Unions Network: Năm 1947, sau quá trình nghiên cứu kéo dài 4 năm, Ủy ban Tự do Báo chí Mỹ đã công bố bản báo cáo mang tên “Một nền Báo chí Tự do & Có Trách nhiệm”. Báo cáo khẳng định rằng vào thời điểm đó, quyền lực báo chí ở Mỹ đang tập trung trong tay một vài công ty, trong khi báo chí ngày càng có khả năng chi phối xã hội. Nhờ thế độc quyền, các công ty lớn đã kiểm soát dư luận vì lợi ích cá nhân; đồng thời lạm dụng các tin tức giật gân, sai sự thật để kiếm tiền. Khi phân tích những vấn đề vừa nêu, để tìm hướng xây dựng một nền báo chí tự do, công bằng và có trách nhiệm hơn, bản báo cáo đã góp phần khai sinh các chuẩn mực của nền báo chí phương Tây hiện đại.

Do nền báo chí Việt Nam đang gặp những vấn đề gần giống báo chí Mỹ cách đây 70 năm, chúng tôi xin dịch bản báo cáo và đăng thành từng phần, để làm tài liệu tham khảo cho những bạn quan tâm. Xin click vào ĐÂY để đọc những chương đã dịch, hoặc click vào ĐÂY để truy cập qua mục lục.

Để hỗ tham gia hoặc hỗ trợ tài chính cho các dự án dịch của Mạng lưới Nghiệp đoàn, xin liên hệ với chúng tôi qua hộp thư unionsnetwork@gmail.com hoặc fanpage.

*

Chương 3: Cuộc cách mạng truyền thông

Công cụ

Những công cụ mới mà công nghệ tạo ra cho báo chí đã làm gia tăng đáng kể về tầm phủ sóng, mức độ đa dạng và tốc độ của truyền thông đại chúng. Chúng cũng đóng góp vào tăng trưởng của các tập đoàn kinh doanh lớn. Sự phát triển các công cụ mới, và tăng trưởng trong số lượng đơn vị hành nghề không chỉ xảy ra với riêng báo chí mà còn ở mọi ngành công nghiệp khác. Hơn nữa, những thay đổi trong ngành báo chí có mối liên hệ khá chặt chẽ, qua lại với những thay đổi về công nghệ và công nghiệp trong các lĩnh vực khác. Sự phát triển kỹ thuật – công nghiệp trong những lĩnh vực khác đã mang tới những loại máy móc mới cho phép báo chí hoạt động ở quy mô lục địa. Ngược lại, phản ứng chính xác tới từng phút của xã hội công nghiệp mới phụ thuộc vào dịch vụ do những mạng lưới cơ quan truyền thông khổng lồ cung cấp.

 

Cuộc cách mạng kỹ thuật

Truyền thông đại chúng bắt nguồn từ việc phát minh ra máy in hơi nước trong giai đoạn đầu thế kỷ 19. Sau đó là máy in quay, máy in linotype (đúc dòng), ảnh bản kẽm (photo-engraving), cùng với điện tín đường dây đất, cáp xuyên đại dương và điện thoại đường dây đất.

Thế hệ chúng ta đã được chứng kiến sự phát triển của điện ảnh và điện ảnh lồng tiếng, của việc sử dụng công nghệ truyền tín hiệu không dây cho điện báo, điện đàm và phát thanh; của việc vận chuyển hàng không; của kỹ thuật in offset và in màu. Cùng với nhau, chúng đã thay đổi tính chất của truyền thông đại chúng, ngoài các từ ngữ được in trên giấy còn bổ sung thêm những từ ngữ được phát thanh và những hình ảnh biết chuyển động, và đưa tin tới những nơi xa xôi nhất của thế giới trong một vài giờ.

Hiện nay chúng ta đang ở giữa cuộc cách mạng kỹ thuật này. Và những gì sắp diễn ra còn phức tạp hơn rất nhiều. Cuộc chiến (Thế chiến 2) đã khiến quân đội sử dụng hàng loạt sáng kiến, phát minh mới. Tiềm năng của những phát minh này còn chưa được nhận thức đầy đủ, một phần do quá trình chuyển đổi từ phục vụ quân sự sang dân sự còn chậm, một phần vì còn cần thử nghiệm thêm. Tiến bộ kỹ thuật đã tự tạo ra quán tính của riêng mình do các khoản đầu tư không thể biến mất nhanh chóng trên các bản cân đối kế toán, trong khi các phát minh mới biến các trang thiết bị cũ trở nên lạc hậu, thừa thãi. Khoản đầu tư vào các máy móc sẵn có và lợi ích của công nhân có tay nghề khiến quá trình thay đổi bị chậm lại.

Việc sử dụng điện tín vô tuyến giá rẻ, ở mức đầy đủ nhất và với mức giá thấp nhất, đã và đang bị làm cho chậm phát triển, vì các khoản đầu tư cực lớn vào cáp xuyên đại dương và hệ thống đường dây đất. Phát thanh vô tuyến quốc tế trực tiếp từ Mỹ vốn chủ yếu phục vụ các nhà quảng cáo cho tới khi quân đội tận dụng nó trong cuộc chiến và chứng tỏ lợi ích của nó với người dân Mỹ. Máy in mới vốn có thể hoàn tất công việc của 4 – 5 máy in thông thường chưa được phát triển do bị các công đoàn phản đối; những quy định về học việc cũng đang níu chân những tiến bộ trong ngành khắc. Cũng cần thừa nhận rằng phát thanh sóng Điều chế Tần số (FM) bị trì hoãn không chỉ do Thế chiến 2 đòi hỏi chúng ta ưu tiên nguồn lực cho các công nghệ khác mà còn vì những chủ sở hữu đài phát thanh sóng AM (phát thanh tiêu chuẩn) và các công đoàn ngăn cản. Nhiều khả năng truyền hình và các dạng báo chí tương tự cũng sẽ bị trì hoãn vì những lý do tương tự.

Rõ ràng việc tận dụng những phát minh này vẫn còn khá xa vời, dù tác động, tiềm năng của chúng là rất khổng lồ.

Vào thời điểm hiện tại, một mạng lưới phát thanh toàn thế giới có thể tiếp cận mọi công dân trên toàn cầu như nội dung Liên hiệp quốc đang thảo luận về mặt kỹ thuật đã trở nên khả thi. Ủy ban UNESCO của Mỹ đã đề xuất thành lập một mạng lưới như vậy.

Về mặt kỹ thuật, dịch vụ gửi thư và hàng hóa qua đường hàng không đã phát triển tới giai đoạn mà phim ảnh, báo chí có thể được mang tới bất cứ nơi nào có dân cư sinh sống trên trái đất trong 2 – 3 ngày. Các trang tạp chí bằng nhựa plastic nhẹ có thể được mang tới bất cứ nhà in nào để đảm bảo rằng một số tạp chí mới có thể được phát hành tại cả 5 châu lục chỉ 48 tiếng sau khi hoàn thiện tại văn phòng chính.

Nhờ những quy trình sản xuất sách mới mà mọi người trên thế giới có thể mua được những tác phẩm văn chương xuất sắc nhất của mọi quốc gia với giá rẻ hơn ít nhất 25 cent. Các công trình thử nghiệm về in ấn báo chí được kỳ vọng sẽ giúp giảm chi phí sản xuất nhiều hơn nữa, đặc biệt là cho các nhà in cỡ nhỏ.

Về mặt kỹ thuật, phát thanh FM hiện đã sẵn sàng để toàn dân sử dụng, được kỳ vọng sẽ thay thế hệ thống phát thanh tiêu chuẩn hiện tại, trừ các khu vực sử dụng các kênh phát thanh cao tần. Ưu thế của FM trước AM là nhờ FM mang tới âm thanh tốt hơn và chống nhiễu sóng do tĩnh điện. FM cũng tạo cơ hội thành lập nhiều đài mới phục vụ các cộng đồng của mình cũng như phân bố rộng rãi hơn quyền sở hữu các đài phát thanh.

Một thiết bị mới hơn, dù chưa được triển khai làm phương tiện phát thanh tới các hộ gia đình, chỉ trong một vài năm nữa sẽ phát cùng lúc nhiều hơn 1 chương trình trên cùng một kênh. Thiết bị này sẽ giúp cắt giảm chi phí phát thanh cũng như gia tăng độ đa dạng các chương trình.

Tiến bộ trong truyền tin không dây tầm xa ứng dụng trong Thế chiến 2 cũng có tầm quan trọng khổng lồ, truyền tới 800 từ một phút (so với tốc độ trung bình 40 – 60 từ một phút của cáp tiêu chuẩn) và ít chịu ảnh hưởng của các điều kiện thời tiết. Các tuần san, nguyệt san in bốn màu đã phát triển tới giai đoạn toàn bộ trang sách cùng các hình ảnh minh họa bằng bất cứ ngôn ngữ nào có thể được truyền đồng thời đi nửa vòng trái đất.

Cuộc chiến cũng mang tới kỹ thuật truyền tin báo chí đa địa chỉ, trong đó thông tin được truyền không dây không phải giữa các điểm, mà là từ một nguồn phát đơn nhất tới một khu vực cụ thể. Mức giảm chi phí này đã được thể hiện trong một đơn xin cấp phép gửi Ủy ban Truyền thông Liên bang (F.C.C.), để xin tư cách công ty con trực thuộc Công ty Điện tín và Điện thoại quốc tế, mà gần đây đã được chấp thuận. Chi phí người dùng phải trả cho hệ thống báo chí đa địa chỉ này là một cent rưỡi một từ, rẻ hơn 4 lần so với bất cứ dịch vụ nào khác. Mức giá rẻ này cũng được áp dụng như nhau giữa một biên tập viên tại một nơi xa xôi hoặc nhà phát hành giữa thủ đô của châu Âu. Dù giá rẻ nhưng chất lượng vẫn được giữ nguyên. Trong thập kỷ tới, dạng dịch vụ này sẽ là phương tiện truyền thông chính giữa các nước. Chỉ có các quy định của từng quốc gia, thói quen của những hiệp hội báo chí mới có thể ngăn chặn việc tiếp nhận, triển khai dịch vụ này.

Dịch vụ này cũng có thể áp dụng với báo in. Những tờ báo này sẽ được đưa tới đài phát thanh địa phương lúc 5h sáng, và đài này sẽ phát sóng FM tới máy thu tại từng hộ gia đình vào bữa sáng. Bằng cách này, báo in có thê được phân phối nhanh và thường xuyên hơn so với cách thức tiêu chuẩn. Không cần tới nguồn lực lớn để in nhiều báo nữa, cũng như không cần quầy báo, xe tải, tàu hỏa và máy bay để phân phối. Những người nông dân cũng như cư dân thành thị đều có thể được tiếp cận báo chí với chất lượng như nhau.

Việc chuyển báo in đi bằng đường fax không cần thiết phải đắt đỏ. John V. L. Hogan – một trong những chuyên gia có năng lực nhất trong lĩnh vực này, đã ước lượng giá của một máy thu sẽ giảm xuống còn khoảng 100 đến 400 USD, tức bằng một máy ghi âm. Giá tiền để fax 4 trang tạp chí hiện là 4 cent, nhưng sẽ sớm giảm xuống còn 1 penny – thậm chí còn rẻ hơn cả báo in thông thường.

Truyền hình đang trở nên quen thuộc hơn, không chỉ tốt hơn hoặc là một dạng phát thanh khác, mà là sự kết hợp giữa phát thanh và phim ảnh, tạo ra một khong gian mới cho truyền thông đại chúng. Âm thanh, hình ảnh và màu sắc của các sự kiện sẽ sớm được truyền hình tái hiệu trước hàng ngàn khán giả trên toàn cầu. Những người ở vùng xa xôi trên thế giới sẽ được quan sát trực tiếp những thứ hiện chỉ giới hạn trong một nhóm công dân thuộc các cộng đồng nhỏ.

Tốc độ, chất lượng và tính đa dạng của truyền thông sẽ tiếp tục gia tăng. Đã từ lâu, khối lượng và độ đa dạng các từ ngữ, hình ảnh đã vượt quá khả năng tiếp nhận của mỗi cá nhân người tiêu dùng. Do đó trách nhiệm tổ chức, lựa chọn các tài liệu phát hành của báo chí cũng tăng lên. Nhưng mỗi công dân – người thường nghiên cứu kỹ càng tài liệu mà mình nhận được, cũng sẽ có nhiệm vụ phức tạp hơn bao giờ hết.

Chúng ta không thể cho rằng sự gia tăng về số lượng và mức đa dạng của truyền thông đại chúng sẽ gia tăng sự hiểu biết lẫn nhau. Thậm chí chúng còn có thể làm sâu sắc hơn định kiến và thù ghét. Những công cụ mới đã tồn tại và sẽ được sử dụng trong bất cứ trường hợp nào. Liều thuốc chống bóp méo thông tin có vẻ là cần nhiều thông tin hơn, và sử dụng có trách nhiệm những công cụ truyền thông mới để đưa tới cho mọi người trên thế giới một bức tranh chân thực về những người còn lại, và những gì đang xảy ra trong xã hội của chúng ta.

 

Tổ chức

Những thay đổi về công nghệ đã dẫn tới sự đa dạng về truyền thông. Thông tin, tranh luận hiện nay được cung cấp thông qua những kênh khác nhau bởi các cơ cấu quản lý khác nhau. Truyền hình và báo phát thanh có thể tạo ra sự đa dạng trong quyền sở hữu và quản lý, vì không chắc những công cụ mới này sẽ là tài sản của những người kiểm soát những công cụ cũ.

Nhưng một sự thực đáng chú ý về nền công nghiệp truyền thông hiện nay là số lượng các đơn vị, tòa báo đã suy giảm. Ở nhiều nơi các tờ báo nhỏ đã hoàn toàn biến mất. Mỗi thành phố lớn có từ 3 tới 4 tờ báo phát hành hàng ngày, các thành phố nhỏ có khoảng 2 tờ; nhưng đa phần các nơi khác chỉ có 01 tờ. Việc tập trung, thu thập thông tin được thực hiện ở 3 hiệp hội báo chí lớn, và tin chính được đưa từ trung tâm tới các chi nhánh. Có 8 công ty phim ảnh lớn, 4 mạng lưới phát thanh quốc gia, 8 tới 15 nhà xuất bản tạp chí lớn, 5 tới 25 nhà phát hành sách lớn. Trong cả nền công nghiệp truyền thông, các đơn vị báo chí nhỏ chỉ tồn tại ở các vùng biên hẹp/thị trường ngách, và cơ hội lập một công ty mới khá hạn chế. Chúng tôi sẽ trình bày một bức tranh chi tiết về việc tập trung hóa ở mỗi phương tiện truyền thông như sau:

 

Tập trung hóa đối với báo in

Trong một thời gian dài (từ 1909), số lượng các tờ báo tiếng Anh phát hành hàng ngày (nhật báo) đã giảm đều đặn. Cùng lúc thì tỷ lệ biết chữ cũng gia tăng. Năm 1909, lượng nhật báo đạt đỉnh cao là 2600 tờ, và đã dần giảm về 1750 như hiện nay. Tiến sĩ R.B. Nixon đã viết về vấn đề này trên tờ Journalism Quarterly tháng 06/1945, rằng việc nhật báo phải cạnh tranh với một tờ báo khác chỉ diễn ra ở 117 thành phố (tức khoảng 1/12 tổng số thành phố). Ông cũng phát hiện thấy các nhật báo đang không phải cạnh tranh tại các thành phố ở 10 bang; và tại các thành phố thuộc 24 bang thì không có cạnh tranh giữa báo chí phát hành vào ngày Chủ nhật. Khoảng 40% tổng số đầu nhật báo, với khối lượng phát hành là 48 triệu tờ, hoàn toàn không bị cạnh tranh. Sự cạnh tranh giữa các tờ báo chỉ tồn tại ở các thành phố lớn. Khoảng 2500 trong số 16000 tờ tuần báo trên cả nước đã biến mất trong giai đoạn 1910 tới 1920, và khoảng 1300 tờ khác biến mất từ 1920 tới 1930, và thêm 1750 tờ nữa sẽ biến mất vào thập niên tới. Chỉ còn ít hơn 10.000 tờ còn tiếp tục hoạt động.

 

Tập trung hóa đối với tạp chí và sách

Một vài nhà phát hành sở hữu những tạp chí có số lượng phát hành lớn. Tám nhà phát hành lớn nhất gồm có nhóm “Big-Five” là Curtis, Ladies’ Journal, Saturday Evening Post, Country Jenman, và tạp chí mới Holiday; Công ty Time với các tờ Lijc, Time, Fortune, và Architectural Forum; Crowell-Collier’s với các tờ Colliers, American, and Woman’s Home Companion; Hearst với các tạp chí Good Housekeeping, Harpers Bazaar, House Beautiful, và Junior Bazaar; McCalTs với các tạp chí McCall’s Magazine và Red Book. Ngoài ra nên kể tới Reader’s Digest với lượng phát hành vào cuối chiến tranh là 8 triệu 500 tờ, cùng với các phiên bản tiếng Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Thụy Sĩ, Ả rập, Đan Mạch và Phần Lan có lượng phát hành 1 triệu 500 tờ. Trong số những công ty lớn còn có Tập đoàn Capper phát hành báo tường về nông nghiệp và Tạp chí Nông nghiệp, có tổng lượng phát hành 6 triệu tờ. Gần đây tập đoàn Coronet-Esquire phát hành 4 triệu tờ tạp chí Coronet cũng mới tham gia nhóm nhà phát hành lớn.

Ba mươi năm trước đã có tới gần 30 tạp chí phụ nữ và một nhóm 6 tạp chí lớn xuất hiện. Hiện nay 6 tạp chí lớn trong lĩnh vực đang suy giảm này chiếm tới 9/10 tổng lượng phát hành.

Dù việc mở doanh nghiệp phát hành tạp chí mới vẫn đem tới nhiều lợi nhuận và vẫn có nhiều doanh nghiệp mới được đăng ký, các tập đoàn lớn có lợi thế lớn trong cuộc đua giành độc giả. Xuất bản sách vẫn là khu vực có tính cạnh tranh, các nhà xuất bản mới xuất hiện thường xuyên và một số nhà xuất bản mới đã có doanh thu lớn. Khoảng 200 nhà xuất bản cung cấp 90% tổng lượng sách tại Mỹ mỗi năm. Một phần tư trong tổng số tựa sách mỗi năm do 10 nhà xuất bản lớn nhất phát hành.

Trong lĩnh vực xuất bản thương mại này cũng có một nhóm 5 tổ chức lớn nhất (Big-Five). Trong đó, Doubleday-Doran đã in tới 40 triệu bản trong năm 1945 trị giá tới 30 triệu USD. Bốn công ty tiếp theo gồm MacMilan, Pocket Books, William Wise và Harper không vươn được tới quy mô như vậy (CLB Cuốn-Sách-Của-Tháng không nằm trong nhóm này). Một lượng nhỏ các nhà xuất bản khác chiếm thị phần lớn trong lĩnh vực sách giáo khoa và sách đặt mua, trong khi đây là một ngành kinh doanh có quy mô ngang bằng hoặc lớn hơn lĩnh vực xuất bản thương mại.

Trong lĩnh vực sách kỹ thuật cần nhắc tới McGraw-Hill. Công ty này chiếm tới 25% các loại sách kỹ thuật, ngoài ra cũng thống trị các tạp chí kinh doanh, công nghiệp. Không nên đánh giá thấp tầm quan trọng của tạp chí kỹ thuật cũng như mức độ tập trung trong lĩnh vực này.

 

Cạnh tranh trong phát thanh và các mạng lưới phát thanh

Tình huống của ngành phát thanh có hai điểm đặc biệt: thứ nhất, lượng đài phát thanh bị giới hạn một cách tự nhiên để khỏi chèn sóng lên nhau, và thứ hai, việc duy trì tính cạnh tranh giữa các đài được thiết lập bằng luật. Kết quả là hiện có hơn 1000 đài phát thanh, trong số đó chỉ có 25 đài là đài phát thanh có băng thông trống Cấp IA (cấp cao nhất, sau đó là IB, IN), và Ủy ban Truyền thông Liên bang (F.C.C.) cấm việc một pháp nhân sở hữu quá 1 đài tại 1 địa phương, hoặc sở hữu quá 8 đài cùng lúc. Dù vậy, xu hướng tập trung hóa trong ngành công nghiệp truyền thông vẫn thống trị hệ thống phát thanh. Các mạng lưới phát thanh cung cấp chương trình cho các đài phát nằm ngoài tầm can thiệp về pháp lý của F.C.C., trừ khi họ sở hữu các đài là đối tượng điều chỉnh của các quy định pháp luật hoặc họ có hợp đồng với các đài này. Trong 20 năm qua đã nổi lên 4 mạng lưới lớn – là Công ty Phát thanh Quốc gia, Hệ thống Phát thanh Columbia, Công ty Phát thanh Mỹ và Hệ thống Phát thanh Cộng đồng. Do các công ty quảng cáo Mỹ bị thu hút bởi những mạng lưới này một cách tự nhiên, gần 800 trong số 1000 đài đã liên kết với các mạng lưới.

 

Tập trung hóa trong lĩnh vực điện ảnh

Tám công ty điện ảnh lớn gồm: Loew’s (M-G-M), RKO, Warner Brothers, Paramount và Twentieth Century-Fox là các công ty sản xuất, phát hành và công chiếu; Columbia và Universal là các công ty sản xuất và phát hành, United Arts là công ty phát hành cho một nhóm các công ty sản xuất độc lập và trình chiếu ở Anh. Khoảng một phần năm sức chứa trong các rạp ở Mỹ có liên hệ tới 5 công ty sản xuất trong số 8 công ty này. Các rạp nằm tại các địa điểm tốt nhất ở thành phố với lượng khán giả đông đảo nhất cũng như có lịch sử hoạt động lâu dài nhất đều do 8 công ty này kiểm soát.

 

Các chuỗi

Các tòa báo tư nhân lớn không phải là hình thức duy nhất của Xuất bản Lớn (Big Press). Một dạng phát triển khác, đặc biệt trong lĩnh vực báo in và điện ảnh, là việc một người hoặc một tập đoàn sở hữu nhiều hơn một tòa báo hoặc phương tiện truyền thông đại chúng khác ở một hoặc nhiều thành phố. Về kỹ thuật, đây gọi là sở hữu chuỗi.

Số lượng các tờ báo do các chuỗi cấp quốc gia kiểm soát đã giảm trong những năm gần đây, số tờ báo trong chuỗi Hearst đã giảm từ 26 xuống còn 17 trong 10 năm suy thoái, và số tờ báo trong chuỗi Scripps-Howard đã giảm từ 23 còn 18. Hiện nay chỉ còn hơn 10 chuỗi, trong số đó có 7 chuỗi có các tờ nhật báo và 3 hoặc 4 chuỗi không chỉ giới hạn tại một khu vực nhất định.

Tuy nhiên, số lượng các chuỗi cấp vùng, hoặc nói theo cách phù hợp hơn là số lượng pháp nhân sở hữu các tờ báo ở từ hai tới hàng chục cộng đồng khác nhau đã gia tăng. Năm 1935 có 63 chuỗi thì năm 1945 có 76 chuỗi. Trong số đó, 14 là các chuỗi sở hữu nhiều hơn 8 tờ báo. 76 chuỗi cấp địa phương, vùng hoặc quốc gia này sở hữu 375 nhật báo, chiếm 15% tống số nhật báo bằng tiếng Anh. Ngoài ra, có 174 báo cấp địa phương là tòa báo kết hợp bán phần (các tờ báo khác nhau sử dụng chung cơ sở in ấn, do đó một tờ báo của Đảng Cộng hòa và một tờ của Đảng Dân chủ có thể cùng phát hành ổn thỏa qua một tòa báo nhưng khác thời điểm trong ngày). Bất kể xu hướng là gì thì các chuỗi cấp địa phương và khu vực, cùng với Hearst, Scripps-Howard và McCormick-Patterson kiểm soát tới 53,8% tổng lưu lượng báo trên toàn quốc. 14 chủ sở hữu kiểm soát 25% lượng nhật báo, và ít hơn 50 chủ sở hữu kiểm soát gần một nửa lưu lượng phát hành trong ngày Chủ nhật.

 

Độc quyền tin tức ở địa phương

Độc quyền, theo nghĩa quyền kiểm soát đơn nhất với mọi thông tin được đưa tới một khu vực, không hề tồn tại trong ngành công nghiệp truyền thông. Thứ gần nhất với hình thức này là việc báo chí ở một địa phương chỉ thuộc một chủ sở hữu. 92% các cộng đồng trên cả nước – trừ ở các thành phố lớn, chỉ có duy nhất một tờ báo. Ở hàng trăm cộng đồng nhỏ, người sở hữu tờ báo duy nhất cũng sở hữu cả đài phát thanh. Việc này tạo nên tình trạng độc quyền tin tức địa phương. Có một phần ba số đài phát thanh ở Mỹ do các tòa báo in kiểm soát, và gần đây số tòa báo đơn xin cấp phép phát sóng FM cũng đã đạt tới tỷ lệ này.

 

Các đế chế truyền thông

Ủy ban không tin rằng bất cứ đơn vị độc quyền truyền thông cấp vùng hoặc cấp quốc gia nào có thể tồn tại. Ngài Hearst – vào lúc tài sản đạt đỉnh một vài năm trước, đã nắm trong tay 26 tờ báo, 13 tạp chí (đều có lượng phát hành lớn), 8 đài phát thanh, một công ty sản xuất phim bản tin (newsreel), cổ phần lớn tronng một công ty sản xuất phim điện ảnh, một chi nhánh của công ty phim điện ảnh và một trong số 3 hiệp hội báo vào thời đó, với tổng cộng hơn 30 triệu độc giả và một lượng lớn khán thính giả nghe đài, xem phim. Nhưng ở đỉnh cao thì tổ chức của Hearst vẫn chịu sự cạnh tranh với nhiều đối thủ khác. Đó từng là một đế chế truyền thông có quy mô và tầm ảnh hưởng lớn – nhưng rõ ràng đó không phải là đế chế độc quyền. Và quy mô của đế chế này đã suy giảm trong những năm gần đây.

Các nhóm lợi ích của tập đoàn Luce, Cowles và Marshall Field là sự kết hợp nhiều dạng truyền thông khác nhau đầy quyền lực. Tập đoàn Phát thanh Mỹ – nếu không được coi là một đế chế theo cách tương tự như đế chế của Hearst thì cũng đã có lúc đạt tới tầm phủ sóng trên một phạm vi khổng lồ.

Tập đoàn Luce đã từng cùng lúc sở hữu một tuần san (Time), một tạp chí ảnh phát hành theo tuần (Life), 2 tạp chí nguyệt san (Forrtne và Architectual Forum), một công ty sản xuất phim tài liệu và một chương trình phát thanh (March of Time), và có cổ phần tại một đài phát thanh đô thị (WQXR) và một mạng lưới đài phát thanh (A.B.C) – hiện đã bán cổ phàn tại 02 đài WQXR và mạng lưới ABC. Anh em nhà Cowles sở hữu 4 tờ báo ở vùng trung tây, 4 đài phát thanh, một tờ tạp chí ảnh phát hành theo tuần. Tập đoàn Phát thanh Mỹ – là công ty dẫn đầu trong sản xuất đài phát, thu thanh và các trang thiết bị âm thanh ánh sáng cũng sở hữu Công ty Phát thanh Quốc gia, có cổ phần lớn tại Hãng phim và Phát thanh RKO, và là một trong 2 công ty hàng đầu của Mỹ cung cấp dịch vụ điện tín quốc tế.

Các tập đoàn lớn hoạt động trong các lĩnh vực khác cũng đang hướng tới truyền thông. Tập đoàn Atlas gần đây đã mua Tạp chí Liberty vốn tổng lượng phát hành hơn một triệu rưỡi, đầu tư lớn vào Hãng Phim và Phát thanh RKO, Công ty Walt Disney cũng như 3 tạp chí chuyên dành cho người hâm mộ phim ảnh. Marshal Field sở hữu 2 tờ báo phát hành theo ngày ở đô thị, 4 đài phát thanh, một cuốn tạp chí về nông nghiệp, và một công ty phân phối báo ngày Chủ nhật đang cung cấp dịch vụ cho hơn 40 tòa báo. Field cũng nắm quyền kiểm soát một nhà xuất bản sách lớn cùng nhà in. Edward Noble sử dụng tiền từ thương vụ bán hãng bánh kẹo LifeSavers để mua mạng lưới Blue. Tập đoàn Sun Oil của nhà Pew kiểm soát một trong những tờ tạp chí nông nghiệp lớn nhất, một nhóm tạp chí về thương mại gồm Iron Age và Pathfinder có lượng phát hành lớn tại các thị trấn nhỏ, vùng nông thôn.

 

Các tòa báo, hãng phim và hiệp hội doanh nghiệp mới

Các hiệp hội báo chí và khoảng hơn 175 công ty cung cấp các dịch vụ đặc thù, với độ phủ trên toàn quốc, so với 50 năm trước đã gia tăng số lượng tin bài, ảnh, biếm họa và các chuyên mục. Ngay cả các bài xã luận cũng được sản xuất hàng loạt cho một số đầu báo. Gần như 10 ngàn tờ tạp chí phát hành theo tuần vẫn còn tồn tại, đa phần sử dụng dịch vụ của Nghiệp đoàn Báo chí miền Tây (Western Newspaper Union – WNU), tổ chức chuyên cung cấp các bài xã luận, phóng sự, nội dung các chuyên mục, thuộc sở hữu của “Vua Xào Bài” John H. Perry. Có gần 3000 tạp chí sử dụng dịch vụ báo-tám-trang do WNU cung cấp, trong đó có tới 4 trang là các nội dung đã được WNU viết, biên tập và in trước. Perry cũng đang phát triển một chuỗi các tờ báo nhỏ, gồm 7 tờ báo hàng ngày, 14 tờ hàng tuần và 4 đài phát thanh. Ông cũng sở hữu một tạp chí thương mại lớn và có cổ phần trong các xí nghiệp sản xuất máy in mà ông bán cho các khách hàng (tòa báo) của mình.

Trong số 1750 tờ báo tiếng Anh phát hành hàng ngày ở Mỹ, 95% sử dụng dịch vụ của 3 hiệp hội báo chí lớn – gồm Associated Press, United Press và International News Service. Sự chuẩn hóa này càng được củng cố bởi một thực tế, rằng International News Service được sở hữu bởi các nhóm lợi ích gắn bó với Hearst, United Press gắn bó với Scripps-Howard, và Associated Press gắn bó với một nhóm nhỏ các nhà xuất bản báo chí. (Các đài phát thanh và tạp chí hiện đã được công nhận làm hội viên nhưng không được bỏ phiếu).

Mối quan hệ “tương hỗ lồng trong tương hỗ” này cũng xuất hiện nơi các hiệp hội doanh nghiệp trong mảng kinh doanh ảnh, truyện tranh và các chuyên mục phóng sự; do đó giúp thiết lập sự kiểm soát tập trung đối với các nội dung rộng hơn nhiều so với cách thức kiểm soát qua quyền sở hữu. Bản thân WNU của Perry là một trong những hiệp hội doanh nghiệp báo chí lớn nhất cả nước. Trong 6 hiệp hội lớn nhất, King Features có liên hệ với Hearst, United Features và Newspaper Enterprise Association có liên hệ với Scripps-Howrad. Associated Press đang cung cấp một trong những dịch vụ phóng sự lớn và hoàn thiện nhất. Các hiệp hội doanh nghiệp lớn thường được sở hữu hoặc bị kiểm soát bởi các tòa báo đô thị – như các tờ Chicago Tribune, New York Daily News, New York Herald Tribune, Des Moines Register & Tribune, Chicago Sun, PM, New York Evening Post, và Chicago Times.

 

Độc quyền hành nghề

Những lý do chính yếu dẫn tới xu hướng tập trung hóa trong ngành công nghiệp truyền thông là do những lợi thế trong vận hành quy mô lớn sử dụng công nghệ mới. Giá nhân công cao cũng đóng vai trò lớn trong triệt tiêu các tờ báo thuộc chủ sở hữu nhỏ.

Còn có những động lực khác. Đó là động lực mang tính cá nhân, vốn hoàn toàn không có liên quan tới những thay đổi về công nghệ kỹ thuật. Chúng luôn tồn tại trong mọi ngành kinh tế, và dĩ nhiên truyền thông cũng không là ngoại lệ. Những động lực này thúc đẩy con người hướng tới nhiều quyền lực và lợi nhuận hơn, có xu hướng ngăn chặn cạnh tranh và thúc đẩy độc quyền thông qua hệ thống các doanh nghiệp tư nhân. Như ở các ngành công nghiệp khác, phương thức được sử dụng trong các ví dụ cụ thể khá đa dạng, từ những áp lực kinh tế phức tạp cho đến sử dụng bạo lực vật lý.

Hearst và McCormick đã có một cuộc chiến giành bốt bán báo ở Chicago trong đầu thế kỷ này, không chỉ liên quan tới việc phá hủy báo, bốt báo mà còn bắn nhân viên của hãng khác. Những cuộc chiến này, vùng với những đội quân tư nhân phục vụ cho các bên đã là một yếu tố thúc đẩy các cuộc chiến băng đảng gây bức xúc trong thành phố. Bạo lực phục vụ cạnh tranh không chỉ diễn ra ở Chicago. Các tờ báo ở New York, gồm cả tờ Times và Herald Tribune đã sử dụng bạo lực để tranh giành bốt báo trong thập niên 30; còn tờ PM cũng chịu nhiều khó khăn khi tìm địa điểm đặt bốt báo.

Các đối thủ tiềm năng đã phân chia lãnh thổ, như cách mà Hearst, Gannett và Block đã làm ở New York, hoặc các rạp chiếu phim đã làm ở những nơi khác. Các nhà xuất bản nhỏ đang phàn nàn về việc những công ty lớn như Time-Life và Curtis mua trước các cổ phiếu sản xuất giấy và các doanh nghiệp in với các hợp đồng dài hạn. Trong vụ kiện gần đây, Associated Press đã bị buộc phải ngừng các hoạt động mà Tòa án Tối cao tin là độc quyền, vì hiệp hội này đã cho phép một nhà xuất bản từ chối cung cấp dịch vụ của hiệp hội cho một đối thủ cạnh tranh. Các hành động chống độc quyền đối với 8 công ty điện ảnh lớn được thiết kế để phân tách quyền kiểm soát từ khi sản xuất tới khi công chiếu. Các công ty này vốn sản xuất tới 80% phim ảnh ở Mỹ và phân phối 95% lượng phim tới công chúng.

 

Chi phí lập doanh nghiệp mới

Độc quyền hành nghề, cùng với chi phí máy móc và đà phát triển của các doanh nghiệp lớn đã khiến việc thành lập một doanh nghiệp mới trong lĩnh vực truyền thông đại chúng trở nên khó khăn hơn.

Mặc dù không có mức giá cụ thể đối với việc lập một tòa báo lớn trong thành phố, có thể ước lượng chi phí sẽ ở mức 5 tới 10 triệu USD để xây dựng thành công một tòa soạn nhật báo đô thị. Khoản đầu tư cho một tòa báo mới ở một thành phố tầm trung vào khoảng 700.000 tới một vài triệu USD; đối với thị trấn nhỏ là từ 25.000 tới 100.000 USD. Các đài phát thanh đã được bán với giá hơn 1 triệu USD, dù mức giá này đã bao gồm thứ mà Ủy viên Durr mô tả là “một số thứ mà người bán không hề sở hữu cũng như không có quyền bán, trong số đó là kênh phát sóng”. Mức đầu tư cần cho một xưởng phim điện ảnh mới có thể ở khoảng 100.000 USD, nhưng đây mới chỉ là một góc nhỏ – một người không thể nào bắt đầu vận hành một xướng phim mới mà không ký hợp đồng với một trong số những nhà phân phối phim lớn. Một nhà xuất bản không thể bắt đầu phát hành một tờ tạp chí hướng tới thị trường chung trừ khi đã chuẩn bị để mất khoảng 2 – 3 triệu USD vào thời điểm ban đầu. Mặt khác, một nhà phát hành sách có thể được thành lập chỉ với khoảng 100.000 USD.

Khảo sát của chúng tôi về công cụ và tổ chức của ngành công nghiệp truyền thông đã đặt ra một vài câu hỏi cụ thể. Sự suy giảm số lượng tòa báo sẽ giảm mức đa dạng tới mức nào? Liệu sự suy giảm trong số lượng các tòa báo có làm suy giảm cơ hội của những người muốn trình bày quan điểm của mình tới khán thính giả? Liệu cuộc tranh giành quyền lực và lợi nhuận trong lĩnh vực này đã đạt tới điểm gây tổn hại cho lợi ích công? Liệu các tòa báo, khi trở thành doanh nghiệp lớn, có đánh mất tính chất đại diện của mình và trở nên thiên kiến – thứ thiên kiến của những nhà đầu tư và ông chủ lớn? Trong cuộc khoảng hiện nay liệu báo chí có thể đảm nhận trách nhiệm là một công cụ cần thiết cho đời sống chính trị, xã hội của một quốc gia và thậm chí là cho một thế giới với các quốc gia tìm kiếm sự thấu hiểu? Nếu không, liệu sự vô trách nhiệm của báo chí có tước bỏ quyền tự do của báo chí không?

Để trả lời những câu hỏi này, chúng ta cần kiểm tra hoạt động báo chí trong thực tế ở Mỹ hiện nay.

(còn tiếp)


Cuốn sách này được CTV Mạng lưới Nghiệp đoàn dịch từ bản tiếng Anh của Thư viện Đại học Osmania, đăng trên Internet Archieve. Xin ghi rõ nguồn Mạng lưới Nghiệp đoàn để tôn trọng công sức của người dịch.

Để đọc những chương đã dịch, xin click vào ĐÂY.

Để truy cập qua mục lục, xin click vào ĐÂY.

Hits: 19

One thought on “Một nền Báo chí Tự do & Có Trách nhiệm (A Free & Respondsible Press) – Chương 3: Cuộc cách mạng truyền thông”

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *