Tiểu dẫn:

Thomas Hobbes (1588- 1679) là nhà triết học người Anh nổi tiếng với các tác phẩm về triết học chính trị. Cuốn sách Thủy quái (Leviathan) viết năm 1652 của ông được xem là đã thiết lập nền tảng cho nền triết học chính trị phương Tây theo quan điểm lý thuyết về khế ước xã hội. Hobbes là người ủng hộ chính thể chuyên chế nhưng ông cũng phát triển các nguyên tắc cơ bản của tư tưởng tự do châu Âu: quyền được bầu cử của cá nhân, quyền bình đẳng tự nhiên của tất cả mọi người, tính nhân tạo của địa vị chính trị (điều dẫn đến sự khác nhau giữa xã hội và nhà nước), quan điểm tất cả quyền lực chính trị hợp pháp phải mang tính “đại diện” và dựa trên sự đồng thuận của nhân dân, sự diễn giải luật cho phép mọi người được làm bất kỳ điều gì mà pháp luật không cấm…

*

Tóm tắt tư tưởng về nhân quyền trong Leviathan (Thủy quái), 1652

 

Quyền tự nhiên là gì?

Quyền tự nhiên mà các tác giả vẫn thường gọi là jus naturale là sự tự do để mỗi con người dùng sức mạnh của bản thân, một cách tự nhiên, để bảo vệ bản chất tự nhiên của anh ta – nghĩa là của cuộc sống của anh ta – và do đó sẽ làm bất cứ việc gì mà lý trí và sự suy xét của bản thân anh ta cho là phương tiện hợp lý nhất để thực hiện điều đó.

 

Tự do là gì?

Tự do được hiểu là, theo định nghĩa chính xác của từ này, sự vắng mặt của những trở ngại bên ngoài; những trở ngại đó thường tước đi một phần sức mạnh của con người để làm điều ta muốn làm, nhưng không thể ngăn cản ta sử dụng sức mạnh còn lại của mình theo sự sai khiến của lý trí và sự suy xét của chính bản thân mình.

 

Luật tự nhiên là gì?

Luật tự nhiên (lex naturalis), là một quan niệm hay nguyên tắc chung đưa ra bởi lý lẽ, mà qua đó người ta bị cấm làm những việc có thể hủy hoại cuộc sống của mình hay lấy đi phương tiện duy trì cuộc sống, và vì thế cần phải loại bỏ những hành vi đó để bảo vệ cuộc sống một cách tốt nhất. Trong chủ đề này người ta thường nhầm lẫn giữa jus và lex hay quyền và luật, vì vậy cần phải phân biệt rõ hai khái niệm này, bởi vì QUYỀN bao gồm việc tự do để hành động hay không hành động, còn LUẬT xác định và ràng buộc một trong số (các quyền tự do) đó; nên Quyền và Luật khác nhau cũng như nghĩa vụ khác với tự do, không thể coi là nhất quán trong một vấn đề.

Một cách tự nhiên, mỗi con người đều có quyền với mọi thứ trên đời. Và bởi vì hoàn cảnh của con người là hoàn cảnh đấu tranh giữa người này chống lại người kia – trong đó mỗi người đều có lý lẽ riêng của mình và không có điều gì anh ta không thể lợi dụng để bảo vệ mạng sống của mình trước kẻ thù – theo lập luận này, trong hoàn cảnh đó mỗi người có quyền với mọi thứ, thậm chí là với cả thân xác của kẻ thù. Do đó, chừng nào mà cái quyền tự nhiên của mỗi người với mọi thứ còn đó thì không thể có sự an toàn nào cho con người dù cho anh ta có thông minh, khỏe mạnh tới đâu đi nữa để mà tồn tại trong môi trường mà lẽ tự nhiên cho phép anh ta được sống. Vì vậy, một nguyên tắc chung là mỗi người phải nỗ lực vì hòa bình chừng nào anh ta còn hy vọng có hòa bình, và khi không thể đạt được hòa bình anh ta có thể tìm kiếm và sử dụng mọi sự hỗ trợ hay lợi thế của chiến tranh. Nhánh đầu tiên của nguyên tắc này bao hàm quy luật đầu tiên và cơ bản của luật tự nhiên, là kiếm tìm hòa bình và theo hướng hòa bình. Nhánh thứ hai tóm tắt lại quyền tự nhiên là bằng mọi phương tiện chúng ta có thể để tự vệ.

Quy luật cơ bản này của tự nhiên đòi hỏi con người nỗ lực vì hòa bình, từ đó bắt nguồn luật thứ hai: rằng một người sẵn sàng, khi những người khác cũng vậy, cũng như vì hòa bình và tự vệ nếu anh thấy cần thiết, từ bỏ quyền này với mọi vật, và toại nguyện với mức độ tự do mà anh ta có thể có để chống lại người khác cũng bằng với (tự do mà) những người khác có thể có để chống lại anh ta. Chừng nào mỗi người còn giữ quyền làm bất kỳ việc gì anh ta thích thì tất cả những người khác trong hoàn cảnh chiến tranh cũng vậy. Nhưng nếu những người khác cũng không chịu từ bỏ quyền này, hệt như bản thân anh ta không chịu từ bỏ quyền của mình, thì không có lý do gì để bất cứ ai có thể tước đoạt quyền này của nhau, bởi nó khiến con người phải phơi mình ra trước kẻ thù, điều mà không ai muốn, hơn là được sắp đặt theo hướng hòa bình. Đây là luật của thần thánh: bất cứ điều gì anh đòi hỏi người khác sẽ mang lại cho anh, anh hãy làm điều đó cho họ. Và đây là luật của mọi người, rằng quod tibi fiery non vis, alteri ne feceris (điều anh sẽ không làm với chính bản thân mình thì cũng đừng bao giờ làm đối với người khác).

Từ bỏ quyền của một con người đối với thứ gì đó là từ bỏ tự do của anh ta để ngăn trở một người khác hưởng lợi từ quyền của người ấy đối với thứ đó. Người từ bỏ quyền của mình không phải là trao quyền đó cho người khác trước đó chưa có quyền – vì một cách tự nhiên tất cả con người ta có quyền với mọi điều – mà chỉ là anh ta đứng sang một bên, rằng anh ta có thể hưởng quyền của mình mà không có sự ngăn trở của chính mình chứ không phải là sự ngăn trở từ phía những người khác. Vì vậy, hậu quả của việc một người từ bỏ quyền của mình với người khác chỉ là sự thu hẹp những trở ngại để người thứ hai này được hưởng quyền của chính mình. Quyền bị đặt sang bên bằng cách đơn giản là hoặc từ bỏ quyền, hoặc chuyển nhượng quyền. Khi đơn thuần TỪ BỎ, một người không quan tâm đến việc ai là người hưởng lợi từ kết quả việc anh ta từ bỏ quyền của mình. Khi CHUYỂN NHƯỢNG, anh ta có chủ ý khiến cho một hoặc một số người nhất định nào đó sẽ được hưởng lợi. Và khi một người dù từ bỏ hay chuyển nhượng quyền, anh ta được cho là có NGHĨA VỤ hoặc CAM ĐOAN sẽ không ngăn cản những người được chuyển nhượng hưởng quyền đó; và rằng anh ta phải, và đó cũng là TRÁCH NHIỆM, không được làm cho hành vi mang tính tự nguyện đó mất đi hiệu lực, và sự ngăn trở nếu có thì sẽ là BẤT CÔNG và VI PHẠM QUYỀN LỢI, trừ phi quyền đó trước khi từ bỏ hoặc chuyển giao là không có cơ sở pháp lý (sine jure). Sự bất công và vi phạm quyền lợi trong những tranh cãi trên thế giới này cũng như điều mà các học giả gọi là xuẩn ngốc.

Nếu việc một người tự mâu thuẫn với những gì anh ta vẫn đi theo từ đầu được coi là xuẩn ngốc thì bất công và vi phạm quyền lợi chính là việc một người đi làm ngược lại những gì người đó đã tự nguyện thực hiện lúc ban đầu. Khi một người tuyên bố từ bỏ hoặc chuyển nhượng quyền của mình, anh ta cũng nên chấp nhận điều đó một cách tự nguyện. Sự tự nguyện từ bỏ hoặc chuyển nhượng quyền ấy có thể được biểu hiện bằng lời nói hay hành động, hoặc trong nhiều trường hợp là cả lời nói và hành động. Đó cũng chính là những cam kết mà con người phải chịu ràng buộc và có nghĩa vụ tuân theo – những khế ước có sức ràng buộc mạnh mẽ không phải vì bản chất của nó (vì không gì dễ phá vỡ bằng lời nói con người), mà bởi nỗi sợ những hậu quả xấu sẽ đến do phá vỡ những cam kết đó.

 

Không phải tất cả các quyền đều có thể chuyển nhượng được.

Một người chuyển nhượng hay từ bỏ quyền của mình để cân nhắc được nhận lại những quyền khác cho bản thân hoặc hy vọng có thể đánh đổi được những điều tốt đẹp nào đó. Vì đây là hành động tự nguyện và, cũng như mọi hành động tự nguyện của con người, mục đích của nó là tốt cho chính bản thân mình.

Và vì thế có những quyền mà không một lời nói hay cử chỉ nào có thể làm người khác hiểu được là có thể chuyển nhượng hay từ bỏ. Đó là, trước hết, một người không thể từ bỏ hay chuyển nhượng quyền tự vệ trước những người khác dùng vũ lực xâm phạm đến tính mạng bản thân, vì không ai có thể hiểu được anh ta làm thế thì có gì là tốt cho chính bản thân mình. Tương tự với quyền tự vệ trước sự xâm phạm khiến bản thân bị thương, xiềng xích và tù đày, vì sự kiên nhẫn chịu đựng việc bị thương hay bị giam cầm trong những trường hợp này chẳng đem lại điều gì có lợi, và cũng bởi vì một người không thể biết trước nếu anh ta bị tấn công bằng bạo lực thì liệu những người tấn công đó có lấy đi tính mạng anh ta hay không. Và cuối cùng, động cơ và mục đích của việc chuyển nhượng hay từ bỏ quyền cũng không gì khác ngoài nhằm đảm bảo sự an toàn của bản thân và cũng là cách thức để (anh ta) không phải lo lắng bảo toàn nó. Và vì thế nếu một người, bằng ngôn ngữ hay hành động có vẻ như tước đoạt của chính bản thân mình mục đích ban đầu anh ta hướng đến, thì không thể cho rằng anh ta có chủ ý đó hay đó là mong muốn của anh ta, mà chỉ có thể là anh ta không ý thức được những ngôn từ và hành động đó có thể được diễn giải thành như vậy.

 

Khế ước là gì?

Sự chuyển giao quyền cho nhau được người ta gọi là KHẾ ƯỚC.

Có sự khác biệt giữa chuyển giao quyền đối với một vật/việc và sự chuyển giao vật/việc đó (giao hàng). Vật/việc đó có thể được chuyển giao cùng với việc diễn dịch quyền, như là mua bán bằng tiền trao tay hoặc đổi hàng hay đất đai, hoặc cũng có thể được chuyển giao sau đó.

 

Hiệp ước

Một trong số những người ký vào một khế ước có thể thực hiện phần việc cam kết của mình theo khế ước và để những người khác cùng tham gia khế ước thực hiện phần cam kết của họ vào thời điểm theo cam kết, đồng thời được tin cậy, khế ước về phần cam kết đó của anh ta gọi là HIỆP ƯỚC hay CÔNG ƯỚC; hoặc cả hai bên có thể cam kết trước và thực hiện sau, trong trường hợp đó một bên sẽ phải thực hiện điều cam kết sau khi ký kết và, được tin cậy là anh ta sẽ hành xử giữ đúng lời hứa hay sự tin cậy, trong trường hợp lời hứa đó phai nhạt một cách tự nguyện thì được gọi là xâm phạm lòng tin…

 

Ký kết một khế ước có nghĩa cho cả quá khứ, hiện tại và tương lai

Trong các khế ước, quyền không chỉ thay đổi so với hiện tại hay quá khứ mà còn cho cả tương lai, vì các khế ước chính là một thỏa thuận từ hai phía về việc diễn giải hoặc thay đổi quyền, và vì thế các bên chỉ tham gia cam kết khi anh ta đã có lợi từ điều mà anh ta được hiểu là đã cam kết khi ký kết về quyền trong hợp đồng, trừ phi anh ta đã toại nguyện với cách anh ta được hiểu như vậy, những bên khác sẽ không thực hiện phần cam kết của mình. Và vì thế, khi mua bán cũng như trong các hành vi khác theo khế ước, một cam kết cũng tương đương với một hiệp ước và vì vậy mang tính bắt buộc…

 

Xóa bỏ hiệp ước

Người ta có thể thoát khỏi những ràng buộc của những hiệp ước đã ký kết theo hai cách: thực hiện hay bỏ qua. Việc thực hiện (những cam kết theo hiệp ước) chính là cái đích tự nhiên của nghĩa vụ đã ràng buộc, còn sự bỏ qua là việc quay về với tự do không ràng buộc hay chuyển nhượng lại những quyền mà theo đó có sự ràng buộc về trách nhiệm.

 

Những hiệp ước ký kết do sợ hãi cũng có giá trị.
Hiệp ước đã ký với người thứ nhất làm cho hiệp ước với người sau vô giá trị.

Những hiệp ước ký kết do sợ hãi trong hoàn cảnh hoàn toàn tự nhiên cũng có giá trị. Ví dụ, nếu tôi cam kết trả cho kẻ thù một khoản tiền hoặc làm việc để đánh đổi tính mạng, tôi có bị ràng buộc bởi nghĩa vụ đó vì đây là một thỏa thuận trong đó một bên giữ lại được mạng sống còn bên kia được tiền hoặc được làm cho một việc nào đó; và theo đó nếu không có luật nào khác hoặc hoàn cảnh tự nhiên nào ngáng trở thì cam kết này là có giá trị. Vì thế, tù binh, nếu đã được ủy thác một khoản tiền chuộc thì phải có nghĩa vụ trả khoản tiền chuộc đó; và nếu trong chiến tranh, một bên yếu thế hơn, vì sợ hãi mà đưa ra một thỏa thuận hòa bình mà bên đó phải chịu thiệt thì bên đó vẫn có nghĩa vụ thực hiện, trừ phi nảy sinh ra những tình huống mới làm thay đổi tình trạng chiến tranh. Và ngay cả giữa đời sống bình thường, nếu tôi bị ép phải hứa trả tiền chuộc tính mạng mình cho tên cướp thì tôi vẫn phải có trách nhiệm trả nó trước luật dân sự. Bất kỳ điều gì tôi làm hàng ngày đúng luật, tôi cũng sẽ có trách nhiệm thực hiện; tương tự đối với những điều tôi cam kết thực hiện theo đúng luật do sợ hãi, và những gì tôi cam kết thực hiện theo đúng luật thì theo luật tôi không thể phá vỡ. Một cam kết đã có trước sẽ có giá trị đối với cam kết sau đó. Và một người hôm nay đã trao quyền của anh ta cho một người thì ngày mai không thể trao quyền đó cho người khác, và vì thế người thứ ba đó cũng không thể được nhận quyền gì.

 

Cam kết của một người không bảo vệ anh ta thì không có giá trị

Một cam kết không bảo vệ bản thân khỏi vũ lực thì không có giá trị. Vì, như đã nói trên, không ai có thể chuyển nhượng hay từ bỏ quyền tự cứu mình thoát chết, hay bị thương, hay tù tội, do đó việc chối bỏ những quyền đó là vô nghĩa và trong mọi trường hợp đều không có hiệu lực, cũng như lời hứa không kháng cự cũng không có nghĩa là một cam kết chuyển nhượng hay từ bỏ bất kỳ một quyền nào, và không ràng buộc. Vì vậy một người có thể hứa rằng: nếu tôi không làm như thế thì anh cứ giết tôi mà không thể nói rằng: nếu tôi không làm như thế hay như thế, tôi sẽ không chống cự lại khi anh muốn giết tôi. Vì bản chất của con người là thường chọn những điều ít xấu hơn (là mối nguy hại tới tính mạng) trong khi kháng cự, hơn là nói tới những điều xấu hơn nhiều tức là cái chết chắc mà không kháng cự. Điều này được coi là đúng đối với bất kỳ ai, cho nên người ta vẫn phải dùng vũ trang để xử tù và xử tử những kẻ có tội, cho dù kẻ phạm tội đã chấp nhận hình phạt của luật pháp.

 

Không ai bị ép phải buộc tội chính bản thân mình

Tương tự, một cam kết có lời buộc tội bản thân mà không có cơ hội miễn thứ cũng không có giá trị. Trong hoàn cảnh tự nhiên khi mà tất cả mọi người đều có thể là người phán xét thì sẽ không có sự buộc tội nào ở đây, và trong xã hội có trật tự thì đi kèm theo lời buộc tội sẽ là hình phạt mà một người có sức mạnh không bị ràng buộc là sẽ không kháng cự. Điều này cũng đúng với lời buộc tội của những người chẳng hạn như là cha, vợ hoặc ân nhân… mà có thể đẩy một con người vào sự khốn khổ. Đối với chứng thực của những người buộc tội đó, nếu không được tự nguyện ghi nhận thì sẽ được coi là bị mua chuộc do bản chất, và khi đó sẽ không được chấp nhận. Và khi một lời chứng thực của ai đó không được ghi nhận thì anh ta cũng không bị ép buộc phải đưa ra lời chứng thực đó. Những lời buộc tội do tra tấn cũng không được coi là những lời chứng thực. Khi tra tấn được sử dụng như là công cụ để phỏng đoán hoặc xác minh trong các cuộc thẩm vấn sâu hơn và truy tìm sự thật và những gì thú nhận trong trường hợp đó nhằm
giảm bớt sự tra tấn chứ không phải để cung cấp thông tin cho người tra tấn và vì vậy không thể đủ cơ sở để làm lời chứng thích hợp, căn cứ để làm lời chứng thực, vì cho dù anh ta đưa ra lời chứng đúng hay sai thì anh ta cũng làm thế bằng quyền bảo vệ mạng sống của chính mình…

Nguồn: “Tư tưởng về quyền con người” – Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011

Hits: 31

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *