Coi trọng việc mở ô cửa sổ nhìn ra văn học nước ngoài cũng như tiếp nhận, giới thiệu văn học thế giới về Việt Nam, nhà văn Kiều Thanh Quế (1914-1947) – nhà phê bình hàng đầu của miền Nam và cả nước nửa đầu thế kỷ XX, – quê ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu – không chỉ trực tiếp tham gia dịch tác phẩm mà còn phát biểu những quan niệm riêng về dịch thuật. Một mặt ông khẳng định “Phiên dịch cũng là một cách đào luyện văn chương”, đồng thời chú trọng từ bài học kinh nghiệm cụ thể dịch thơ Tàu và dịch thơ Tây cho đến sự tán đồng “Một quan niệm dịch thơ”.

 Với một sức đọc đáng trân trọng, Kiều Thanh Quế đã đưa đến cách xác định “Giá trị một bản dịch” qua đúc kết của các bậc văn hào và dịch giả nổi tiếng thế giới cũng như bằng thực tiễn tình hình dịch thuật trong nước, trong đó có những đề xuất hữu lý của chính ông về sự dịch thoát ý, tóm lược, giản lược, cách dịch giữ nguyên tên đất, tên người theo nguyên ngữ. Nhân bộ tuyển tập Cuộc tiến hóa văn học Việt Nam đãđược xuất bản (Nguyễn Hữu Sơn và Phan Mạnh Hùng biên soạn. NXB Thanh niên, H., 2009, 686 trang), chúng tôi trân trọng giới thiệu nămmục bài bàn về dịch thuật của Kiều Thanh Quế cách ngày nay đã hai phần ba thế kỷ mà vẫn còn nguyên tính thời sự…

Nguyễn Hữu Sơn giới thiệu trên Tạp chí Văn hóa Nghệ An

*

I. Dịch thuật

Văn dịch ở nước ta, trái với loại phê bình, có rất sớm: các bực túc nho, khi văn học hãy còn phôi thai, đã bắt đầu dịch truyện Tàu, tiểu thuyết Tàu rồi – nhứt là các diễm tình tiểu thuyết của Từ Trẩm Á và những tiểu thuyết kiếm hiệp.

Dịch Hán văn siêu xuất có Phan Kế Bính đã diễn quốc âm Việt Nam điển lệ toát yếu của Hiệp Đỗ, Đại Nam nhứt thống chí của Hiệp Cao, Việt Nam khai quốc chí truyện của Nguyễn Bảng Trung, Đại Nam liệt truyện tiền biên Đại Nam liệt truyện chánh biên (sơ tập) của Quốc sử quán.

Dịch văn Tây trước nhứt là hai ông Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh.

Lối văn dịch thanh thoát của hai ông này, mãi đến nay, người trong nước vẫn còn hoan nghênh.

Phạm Quỳnh dịch các đoản thiên của George Courteline (Ôi! thiếu niên), của Guy de Maupassant (Ái tình), của Pierre Loti (Thương vay) (Ba bản dịch này trước đăng Nam Phong, sau ra thành sách trong Khảo về tiểu thuyết) mà phàm thức giả ai đã xem qua tuy không công nhận dịch đúng theo mạch văn của nguyên tác nhưng vẫn chịu là “có vẻ lưu thủy hành vân” (Bốn chữ này mượn của Phạm Quỳnh).

Nguyễn Văn Vĩnh thì có một sự nghiệp dịch thuật kể cũng to tát; dịch truyện nhi đồng, truyện phiêu lưu, truyện truyền kì trong loại sách Hồng (Livres Roses), của nước Pháp, dịch tiểu thuyết của Fénélon, Balzac, A. Dumas, V. Hugo, dịch ngụ ngôn La Fontaine, hài kịch Molière.

Dịch sách Tây, Nguyễn Văn Vĩnh, khi in thường để nguyên tác ngay bên bản của văn. Những kẻ dã tâm cho rằng làm thế tổ phí tổn giấy mực và hơi tự thị, nhưng chúng tôi lại nghĩ: làm thế là Nguyễn Văn Vĩnh thành thật với mình, với nghệ thuật của mình, để cho độc giả xem qua dễ bề phán đoán (Lược khảo về sự tiến hóa của quốc sử trong lối viết tiểu thuyết (Nam Phong, Aout – Septembre 1932).

Trúc Hà có mấy lời khen tặng Nguyễn Văn Vĩnh, tự thấy cũng không là quá đáng:

“Một nhà văn sĩ nước Plongne, ông Zalenski Thadée nhất danh là Boy trong buổi tối nhàn rỗi, dịch luôn một trăm bộ sách cổ điển của nước Pháp, riêng về hài kịch Molière và tiểu thuyết Balzac, ông dịch tất cả. Thật là cái vinh hạnh đặc biệt cho dân Plongne vậy. Cái vinh hạnh ấy dân ta cũng được hưởng vài phút do một ông Boy thứ hai ở nước ta làm ra. Ông Boy thứ hai, ông ấy tôi muốn nói là Nguyễn Văn Vĩnh.

“So với số sách dịch của Zalenski Thadée, ông Nguyễn Văn Vĩnh vẫn chưa bằng, nhưng kể ra sự nghiệp dịch thuật của ông từ trước đến đầu cái tương lai của ông nó chẳng đem cho ta nhiều món quà nữa”…

Nhưng tấm lòng mong mỏi của Trúc Hà, than ôi! Nguyễn Văn Vĩnh đành phụ vì sanh kế sang Lào tìm vàng rồi thiệt mạng luôn ở đó, kể từ 2 Mai 1936, Nguyễn Văn Vĩnh đã không còn nữa!

Thật là một đại tang cho văn giới, cho phong trào dịch thuật nước nhà.

Nguyễn Văn Vinh chết, còn Phạm Quỳnh! Lại bỏ đi làm quan!

Nhưng chẳng lẽ vì Phạm Quỳnh bỏ mà văn dịch chết ở nước ta.

Hai cây bút Đào Hùng, Nguyễn Đỗ Mục diễn quốc âm Sans famille (Vô gia đình) của H. Malot cũng có được một nghệ thuật dịch văn đáng để ý.

Kế đó, Dương Phương Dực dịch Les mystères de Paris (Những chuyện bí mật ở thành Ba Lê) của E. Sue đăng Tiểu thuyết thứ bảy.

Đỗ Đình dịch Ea porte étroite (Tiếng đoạn trường) của A.Gide.

Khái Hưng, Thế Lữ, Thạch Lam dịch đăng Ngày nay những truyện ngắn của văn sĩ Âu Tây cận kim.

Huyền Hà dịch đăng Trung Bắc chủ nhật tiểu thuyết của Stefan Zweig, W. Somerset Maugham.

Thanh Châu, Như Phong, Văn Thu, Lan Khai trong nhóm Tân Dân diễn quốc âm tiểu thuyết của A. Dumas, Stevenson, S. Zweig.

Riêng thiên truyện vừa Bức thư của người không quen của S. Zweig, văn học quốc ngữ có tới hai bản dịch! Bản dịch của Lan Khai (ôi! mỉa mai) và bản của Huyền Hà đăng tải trên tuần báo Trung Bắc chủ nhật.

Vũ Ngọc Phan dịch đăng báo Truyện kỳ quái của Hoptmann và vừa góp cho ra thành sách quyển Lâu đài họ Hạ.

Về bộ truyện khổng lồ Ả Rập Một ngàn một đêm lẻ, văn học quốc ngữ cũng đã có đến mấy bản dịch, do Phổ thông bán nguyệt san ấn hành.

Còn bộ Liêu Trai chí dị danh tiếng của Tàu cũng được một vài danh bút nước nhà bỏ công diễn quốc âm. Nhưng bản quốc văn giá trị nhứt là bản Tản Đà.

Ngoài việc dịch Liêu Trai, Tản Đà còn có dịch Đường thi, Kinh thi.

Dịch Đường thi, đó cũng là công việc của Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục năm xưa trên mặt báo Nam Phong.

Gần đây Ngô Tất Tố dịch và bình giảng thơ Đường, cho ra thành sách! Bộ Đường thi giá trị. Ngoài ra, Ngô quân cũng có dịch thơ xưa hồi mấy triều Lê, Mạc, Tây Sơn trong bộ Thi văn bình chú.

Diễn quốc âm Tứ truyện của Thánh hiền, ta được biết Trương Vĩnh Ký dịch Trung dung, Đại học; Tản Đà dịch Đại học; Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến và Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục dịch Mạnh tử; Lương Văn Can và Dương Bá Trạc đều có dịch Luận ngữ.

Từng ấy công trình dịch thuật tuy nhiên vẫn chưa thấm vào đâu, giữa lúc tủ sách dịch của văn học quốc ngữ hãy còn kém tủ sách dịch ở các lân bang nhiều lắm – như ở Tàu và Nhật chẳng hạn.

Ở Tàu, Nhật phàm ai tốt nghiệp được bằng gì, sở đắc được nền học thuật nào của Âu Tây, đều có bổn phận phải đem diễn dịch tất cả cho quốc dân đồng lãm.

Cứ xem quyển Đồ thư mục lục mỗi năm của hiệu sách Thương Vụ ấn quán ở Thượng Hải, ta đủ rõ công trình dịch thuật của lân bang ta to tát là dường nào!

Nước người ta được nhiều sách dịch, như vậy trí người ta mới mở mang, văn giới mới có nhiều danh sĩ.

Biết bao danh sĩ Tàu, Nhật sở dĩ quảng kiến Đa văn được là nhờ học ở sách. Lương Khải Siêu, một danh sĩ Tàu hồi Trung Hoa dân quốc thành lập chẳng hạn, nhờ học ở sách dịch mà uyên bác được tất cả các tài nguyên học phái: triết học, khoa học, văn học… từ Thượng cổ trải qua Trung cổ đến cận kim thời đại, từ Hy Lạp trước La Mã đến Anh, Pháp, Đức, Mĩ; thông suốt được thuyết thực nghiệm của Bacon, thuyết tôn nghi của Descartes, thuyết xã ước của Rousseau, thuyết chánh trị tam quyền của Montesquieu, thuyết nguyên phủ của Smith, thuyết quốc gia của Bluntchi, thuyết thiên diễn của Darwin, thuyết triết học điều hòa của Kant, thuyết lợi lạc của Bentham.

Đọc Ẩm Băng văn tập, ta tất rõ tài học của tác giả nó, Lương Khải Siêu sâu rộng quán xuyến là dường nào! ngay như học hỏi về nội một thuyết lợi lạc (l’arithmétique des plaisirs) của Bentham, Lương cũng cho biết đã phải tham khảo qua lắm sách dịch:

Lập pháp luận cương, Điền Khẩu Mão Cát dịch.

Lợi học chánh tông, Lục Úc Tông Quang dịch.

– Chánh trị chân luận, Đằng Điền Tứ Lang dịch.

– Dân pháp luận cương, Hà Lễ Chi dịch.

– Lý học duyên cách sử, Trung Gian Đốc Giới dịch.

– Thuyết luận lý của phái lợi lạc, Trung Gian Đốc Giới dịch.

– Luận lý học thuyết phê bình, Sơn Biên Tri Xuân dịch.

– Lược truyện các nhà triết học Tây dương, Điền Trung Thái Ma dịch.

– Lược truyện các nhà chánh trị học Thái Tây, Bân Sơn Đằng Thứ Lang dịch.

Xem đó, ta đủ rõ sách cần ích cho việc trứ thuật là dường nào.

Lúc trước, hồi văn học quốc ngữ mới phôi thai, Nguyễn Văn Vĩnh bảo: “Nước ta sau này hay dở thế nào đều nhờ ở chữ Quốc ngữ”.

Nhưng ngày nay, văn học quốc ngữ đã phát thạnh, thiết tưởng cần phải nói: “Nước ta sau này hay dở thế nào đều nhờ ở sách dịch”.

Mạo muội trình bày thiên kiến như vậy, các ngài tân học trong nước nghĩ thế nào?

Trong khi chờ đợi những ý kiến hay của các nhà tân học, chúng tôi xin chép ý kiến này của ông Đồ Nam Tử Nguyễn Trọng Thuật (một bực cựu học khả kính), mà chúng tôi cho là rất nhiệt thành và xác đáng:

“Cái nền dân tộc học thuật đã phải bao hàm, lại phải lấy tiếng nói của dân tộc làm căn bản, thì sự phiên dịch là rất cần. Dịch được một quyển nào và ấn hành ra được là trong vườn hoa học thuật của dân tộc lấy giống được một thứ cây rồi. Sự cần cấp về phiên dịch của sách xưa nay bằng chữ Hán, chữ Pháp ra quốc văn là vì những cớ này.

Học thuật vẫn quí nhưng phải quí như thóc gạo, ở đâu cũng có, ai dùng cũng được chứ không phải quí như vàng ngọc vậy. Vả học thức phải phổ thông mới có công hiệu, muốn thành lập cho nền dân tộc học thuật, không dịch đủ các sách không được. Dịch đã đủ được thì không những lấy được đủ giống cây quí mà nó lại như thóc gạo để cung cho sự bổ dưỡng trí não của mọi người trong dân tộc hằng ngày một cách dễ dãi.

Có người lấy ý cẩu thả mà rằng: Ai muốn đọc sách chữ Hán thì học lấy chữ Hán, ai muốn đọc sách Tây thì học chữ Tây. Song phải biết rằng, không những chữ Hán ngày ít người học đi, mà chữ Pháp tuy nhiều người học ra, nhưng cũng chỉ nhiều về phần phổ thông tầm thường mà thôi, chứ học mà đọc được đến những sách cao và chỗ căn bản của tư tưởng, thì cũng không bao giờ có nhiều được. Thế mà dịch được đủ cả hai thứ sách ấy ra tiếng mẹ đẻ rồi, thì ai cũng có thể nhờ đó mà học cho rộng thêm, cho tư tưởng của mình có căn bản, có mành mối. Có thể lấy cái học tự tu mà thành tài đạt đức được. Nếu không làm được như thế, mà chỉ phụ diễn nói bàn suông về những cái học nọ kia, Đông Đông Tây Tây trên báo chí, thì rút cục chỉ chồng chất được một đống giấy lộn chứa những cái bả rả cành lá của những tư tưởng nước ngoài mà thôi. Mà kẻ đọc có muốn hỏi đến chỗ uyên nguyện căn bản của những cái tư tưởng đó thì cũng không còn biết tìm và ở đâu mà tra khảo. Thế có khác gì kẻ chơi hoa mà chưa từng biết tới cái hoa thực của nó thế nào không.

Tuy thế, nhưng sự phiên dịch lại không phải là dễ. Dịch phải lấy chủ nghĩa tín là rất trọng. Tín tức là trung. Dịch giả tuy ý tưởng không bằng tác giả, nhưng phải thâm thấu được chỗ tinh thần của nguyên văn, lại phải có văn tài tương đương với tác giả mới không sai lầm, và không đổ mất nguyên văn. Dịch sách cũng như vẽ truyền thần, bức tranh truyền thần không phải là bức ảnh chụp, nhưng hai cái vẫn là một. Không những đúng nhau từng từng nét mà lại phải đúng nhau cả tinh thần dáng điệu nữa, dịch sách mà không thế thì không đem được cả toàn thần của nguyên văn do thứ tiếng nọ sang thứ tiếng kia cho linh hoạt như một được.

Nước ta hiện nay, biết phép phiên dịch có tài phiên dịch cũng còn thấy ít lắm. Bởi vậy tôi nói sự phiên dịch cũng phải có cơ quan để mà tìm phương pháp và giám đốc lẫn nhau. Đây tôi làm cái phương pháp dịch cũ của người Tàu vẫn dùng, xin giải thích và giới thiệu ra như sau:

“Phương pháp ấy cần ở ba điều là: Tín, nhã và đạt”.

a) Tín tức là đúng. Phải dùng từng chữ, đủ từng ý và hệt với giọng của hạng người nào về thời đại nào. Song như thế thì đúng đấy, nhưng đối với văn lý nước mình còn hẫng lời hay là tối nghĩa, thì lại phải thêm bớt vào một hai tiếng phụ của nó cho đầy đủ và sáng nghĩa ra. Lại hoặc như thế thì đối với điệu nói nước mình thành điên đảo khó nghe, thì lại phải dịch đảo một câu hay là một mạch lạc cho xuôi mà vẫn không thiếu lời thiếu ý gì.

b) Nhã là điểm nhã êm tai. Có khi dịch ra tiếng ấy thì đúng nhưng theo văn ý nước mình thì nghe lại ra thô, lại phải dùng tiếng khác cùng tính cách ấy có ý nhã hơn thay vào. Lại phải tùy từng môn loại của bài nguyên văn, sách nguyên thư để dùng tiếng của mình mà thay vào cho đối chọi. Khi nào tiếng sẵn không đủ thì ghép tiếng mới, nhưng phải chua cho rõ ràng. Khi nào phép thường không đủ phải tìm phép mới mới dịch được, thì phải đặt ra cái phàm lệ nói rõ về duyên cớ ấy.

“Tín với Nhã, hai phép ấy cũng đủ phận sự về việc phiên dịch. Tôi có nghe một nhà bác học nước ta nói rằng ông đọc bộ kinh Hoa Nghiêm (sách Phật) bằng Pháp văn mới dịch ở tiếng Phạn ra, rồi ông lại đọc cũng bộ kinh ấy bằng Hán văn đã dịch ở tiếng Phạn từ hơn nghìn năm trước, mà không khác chút nào. Như thế thì không phải hỏi đến sách bản thư Phạn văn cũng biết là hai bộ sách dịch văn của người Tàu với người Pháp là đáng với bản thư rồi. Tức như xem hai bức truyền thần của hai người vẽ đúng nhau thì biết là điều đúng với bức ảnh chụp.

“Ấy sự phiên dịch của người ta công phu và tài tình như thế, có phải là việc tầm thường ai cũng làm được đâu.

c) Đạt là đạt được cái ý ra thì thôi, không câu nệ phải đúng. Song phép này khó lắm, hiếm có người làm được. Phép này là hóa tán cả nguyên văn vào tâm mình, rồi rút lấy toàn thần của nó ra, thay vào bằng những điển cố, thành ngữ và văn thể của nước mình. Đọc ra như nó là sách nguyên thư của nước mình, lời lẽ giọng điệu đều tự nhiên như của nước mình, mà ý tưởng thì vẫn của người ta, không thiếu tí nào.

“Phép này dễ sinh nguy hiểm là làm sai lạc mất ý đi mà không phải là dịch ở đấy nữa. Ngày xưa nghe có Cưu-ma-la-thập dịch sách Phật ra Hán văn. Ngày nay thì có Nghiêm Phục dịch sách Thiên diễn luận([1])của Anh văn ra Hán văn, là dùng được phép này gọi là “đạt ý”. Nhưng hai nhà đều khuyên người ta không nên bắt chước. Nghĩa là không có cái văn tài như thế thì là một sự làm bậy. Tuy vậy, trên ấy là phân loại mà nói ba phép tín, nhã đạt dùng vào những khi đặc biệt đó thôi. Thực ra thì phàm dịch sách lúc nào cũng phải gồm đủ ba phép ấy.

Đã tínnhã rồi nhưng cũng phải có đạt. Mà đạt đó nhưng cũng vẫn có tín, nhã mới được.

“Xem đó thì những sách Tây đã dịch ra Hán văn, ta cũng có thể chọn mà dịch lại được, không sợ sai lầm”([2]).

“Còn công việc soạn thuật thì cũng còn là theo vào trong chỗ căn bản tư tưởng của người ta đó, mà phô diễn phê bình, hoặc khảo cứu để phát minh nghĩa khác ra cho mới hơn. Nghĩa là làm cho những cái tư tưởng căn bản ấy được thịnh hành ra”([3]).

Xem mấy câu chót này, ta thấy ông Đồ Nam Tử Nguyễn Trọng Thuật cũng công nhận việc soạn thuật cần đến “chỗ căn bản của người ta đó” – tức là sách dịch vậy!

Nhưng chẳng những sách dịch giúp ích cho việc soạn thuật thôi đâu, mà cả đến sự phiên dịch nó cũng giúp ích được cho việc này nữa – nhứt là giúp ích cho sự hành văn, trong lúc trứ thơ lập ngôn.

Thật vậy “dịch văn ngoại quốc cũng như đọc và thưởng thức những bản dịch ấy, có thể coi là một phương tiện trực tiếp đào luyện văn chương”.

“Sự để tâm thu gọn lời văn, sự bắt buộc phải lựa chọn tiếng dùng, phải thay đổi điệu văn, phải uốn nắn hình thể lối văn của mình theo hình thể câu văn của người khác, bằng ấy đều khiến cho sự dịch văn là một cách linh hoạt để học tập nghệ thuật viết văn.

Sự cố gắng liên tiếp để vượt qua nỗi khó khăn về các phô diễn đó, không những chỉ là một công việc có ích cho dịch giả, mà đến ngay sự đọc văn bản dịch cũng có thể là một cách tập văn quí báu cho hết mọi người.

Văn sĩ Rivarol cũng nghĩ như thế, ông nói: “Văn ngữ nước Pháp sở dĩ hưởng được sự hoàn toàn chỉ vì đã sang các nước lân bang để trao đổi và để nhận thức những chân giá trị của mình, vì đã lục lọi trong kho tàng La Mã, Hy Lạp; và vì đã tìm những giới hạn nó phân biệt tiếng Pháp với tiếng các nước ngoài. Duy chỉ có sự dịch văn là giúp cho tiếng Pháp những ích lợi đó. Một thứ văn ngoại quốc khi đưa ra toàn những cái khó rất kỳ khu cho một dịch giả có tài, thì khác nào như thử thách nhà dịch giả về đầy đủ các chiều vậy, người dịch văn biết ngay được tiếng nước mình có thể đạt được tới đâu, hoặc những cái khó nào không thể đạt được; người ấy dùng mất hết những của sở hữu, nhưng người ấy tăng thêm lực lượng cho mình, nhất là khi người ấy dịch những tác phẩm của trí tưởng tượng, những tác phẩm này ruồng phá những cái khuôn cùm của phép hành văn theo mẹo luật và khiến cho văn ngữ thêm cánh bay lên” (Ravarol, lời tựa cuốn l’Enfer).

Hết thảy các văn hào thi bá nước Pháp, từ Ronsard đến Chateaubriand, đều khuyên nên lấy sự dịch văn làm một phương tiện cốt nhất để luyện tập ngòi bút”.

Phần lớn nhất nhờ ở sự dịch các văn gia cổ điển mà Malherbe có thể đem sự đúng, mẫu mực và sự thanh lịch vào cho văn ngữ nước ta” (lời Victor Vailliant).

Malherbe nhận rằng bao nhiêu công phu và bao nhiêu sức cố gắng vất vả của tinh thần đã đem ra để phong đại cho những vẻ đẹp của một văn hào cổ điển ấy là bấy nhiêu phép kỳ diệu “để uốn nắn ngòi bút và để làm tươi đẹp cho lời văn” – trả lời những người hỏi ông rằng muốn viết văn thì phải theo những cách thức nào, Malherbe bảo: “Nên đọc một bản văn ông đã dịch”([4]).

Trên kia, đã viết: “Nước ta sau này hay dở thế nào đều nhờ ở sách dịch”, ở đây, tưởng nên chép lại và thêm cho đầy đủ như vầy: “Nước ta sau này hay dở thế nào đều nhờ ở sách dịch, và sự phiên dịch nó là nòng cốt khả dĩ đưa văn học quốc ngữ đến cõi hoàn mỹ”.

Sách dịch muôn năm!

Sự phiên dịch muôn năm!

Văn học quốc ngữ muôn năm!

(Còn tiếp. Đọc toàn bộ loạt bài tại ĐÂY.)

Nguồn: Kiều Thanh Quế

Theo Ba mươi năm văn học,

NXB Tân Việt, H., 1941.

In lại trong Cuộc tiến hóa văn học Việt Nam.

NXB Thanh niên, H., 2009.

 


[1] Sách này có một bản Pháp văn  L’evolution des espèces.

[2] Nhân sách này của ông Đồ Nam Tử, ta có thể viết: “Xem đó thì những sách ngoại quốc (Anh, Nga, Đức.. ) dịch ra Pháp văn  rồi ta cũng có thể chọn mà dịch lại được, không sợ sai lầm”.

[3] Nguyễn Trọng Thuật: Chương trình cầu học của người Việt Nam hiện nay nên thế nào Nam Phong, số 191  Décembre 1933.

[4] A.Albalat: CommEnt on devient écrivain – Thạch Lam diễn quốc văn.

Hits: 14

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *