. Bộ ba tác phẩm liên hoàn tái dựng lại cuộc đời bôn tẩu của vua Gia Long để khôi phục lại vương triều Nguyễn. Đó là cuộc giằng co giữa hai lực lượng Tây Sơn (ba anh em Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ) với lực lượng Nguyễn Ánh trên một không gian rộng lớn và thời gian tương đối dài, với một thế giới nhân vật đông đảo. Có nhân vật có thật trong lịch sử, đồng thời cũng có những nhân vật do nhà văn hư cấu, tô đặt. Không gian rộng lớn từ thành Thăng Long cho đến đảo Phú Quốc rồi qua các nước Cao Miên, Xiêm La. Thời gian kéo dài gần một phần ba thế kỷ. Trong bối cảnh lịch sử Việt Nam thời thuộc Pháp, Gia Long là một hình ảnh gây rất nhiều xúc động cho công chúng Nam Kỳ.

Theo đuổi đề tài lịch sử, Phạm Minh Kiên cũng đã sáng tác những tác phẩm đặc sắc. Việt Nam Lý trung hưng tập trung ca ngợi người anh hung Lý Thường Kiệt. Lê Triều Lý thị và Tiền Lê vận mạt viết về sự tích vị vua mở đầu vương triều Lý là Lý Công Uẩn từ thuở ấu thời cho đến lúc ngài lên ngôi trị vì đất nước. Trần Hưng Đạo lại lấy cảm hứng từ cuộc kháng chiến của nhân dân đời Trần chống lại quân Nguyên Mông với hình tượng chính và là linh hồn của cuộc kháng chiến là Trần Hưng Đạo. Nếu như Tân Dân Tử chuyên chú vào giai đoạn lịch sử gắn liền với nhà Nguyễn thời cận đại thì Phạm Minh Kiên lại chuyên chú vào giai đoạn trước đó.

Cuốn Việt Nam Lê Thái Tổ của Nguyễn Chánh Sắt kể lại công cuộc dựng nghiệp của người anh hung Lê Lợi từ khi dấy binh ở Lam Sơn cho đến khi đánh lui giặc Minh.

Trong tâm thế chống lại sự bành trướng của tiểu thuyết Trung Hoa, các nhà văn Nam Kỳ chủ yếu là chống lại nội dung tác phẩm và sự ảnh hưởng nội dung đối với độc giả chứ không chống về mặt hình thức thể loại. Do đó, trong sáng tác họ chủ yếu xây dựng nội dung thuần túy là sự kiện và con người lịch sử Việt Nam, chứ về mặt hình thức thể loại thì tiếp thu một cách tự nhiên. Hình thức chương hồi phân đoạn là đặc trưng nổi bật của tiểu thuyết lịch sử Trung Hoa được các nhà văn Nam Kỳ mượn lại. Hay các thủ pháp nghệ thuật khác như cách xây dựng đường dây phát triển của câu chuyện và tuyến sự kiện theo thời gian tuyến tính, cách miêu tả nhân vật thông qua giới thiệu ngoại hình, hành động, ngôn ngữ theo lối biền ngẫu và kết thúc thường có hậu. Việc nhà văn sử dụng lại hình thức nghệ thuật của tiểu thuyết lịch sử Trung Hoa sẽ có những ưu thế nhất định. Trong lúc độc giả đang say mê tiểu thuyết Trung Hoa thì sử dụng lại thủ pháp nghệ thuật của nó là hợp lý, phù hợp với tầm đón đợi của độc giả, nhà văn cũng có kinh nghiệm thể loại.

Nói như vậy không có nghĩa là nhà văn Nam Kỳ rập khuôn một cách máy móc hình thức tiểu thuyết lịch sử Trung Hoa mà đã có những tìm tòi cách tân. Trong nhiều bộ tiểu thuyết, nhân vật lịch sử đã trút được chiếc áo phi thường và khoác vào chiếc áo đời tư, nhân vật đã biết đến những dòng hồi ức, suy tư, trăn trở. Nhiều nhân vật không có thật trong lịch sử được nhà văn hư cấu tạo nên tính chất đời thường cho câu chuyện. Nhiều cuốn tiểu thuyết hướng đến kết thúc không có hậu.

Phong trào phiên dịch tiểu thuyết lịch sử Trung Hoa đã có tác động lớn đối với quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX. Chính hoạt động phiên dịch đã có tác động đến hoạt động sáng tác của các nhà văn ở Nam Kỳ. Ngày nay, trước sự lấn át của phim truyền hình lịch sử Trung Quốc, những nhà làm phim của chúng ta sẽ làm gì? Sự lựa chọn của nhiều nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử ở Nam Kỳ nhằm phản ứng lại trào lưu phiên dịch tiểu thuyết lịch sử Trung Hoa vẫn còn có giá trị thời sự và là bài học cho quá trình hiện đại hóa văn học và hiện đại hóa đất nước hôm nay.

 Nguồn : khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/

Chú thích:

[1] Nhà nghiên cứu Nguyễn Nam trong Phiên dịch học lịch sử-văn hóa trường hợp Truyền kỳ mạn lục, NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2002, tr.37, cho rằng “nếu mở rộng phạm vi khảo sát, có thể thấy được một lượng đáng kể tác phẩm văn xuôi Công giáo viết bằng chữ Nôm. Chỉ riêng ba bộ truyện các thánh do J. Maiorica (1672 trang, soạn năm 1646), Marti Gia Op (12 quyển, 1848), và J.M. Bigollet Kính Mep (1905-1906), đã thấy văn phong dịch thật đa dạng, chải chốt về văn thể cũng như tiếng dùng”. Điều này cũng đã được chứng minh trong tài liệu Sơ thảo thư mục Hán Nôm Công giáo Việt Nam(lưu hành nội bộ) (2000) của Linh mục Nguyễn Hưng.

[2] Những ý kiến thú vị về vấn đề này đã được học giả Anh, Susan Bassnett trình bày trong bài viết Dịch thể loại, bản dịch Việt ngữ do Lê Nguyên Long và Phạm Quốc Lộc dịch, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, Hà Nội, số 12-2009. Theo tác giả, thông qua dịch thuật, thể loại văn học được hồi sinh nơi một nền văn học mới. Qua đó cũng cho chúng ta nhiều gợi mở về vấn đề chuyển dịch thể loại nơi nền văn học Việt Nam trong quá trình hiện đại hóa, trong xu thế tách khỏi mô hình văn học Đông Á và hội nhập vào văn học hiện đại thế giới.

[3] Phiên dịch tiểu thuyết truyền thống Trung Hoa (chủ yếu là tiểu thuyết Minh – Thanh) đầu thế kỷ ở Việt Nam nói chung và địa bàn Nam Kỳ nói riêng có nhiều thể loại : tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết võ hiệp, truyền kỳ, chí quái, tiểu thuyết tình cảm… tiểu luận của chúng tôi chỉ khảo sát riêng về tiểu thuyết lịch sử. Chúng tôi quan niệm tiểu thuyết lịch sử  là những tác phẩm lấy bối cảnh, nhân vật lịch sử để làm cơ sở sáng tác.

[4] Chẳng hạn : Thúc Ngọc Trần Văn Giáp : Lược khảo tiểu thuyết Tàu, báo Thanh Nghị, số 11 (4-1942); Bằng Giang :Truyện Tàu, nước muội và song gầm?, trong sách Văn học Quốc ngữ ở Nam Kỳ 1865-1930, NXB Trẻ TP. Hồ Chí Minh, 1992. Nguyễn Nam : Phiên dịch học lịch sử-văn hóa trường hợp Truyền kỳ mạn lục, NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2002, tr.16; Claudine Salmon (biên soạn) : Tiểu thuyết truyền thống Trung Quốc ở Châu Á (từ thế kỷ XVII-thế kỷ XX), (Trần Hải Yến dịch), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2004, Trần Ích Nguyên : Nghiên cứu tiểu thuyết Hán văn Trung-Việt, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2009; GS. Trần Văn Giàu, Trần bạch Đằng (chủ biên) : Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, tập II, NXB TP. Hồ Chí Minh, 1998; Nguyễn Văn Hiệu : Ý thức văn hóa trong dịch thuật văn chương ở Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến 1945, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, Hà Nội, số 1-2007…

[5] Bản dịch tiếng Việt : Tiểu thuyết truyền thống Trung Quốc ở Châu Á (từ thế kỷ XVII-thế kỷ XX), (Trần Hải Yến dịch), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2004.

[6] Itamar Evan-Zohar, “The Position of Translated Literature within the Literary Polysystem”, Papers in Historical Poetics, Tel Aviv, 1978. Chuyển dẫn theo Nguyễn Nam : tlđd, tr.16. Susan Bassnett trong tlđd cũng tán đồng ý kiến này.

[7] Nhiều nhà nghiên cứu đã chứng minh việc người Pháp cho phổ biến chữ Quốc ngữ la tinh là nhằm cắt đứt người Việt với văn hóa truyền thống và sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước đầu thế kỷ XX. Hay việc khuyến khích sử dụng chữ Quốc ngữ của các nhà học giả như Trương Vĩnh Ký, Huình Tịnh Của… là nằm trong chương trình, quỹ đạo xâm lăng về mặt văn hóa của thực dân Pháp. (Xin xem nơi Nguyễn Văn Trung : Chữ, văn quốc ngữ thời kỳ đầu Pháp thuộc, Nam Sơn xuất bản, Sài Gòn, 1974; Phạm Long Điền : Trương Vĩnh Ký trong quỹ đạo xâm lăng văn hoá của thực dân Pháp, Tạp chí Bách Khoa, Sài Gòn, số 417, tr. 45-53 và số 418, tr.32-41; Phạm Long Điền : Những bí ẩn chánh trị chung quanh việc ấn hành bộ Đại Nam Quấc âm tự vị, Tạp chí Bách Khoa, số 423, tr. 23-28;…

[8] Nhan Bảo : Ảnh hưởng của tiểu thuyết Trung Quốc đối với văn học Việt Nam, trong Tiểu thuyết truyền thống Trung Quốc ở Châu Á (từ thế kỷ XVII-thế kỷ XX), Claudine Salmon biên soạn, sđd; Bằng Giang : Thư mục văn học (Sài Gòn và Nam Bộ từ 1866 đến 1930), mục Truyện Tàu, trong sách Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, tập II, sđd.

[9] Vấn đề dịch giả Tam Quốc chí tục dịch đã có nhiều người nghi không phải do Canavaggio. Gần đây trong bài viết Sự xuất hiện của Tam Quốc chí tục dịch và vấn đề dịch giả, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, Hà Nội, số 9-2009, NNC Lưu Hồng Sơn xác định Nguyễn Chánh Sắt (1869-1947) là người đầu tiên dịch Tam Quốc diễn nghĩa và bản dịch hòan chỉnh dưới nhan đề Tam Quốc chí tục dịch đăng dài kỳ trên Nông cổ mín đàm là công lao của Nguyễn Chánh Sắt và Nguyễn An Khương. Theo Bằng Giang, sđd, thì Canavaggio vẫn có thể là dịch giả đích thực vì ông đã sống ở Nam Kỳ hơn 20 năm nên nếu có dịch cũng chẳng phải là một chuyện phi thường khó tin.

[10] Nguyễn Văn Xuân : Khi những lưu dân trở lại, in trong Tuyển tập Nguyễn Văn Xuân, NXB Đà Nẵng, 2002, tr.543.

[11] Đầu thế kỷ XX, văn bản các vở tuồng này đã được một số học giả sưu tầm và xuất bản có thể kể Tuồng Tam Quốc(Đặng Lễ Nghi, 1913), Tam Quốc tuồng (Bồng Dinh & Mẫn Thiệo, 1913), Tuồng Tiết Đinh San (Trần Phong Sắc, 1918),Tuồng Tiết Nơn Quý quy tiên (Trần Phong Sắc, 1917), Hạng Võ biệt Ngu Cơ (Trần Phong Sắc, 1917), Quan Công thất thủ Hạ Bì (Trần Phong Sắc, 1929)… Có lẽ đã đến lúc cần thiết có một sự khảo sát nghiêm túc về bộ môn này ở Nam Kỳ đầu thế kỷ XX.

[12] Chẳnh hạn các bài thơ Từ Thứ quy TàoTôn phu nhân quy Hán của Tôn Thọ Tường.

[13] Không chỉ với Việt Nam mà nhiều quốc gia khác ở Đông Á cũng vậy.

Hits: 19

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *