Unions Network: Phải làm gì để thu thập, sắp xếp và phân tích các bằng chứng, nhằm xác định sự thật và thủ phạm trong các vụ án hình sự? Cảnh sát có quyền và trách nhiệm gì trong từng giai đoạn của cuộc điều tra? Cảnh sát và Viện Kiểm sát phải tuân thủ những quy trình, nguyên tắc nào để không truy tố sai, không xâm phạm các quyền của nhân chứng và nghi phạm?

Để trả lời những câu hỏi này, mời các bạn đọc một giáo trình môn Điều tra Hình sự của Canada, mang tên “Giới thiệu môn Điều tra Hình sự: Quy trình, Thực hành & Tư duy”. Sách do thanh tra Rod Gehl và tiến sĩ Darryl Plecas biên soạn, do Viện Tư pháp British Columbia xuất bản năm 2016, và được chị Nguyễn Trang Nhung (CTV Mạng lưới Nghiệp đoàn) chuyển ngữ. Chúng tôi tin rằng giáo trình này sẽ giúp ích cho rất nhiều người Việt Nam – từ các phóng viên điều tra, luật gia, cho đến những nhà hoạt động muốn giám sát cơ quan thực thi pháp luật.

Để đọc những chương đã dịch, xin click vào ĐÂY, hoặc kéo xuống cuối trang để truy cập qua mục lục.

*

Chương 1: Giới thiệu

Thật tệ khi chúng tôi không thể chỉ cung cấp cho bạn một khuôn mẫu cơ bản để tuân theo mỗi khi bạn cần tiến hành điều tra tội phạm; nhưng điều đó không đơn giản. Các cuộc điều tra hình sự có thể là các công việc mơ hồ, thường được thực hiện để ứng phó các sự kiện không thể dự đoán và vẫn đang diễn biến với thông tin không đầy đủ để hướng dẫn quá trình điều tra. Như vậy, không thể dạy hoặc học một phương pháp chính xác có thể áp dụng trong mọi trường hợp. Tuy nhiên, vẫn có những khái niệm quan trọng, quy tắc pháp lý và quá trình phải được tôn trọng trong mọi cuộc điều tra. Cuốn sách này phác thảo các khái niệm, quy tắc và quá trình với mục tiêu cung cấp các công cụ thực tế để đảm bảo các quá trình điều tra và thực hành điều tra thành công. Quan trọng nhất, cuốn sách này cho bạn biết cách tiếp cận quá trình điều tra bằng cách sử dụng “tư duy điều tra”. Trong chương đầu này, chúng tôi đặt nền tảng cho cuốn sách bằng cách thu hút sự chú ý tới 5 chủ đề quan trọng:

  • Điều tra hình sự như một quy trình tư duy
  • Sự cần thiết phải tư duy qua quy trình
  • Chặng đường đến các phương pháp điều tra thời hiện đại
  • Con đường để trở thành điều tra viên
  • Hiểu tâm trí điều tra

 

Chủ đề 1: Điều tra hình sự như một quy trình tư duy

Điều tra hình sự là một thử thách đa diện và nhằm giải quyết vấn đề. Đến hiện trường tội phạm, một cảnh sát thường được đòi hỏi ra quyết định nhanh chóng, đôi khi liên quan đến sự sống chết, dựa trên thông tin giới hạn trong môi trường động của các sự kiện động và diễn biến. Sau khi sự kiện tội phạm kết thúc, điều tra viên được kỳ vọng duy trì hiện trường tội phạm, thu thập chứng cứ và đặt ra kết hoạch điều tra dẫn đến sự hình thành các cơ sở hợp lý để nhận dạng và bắt giữ (những) người chịu trách nhiệm về tội phạm. Để đáp lại các thách thức này, các điều tra viên cảnh sát, thông qua đào tạo và kinh nghiệm, tìm hiểu các quy trình điều tra để phát triển các kế hoạch và ưu tiên ứng phó.

Trong cuốn sách này, các phản ứng điều tra, các phân tích thông tin và các kỹ năng lập kế hoạch được chia tách ra trong những hình minh họa về tư duy điều tra, cả chiến thuật lẫn chiến lược. Mục đích của cuốn sách là dẫn bạn vào sự thực hành có cấu trúc về phản ứng điều tra và tư duy điều tra chiến lược.

Điều tra tội phạm không chỉ là một tập hợp các kỹ năng, nó thực sự là một tập hợp các kỹ năng tư duy. Để trở thành một điều tra viên hiệu quả, các kỹ năng này cần được hiểu một cách có ý thức và được phát triển đến điểm mà chúng được vận dụng một cách thận trọng để làm việc trong suốt quá trình giải quyết vấn đề – là quá trình điều tra tội phạm. Tư duy và ứng phó được đào tạo có thể khó thích hợp với các kỹ năng cá nhân vì tất cả chúng ta bị ước định để trở nên ít tuân theo thể thức hơn và ít theo đuổi bằng chứng (evidence driven) hơn trong tư duy hàng ngày của chúng ta. Tuy nhiên, là con người, chúng ta là các kiểu điều tra viên bẩm sinh.

Như Taber (2006) chỉ ra trong cuốn sách, Bên kia chủ nghĩa xây dựng, con người liên tục xây dựng kiến thức, và trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, chúng ta hoạt động trong một trạng thái không ngừng đánh giá thông tin được bày ra cho chúng ta. Giải thích nhận thức về cái chúng ta thấy và cái chúng ta nghe cho phép chúng ta đạt đến các kết luận về thế giới xung quanh chúng ta (Taber, 2006). Một số người phân tích một cách phê phán và muốn thấy bằng chứng để xác nhận những niềm tin của mình, trong khi những người khác được chuẩn bị để chấp nhận thông tin bề ngoài cho đến khi họ được bày ra những sự thật làm mất những nềm tin trước đây của họ. Mỗi chiến lược nhìn chung là chấp nhận được đối với người thường trong cuộc sống hàng ngày.

 

Chủ đề 2: Sự cần thiết của tư duy qua quy trình

Đối lập hoàn toàn với các quá trình phân tích của người thường, trong vai trò của một điều tra viên cảnh sát, quy trình khám phá, giải thích và xác định tính hợp lệ của thông tin là khác biệt và sự khác biệt này là rất quan trọng. Là một điều tra viên, sử dụng các chiến lược mà người thường sử dụng hàng ngày là không đủ. Thay vào đó, các điều tra viên có phận sự đánh giá nghiêm túc tất cả thông tin họ gặp phải vì mọi cuộc điều tra là một quá trình có trách nhiệm, trong đó điều tra viên không chỉ đưa ra quyết định về tính hợp lệ và sự thật của thông tin để xác nhận niềm tin cá nhân. Dĩ nhiên, điều tra viên cảnh sát chịu trách nhiệm và trao quyền theo luật để đưa ra quyết định có thể ảnh hưởng đáng kể đến cuộc sống của những người bị điều tra cũng như các nạn nhân của tội phạm.

Việc giải thích thông tin và bằng chứng của điều tra viên thường đòi hỏi các câu trả lời cho nhiều câu hỏi có thể dẫn đến bình xét các quyết định, hành động và kết quả, chẳng hạn như:

  • Phải làm gì để bảo vệ tính mạng và sự an toàn của con người?
  • Có nên sử dụng vũ lực – tối đa là, và bao gồm cả, bạo lực dẫn đến chết người – để giải quyết tình huống không?
  • Ai sẽ trở thành trọng tâm hoặc đối tượng của một cuộc điều tra hình sự?
  • Kế hoạch tốt nhất để bắt giữ (những) người chịu trách nhiệm cho một hành vi tội phạm là gì?
  • Ai sẽ bị tìm kiếm và nhà của họ sẽ bị khám?
  • Ai sẽ bị giam giữ hoặc bị bắt giữ và hỏi cung cho một hành vi tội phạm?
  • Ai sẽ có cáo buộc hình sự được tuyên thệ chống lại họ?
  • Ai đó sẽ bị xét xử hình sự?
  • Quyền tự do của ai sẽ bị đe dọa?
  • Công lý sẽ được phụng sự?
  • Cộng đồng sẽ được bảo vệ?

Để có những kết quả khả dĩ, điều quan trọng là điều tra viên phải luôn sẵn sàng giải thích suy nghĩ và hành động của họ trước tòa án. Chẳng hạn, khi một điều tra viên được tòa án hỏi, “Làm thế nào anh đi đến kết luận đó để thực hiện hành động đã chọn của mình?”, một điều tra viên phải có thể nói rõ quá trình tư duy của mình, và trình bày các sự kiện và bằng chứng mà mình xem xét để đưa ra kết luận và hình thành cơ sở hợp lý cho hành động và quá trình ra quyết định của mình trong điều tra. Đối với một điều tra viên nói chuyện với tòa án, quá trình này cần phải rõ ràng và được xác nhận thông qua việc trình bày rõ ràng tư duy dựa trên bằng chứng và hành động chính đáng về mặt pháp lý. Tư duy phải minh họa một đường lối dựa trên bằng chứng để hình thành cơ sở hợp lý cho niềm tin và hành động tiếp theo. Tư duy cũng phải minh họa sự xem xét của luật thành văn và luật án lệ liên quan đến vấn đề đang được điều tra.

Xem xét trách nhiệm giải trình kết quả này, điều cần thiết là các điều tra viên cảnh sát phải có cả kỹ năng nhiệm vụ và kỹ năng tư duy để thu thập và phân tích bằng chứng ở cấp độ sẽ được hệ thống tư pháp hình sự chấp nhận. Điều tra là thu thập và phân tích bằng chứng. Để được tòa án chấp nhận, nó phải được thực hiện theo cách có cấu trúc tuân thủ các quy tắc pháp lý và các quá trình thu thập chứng cứ thích hợp. Ngoài ra, đó phải là một quá trình mà điều tra viên đã ghi lại, có thể nhớ lại và nêu rõ chi tiết để chứng minh tính hợp lệ của cuộc điều tra.

Rõ ràng, không ai có thể duy trì trạng thái cảnh giác liên tục khi họ luôn đánh giá, ghi chép và xác định tính hợp lệ của mọi thông tin họ gặp phải. Tuy nhiên, khi làm nhiệm vụ, điều tra viên cảnh sát thường cần phải làm điều này. Đối với một điều tra viên cảnh sát, đây cần là một quá trình có ý thức về sự tập trung và “chuyển sang” (“switched on”) mức độ thận trọng cao hơn để thu thập, đánh giá và xác nhận thông tin một cách thận trọng hơn trong khi làm nhiệm vụ. Một điều tra viên cảnh sát phải làm chủ tư duy phân tích ở mức cao hơn và có trách nhiệm hơn cho cả ứng phó điều tra chiến thuật và chiến lược. Điều tra viên cảnh sát “switched on” phải:

  • Ứng phó thích hợp với các tình huống mà họ phải bảo vệ tính mạng và sự an toàn của con người
  • Thu thập tối đa bằng chứng và thông tin có sẵn từ mọi người và các địa điểm
  • Nhận biết (những) tội phạm có thể được mô tả theo mẫu thực tế
  • Bảo quản và ghi lại tất cả bằng chứng và thông tin
  • Phân tích một cách kỹ lưỡng tất cả các thông tin và bằng chứng có sẵn
  • Xây dựng kế hoạch điều tra hiệu quả

Hành động một cách chiến lược bằng cách phát triển các căn cứ hợp lý để xác định và bắt giữ những người chịu trách nhiệm cho các hành vi tội phạm hoặc để loại bỏ những người bị nghi ngờ sai

Hầu hết các khóa đào tạo cảnh sát truyền thống cung cấp cho các cảnh sát mới nhiều giờ hướng dẫn về các kỹ năng nhiệm vụ điều tra. Tuy nhiên, việc học các kỹ năng tư duy điều tra được mong đợi ​​sẽ phát triển thông qua kinh nghiệm thực địa, học hỏi từ những sai lầm và về hướng dẫn công việc. Việc học này không phải lúc nào cũng diễn ra hiệu quả, và những kỳ vọng chung của hệ thống tư pháp đang phát triển theo mô hình mà ở đó có rất ít sự khoan dung đối với việc học dựa trên sai lầm.

Cuộc điều tra hình sự về các tội phạm nghiêm trọng luôn thu hút đáng kể sự quan tâm, lo ngại và thậm chí là sự mê hoặc đáng sợ từ công chúng, giới truyền thông và hệ thống tư pháp. Các hành động và điều tra của cảnh sát đã được ghi chép và mổ xẻ bởi các ủy ban điều tra và giới truyền thông. Từ tội ác của những kẻ giết người hàng loạt như Paul Bernardo (Campbell, 1996) và Robert Pickton (Oppal, 2013) đến những kết án sai lầm trong lịch sử của David Milgaard (MacCallum, 2008) và Guy Paul Morin (Kaufman, 1998), những tội ác trong đời thực được xem xét kỹ lưỡng và các cuộc điều tra các tội phạm này được kiểm tra và đánh giá một cách xét nét.

Khi phê bình điều tra trong quá khứ, người ta thường đặt các loại câu hỏi tương tự:

  • Có khả năng bắt nhầm hoặc kết án nhầm người không?
  • Có thể có những người khác liên quan không?
  • Tất cả các nghi phạm khả dĩ đã được loại bỏ đúng cách?
  • Thông tin có được chia sẻ đúng cách giữa các cơ quan cảnh sát không?
  • Các điều tra viên có bỏ lỡ điều gì không?
  • Có phải tất cả các bằng chứng được tìm thấy không?
  • Bằng chứng đã được giải thích đúng chưa?
  • Các lý thuyết điều tra đã được phát triển đúng và đi đến kết luận chính xác chưa?
  • Tầm nhìn đường hầm (tunel vision) có xảy ra và làm chệch hướng điều tra không?

Ngày nay, tính minh bạch trong toàn bộ hệ thống tư pháp hình sự và công khai bằng chứng thông qua các báo cáo trên truyền thông giúp công chúng và giới truyền thông kiểm tra quá trình điều tra dễ dàng hơn nhiều. Việc tiếp cận của công chúng và truyền thông đối với thông tin về các kỹ thuật điều tra của cảnh sát và các công cụ pháp y đã tạo ra những khán giả hiểu biết hơn về công việc của cảnh sát. Khả năng của cả phương tiện truyền thông xã hội và truyền thông truyền thống cho phép tranh luận công khai đã tạo ra một nhận thức xã hội trong đó việc điều tra các tội phạm nghiêm trọng giờ đây được kỳ vọng ở một tiêu chuẩn cao hơn.

Người ta chỉ cần nhìn vào các giám sát tư pháp lịch sử và đương đại và các thẩm vấn công khai để đánh giá rằng có một kỳ vọng là các điều tra viên cảnh sát và các tổ chức cảnh sát duy trì và chứng minh năng lực cao. Trong một giám sát tư pháp, thường là quá muộn nếu một điều tra viên phát hiện ra rằng họ đã theo đuổi giả thuyết sai hoặc họ đã không phân tích một mẩu thông tin hay bằng chứng quan trọng. Những tình huống này có thể dẫn đến thay đổi nghề nghiệp hoặc thậm chí kết thúc sự nghiệp của điền tra viên. Một điều tra viên giỏi cần có ý thức về tư duy của chính mình và tư duy đó cần phải là một quy trình có chủ định.

 

Chủ đề 3: Chặng đường đến các phương pháp điều tra thời hiện đại

Ngày nay, điều tra tội phạm là một thuật ngữ bao gồm một dải rộng các chuyên ngành nhằm xác định cách thức các sự kiện xảy ra và để thiết lập một mô hình thực tế dựa trên bằng chứng để chứng minh sự có tội hoặc sự vô tội của một người bị buộc tội trong một vụ án hình sự. Trong một số trường hợp, khi một người được phát hiện có hành vi phạm tội và bị bắt tại hiện trường, việc điều tra tội phạm không phải là một công việc phức tạp. Tuy nhiên, trong trường hợp vụ án hình sự được phát hiện sau khi sự việc xảy ra hoặc thủ phạm không rõ ràng, quá trình điều tra tội phạm trở nên phức tạp và kéo dài hơn.

Mặc dù trong cả hai trường hợp, điều tra viên hình sự phải tuân theo các thực hành trong việc xác định, thu thập, ghi chép và bảo quản bằng chứng; trong trường hợp chưa biết nghi phạm, các kỹ năng tư duy phân tích, phát triển lý thuyết và xác nhận các sự kiện phải được đưa vào hoạt động.

Nghề điều tra tội phạm đã phát triển kể từ khi ra đời chính sách hiện đại vào giữa những năm 1700, khi Chánh án Tòa án Bow Street, Henry Fielding, tổ chức một nhóm công dân tình nguyện mặc thường phục và giao nhiệm vụ cho họ tham dự các vụ án hình sự và điều tra tội phạm. Nhóm này được biết đến với cái tên Bow Street Runners. Sự tồn tại của họ nói lên một sự thừa nhận từ sớm rằng tham dự một hiện trường vụ án để thu thập thông tin là một chiến lược kịp thời và hiệu quả để khám phá sự thật của những gì đã xảy ra (Hitchcock, 2015).

Từ những điều tra viên ban đầu này, một trong những trường hợp quan trọng đầu tiên sử dụng điều tra dựa trên bằng chứng pháp y đã được ghi lại. Tóm tắt báo cáo của McCrery (2013) trong cuốn sách Nhân chứng im lặng; trong một trường hợp đáng chú ý được ghi lại vào năm 1784, Bow Street Runners đã lấy ra một mẩu giấy bông rách từ vết thương do đạn ở đầu một nạn nhân đã bị bắn ở khoảng cách gần (at point-blank range). Trong thời kỳ đầu của súng cầm tay, súng hỏa mai và súng lục cần được nạp đạn. Để nạp một vũ khí, thuốc súng sẽ được đổ xuống nòng súng, và sau đó một mẩu giấy bông sẽ được đặt vào vị trí trên đỉnh của thuốc súng bằng một thanh kim loại dài. Giấy bông được sử dụng trong quá trình nạp này chỉ là một mẩu giấy khô dày, thường được xé từ một tờ giấy lớn hơn được người bắn giữ lại để dùng cho lần bắn tiếp theo. Viên đạn bi súng hỏa mai sẽ được đẩy xuống nòng súng trên đầu tờ giấy bông. Khi súng được bắn, tờ giấy bông sẽ bị bật ra bởi thuốc súng phát nổ, do đó đẩy viên đạn chì ra khỏi nòng súng như một viên đạn chết người. Quá trình nạp đạn này đòi hỏi người bắn phải sở hữu thuốc súng khô, giấy bông và đạn bi để nạp lại và làm cho vũ khí sẵn sàng khai hỏa. Bow Street Runners đã xem xét thực hành nạp vũ khí này và biết rằng người bắn súng có thể đang sở hữu giấy bông. Khi tìm kiếm nghi phạm chính của họ, họ đã thấy anh ta sở hữu loại giấy đó và, trong một sự đổi mới pháp y thông minh trong thời của họ, họ đối sánh một cách vật lý các cạnh rách của tờ giấy được tìm thấy trong vết thương của nạn nhân với một tờ giấy lớn hơn được tìm thấy trong túi của nghi phạm. Từ bằng chứng này, bị cáo đã bị kết án về tội giết người (McCrery, 2013).

Việc sử dụng đối sánh pháp y này là một ví dụ về bằng chứng pháp y tình huống (circumstantial forensic evidence) được sử dụng để liên kết một nghi phạm với một hành vi phạm tội. Loại bằng chứng pháp y ban đầu này cũng minh họa cho sự khởi đầu của những gì tồn tại ngày nay như một loạt các khoa học pháp y để hỗ trợ các điều tra viên trong việc phát triển bằng chứng. Đây cũng là khởi đầu của bằng chứng pháp y được công nhận là một công cụ điều tra. Năm 1892, không lâu sau cuộc điều tra Bow Street Runners, Sir Francis Galton đã xuất bản cuốn sách về nghiên cứu dấu vân tay. Năm 1900, tác phẩm của Galton đã được sử dụng bởi Sir William Henry, người đã phát triển và thực hiện Hệ thống phân loại dấu vân tay Henry, là cơ sở của hệ thống phân loại dấu vân tay vẫn còn được sử dụng cho đến ngày nay (Henry, 1900).

Chỉ một vài năm trước đó, vào năm 1886, Sở Cảnh sát Thành phố New York đã sử dụng nhiếp ảnh để lập phòng trưng bày ảnh nghi phạm (Rogues Gallery) đầu tiên. Phòng trưng bày đầu tiên này là một bộ sưu tập ảnh chụp của những tên tội phạm đã bị phát giác, được chụp vào thời điểm bị kết án gần nhất về một tội phạm (Byrnes, 2015). Trước bộ sưu tập ảnh tội phạm có tổ chức này, các đặc điểm khuôn mặt trên áp phích truy nã đã bị giới hạn trong các bức vẽ phác họa của họa sĩ. Với những tiến bộ trong nhiếp ảnh, việc có khả năng lưu giữ hình ảnh thực tế của khuôn mặt nghi phạm là một bước tiến đáng kể. Với sự đổi mới của nhiếp ảnh này, việc sử dụng ảnh chân dung và nhận dạng ảnh của nghi phạm thông qua nhận dạng khuôn mặt bắt đầu phát triển.

Những cải tiến pháp y ban đầu trong quá trình tiến hóa của điều tra tội phạm (như đối sánh vật lý, nhận dạng dấu vân tay và hệ thống nhận dạng khuôn mặt) cho thấy các điều tra viên cần phát triển kiến thức và kỹ năng để xác định và sử dụng vật chứng cho phép liên kết tình huống giữa người, địa điểm, và các sự kiện để chứng minh sự thật của các vụ án hình sự. Vật chứng là kho báu bị chôn vùi cho các điều tra viên tội phạm. Vật chứng có thể được thu thập, bảo quản, phân tích và sử dụng tại tòa án để chứng minh một sự thật. Vật chứng có thể được sử dụng để kết nối một bị cáo với nạn nhân của họ hoặc được sử dụng tại hiện trường vụ án để xác định sự có tội hoặc sự vô tội. Bằng chứng pháp y có thể chứng minh một thực tế giúp xác nhận hoặc phủ nhận chứng cứ ngoại phạm của bị cáo, hoặc một thực tế giúp xác nhận hoặc phủ nhận lời khai của một nhân chứng.

Một phát triển quan trọng khác về bằng chứng pháp y từ những năm 1800 bắt đầu với công việc của điều tra viên tội phạm người Pháp, ông Alphonse Bertillon, người đã phát triển hệ thống ghi lại các phép đo vật chứng (Petherick, 2010). Một trong những sinh viên của Bertillon, Tiến sĩ Edmond Locard, một bác sĩ y khoa trong Thế chiến thứ nhất, đã tiếp tục công việc của Bertillon với lý thuyết của riêng mình rằng một người luôn để lại dấu vết nào đó của mình tại hiện trường vụ án và luôn mang theo dấu vết nào đó của hiện trường khi họ rời đi. Giả thuyết này được gọi là Lý thuyết Trao đổi Locard (Petherick, 2010). Cho đến ngày nay, lý thuyết Locard làm nên các khái niệm nền tảng của lý thuyết chuyển giao bằng chứng (evidence transfer theory). Ngày nay, khả năng của các chuyên gia pháp y trong việc xác định nghi phạm và kiểm tra vật chứng đã tăng theo hàm mũ khi so sánh với việc trị an ban đầu. Những khám phá khoa học trong một loạt các ngành học đã góp phần vào sự phát triển và tiến hóa của các chuyên ngành pháp y về đối sánh vật lý, phân tích hóa học, dấu vân tay, hình thái chân trần (barefoot morphology), nha khoa, độc học, đạn đạo, phân tích tóc, sợi và sinh trắc học, côn trùng học, và gần đây nhất là phân tích DNA.

Nhiều chuyên ngành khoa học pháp y đòi hỏi nhiều năm đào tạo và thực hành bởi người hành nghề để phát triển trình độ chuyên môn cần thiết, theo đó tòa án sẽ chấp nhận bằng chứng so sánh và kết luận về sau của chuyên gia sau đó. Rõ ràng, một điều tra viên thời hiện đại không thể trở thành một học viên thành thạo trong tất cả chuyên ngành này. Tuy nhiên, điều tra viên thời hiện đại phải cố gắng trở thành một nhà tổng hợp tài nguyên pháp y với sự hiểu biết về các công cụ có sẵn và phải là chuyên gia trong việc triển khai các công cụ đó để xây dựng tình huống pháp y (forensic case).

Trong một cuộc điều tra tội phạm, thường có vô số khả năng cạnh tranh lẫn nhau có tác dụng hướng dẫn điều tra viên phát triển giả thuyết về cách xảy ra một vụ việc hình sự với các liên kết tình tiết chỉ ra ai đã phạm tội. Các giả thuyết và khả năng cạnh tranh lẫn nhau cần phải được xem xét và đánh giá dựa trên các sự kiện và vật chứng hiện có. Cuối cùng, chỉ có bằng chứng tình tiết (circumstantial evidence) mạnh mẽ dưới dạng tang vật, lời khai từ các nhân chứng đáng tin cậy hoặc lời thú tội từ bị cáo mới có thể làm tòa án thỏa mãn để không còn sự nghi ngờ hợp lý (reasonable doubt). Quan trọng là, chất lượng của một cuộc điều tra và năng lực của các điều tra viên sẽ được thể hiện thông qua cách mà bằng chứng được định vị, bảo quản, phân tích, giải thích và trình bày.

Trong quá khứ, các cảnh sát thường đảm nhận vai trò chính là những người ứng phó đầu tiên và là người gìn giữ hòa bình. Điều tra hình sự chỉ là một phần giới hạn của những nhiệm vụ đó. Giờ đây, với khả năng tiếp cận với một loạt các công cụ pháp y hiệu quả, bất kỳ nhân viên cảnh sát nào, bất kể nhiệm vụ của họ, đều có thể thấy mình trong một kịch bản đòi hỏi họ phải có kỹ năng điều tra ở mức độ nào đó. Kỳ vọng của các điều tra viên cảnh sát là họ được đào tạo tốt với kiến thức và kỹ năng để ứng phó và điều tra tội phạm. Các kỹ năng này sẽ bao gồm:

  • Ứng phó sự cố nghiêm trọng
  • Giải thích luật hình sự và công nhận hành vi phạm tội
  • Quản lý hiện trường vụ án
  • Nhận dạng và bảo quản bằng chứng
  • Dùng các công cụ pháp y để phân tích bằng chứng
  • Đánh giá nhân chứng và phỏng vấn
  • Hỏi cung và thẩm vấn nghi phạm
  • Chuẩn bị hồ sơ và tài liệu
  • Trình bày bằng chứng trước tòa

Ngoài các kỹ năng nhiệm vụ của quá trình và thực hành điều tra, các điều tra viên cũng phải có kỹ năng tư duy phân tích chiến lược để đánh giá rủi ro và ứng phó sự cố hiệu quả. Họ phải có khả năng áp dụng lý luận suy diễn, quy nạp và định lượng để kiểm tra bằng chứng và hình thành căn cứ hợp lý để xác định và bắt giữ nghi phạm.

Tham gia vào các kỹ năng tư duy cấp cao hơn này là thước đo chuyên môn và tính chuyên nghiệp cho các điều tra viên. Khi hệ thống tư pháp hiện tại của chúng ta tiếp tục thay đổi và phát triển, nó ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào công nghệ thông tin và khoa học pháp y. Với sự phát triển này, nhu cầu các điều tra viên chứng minh trình độ chuyên môn cao hơn sẽ tiếp tục gia tăng.

 

Chủ đề 4: Con đường để trở thành điều tra viên

Đối với nhiều người, ý tưởng của họ về những gì một điều tra viên làm dựa trên những gì họ thấy, nghe và đọc trên phương tiện truyền thông, phim ảnh, TV và sách. Các mô tả này đặc trưng cho các diện mạo khác nhau, từ những kẻ nổi loạn bạo lực dị thường đấu tranh cho công lý bằng các quy tắc của riêng họ, cho đến các điều tra viên pháp y thủ pháp, những người đã hoàn thành công việc bằng cách sử dụng khoa học và công nghệ tiên tiến. Sự thật là, một cuộc điều tra tốt và các điều tra viên trong đời thực không có khả năng tạo ra một kịch bản hư cấu hấp dẫn. Các điều tra viên chuyên nghiệp và cuộc điều tra có thẩm quyền là về các quá trình tẻ nhạt của việc tìm kiếm và phân loại sự thật thông qua các bằng chứng và thông tin. Đó là về việc loại bỏ các khả năng, xác nhận các sự kiện và ghi lại bằng chứng, trong suốt lúc tham gia vào một quá trình tư duy có chủ định, phân tích và làm việc chiến lược hướng tới các mục tiêu định trước; không nói đến việc viết ghi chú và báo cáo mở rộng.

Đôi khi, các điều tra viên cảnh sát mới, ban đầu, bị ảo tưởng bởi các đại diện hư cấu, chỉ để tìm hiểu, bằng kinh nghiệm, rằng mặc dù có những khoảnh khắc hành động, hài lòng và phấn khích, công việc điều tra thực sự còn hơn cả khó khăn và cần chú ý thận trọng.

Một cách hiểu sai phổ biến khác về công việc là quan niệm rằng điều tra là lĩnh vực độc quyền của một cảnh sát. Mặc dù điều này có thể đúng trong sự phát triển trước đó của nghề điều tra, nhưng ngày nay, nó đã trở nên ít đúng hơn nhiều. Sự thay đổi này là kết quả của việc ban hành nhiều đạo luật về thủ pháp đòi hỏi kiến thức, kỹ năng và tư duy điều tra. Các điều tra viên tuân thủ (compliance investigator) duy trì việc tuân thủ các hoạt động pháp quy thường liên quan đến thủ pháp đối với các ngành mà việc không tuân thủ có thể gây ra rủi ro đáng kể đe dọa tính mạng và sự an toàn của con người hoặc môi trường. Các hoạt động pháp quy thường là trách nhiệm ở bậc cao nhất. Những gì khởi đầu như một vi phạm về pháp quy có thể leo thang thành hành vi tội phạm. Các kỹ năng điều tra của các điều tra viên tuân thủ và thanh tra phải có khả năng đáp ứng các bài kiểm tra năng lực tương tự như cảnh sát.

Không phải ai cũng có thể trở thành một điều tra viên. Có các đặc điểm cá nhân nhất định có xu hướng được tìm thấy ở các điều tra viên giỏi. Trong số các đặc điểm này là:

  • Đam mê theo đuổi sự thật để khám phá sự thật, với mục tiêu đóng góp cho tiến trình công lý
  • Hướng chi tiết (detail-oriented), tinh ý với thực tế và thời gian của các sự kiện
  • Là người tư duy linh hoạt, tránh tầm nhìn đường hầm và có khả năng kiểm tra đồng thời các lý thuyết thay thế trong khi khách quan sử dụng bằng chứng làm biện pháp để xác nhận hoặc không xác nhận tính hợp lệ của các lý thuyết
  • Kiên nhẫn và có khả năng duy trì cam kết lâu dài để đi đến kết luận
  • Kiên trì và không cho phép thất bại và dẫn đến sai lầm làm ngăn cản những nỗ lực tiếp nối
  • Có kiến thức và kỹ năng trong các nhiệm vụ, quá trình và thủ tục trong khi tôn trọng các cơ quan pháp lý và các giới hạn của việc thực hiện hành động
  • Tự nhận thức được thiên kiến và ứng phó trực quan, và tìm kiếm bằng chứng để hỗ trợ trực giác
  • Được đào tạo về các quá trình tư duy phê phán giúp cung cấp phân tích đáng tin cậy về bằng chứng mà về sau có thể được mô tả và nói rõ trong các báo cáo và lời khai trước tòa án

Xem xét danh sách các đặc điểm này, chúng ta có thể cảm kích rằng các điều tra viên giỏi là những người có thái độ, năng khiếu và quá trình tư duy có chủ định. Các đặc điểm này là một phần của tâm trí điều tra (investgative mindset). Mặc dù bạn không thể dạy ai đó đam mê khám phá sự thật, bất kỳ ai có các đặc điểm này đều có thể hướng tới việc phát triển và hoàn thiện các đặc điểm và kỹ năng khác của họ để trở thành một điều tra viên. Phát triển tâm trí điều tra là một hành trình học hỏi, và bước đầu tiên của hành trình này là trở nên có ý thức về và tham gia vào các quá trình tư duy của riêng mình.

Hướng tới điểm này, điều tra viên phải luôn chú ý đến đề xuất của Shah và Oppenheimer (2008) trong cuốn sách Heuristic Made Easy – Khung giảm thiểu nỗ lực. Shah và Opprenheimer nhắc nhở chúng ta rằng mọi người đã học cách trở thành những người tư duy nhanh bằng cách sử dụng các lối tắt tinh thần (mental short cuts), được gọi là heuristic, trong nỗ lực đưa ra quyết định nhanh chóng và giải quyết vấn đề chúng ta gặp phải. Họ đưa ra đề xuất rằng heuristic làm giảm công việc ra quyết định bằng cách cung cấp cho người dùng khả năng xem xét một số tín hiệu và / hoặc lựa chọn thay thế trong quá trình ra quyết định, do đó làm giảm công việc truy xuất và lưu trữ thông tin trong bộ nhớ. Điều này hợp lý hóa quá trình ra quyết định bằng cách giảm lượng thông tin tích hợp cần thiết trong việc đưa ra lựa chọn hoặc thông qua phán quyết (Shah, 2008).

Trong cuốn sách này, chúng tôi sẽ chỉ ra rằng các lối tắt heuristic này thường là các ứng phó theo bản năng hoặc trực giác, trái ngược với các ứng phó dựa trên bằng chứng, có lý do hợp lý. Mặc dù chúng có thể phục vụ chúng ta tốt trong suy nghĩ hàng ngày của chúng ta, nhưng chúng ta phải theo dõi chúng và nhận ra những thiếu sót của chúng khi chúng ta được yêu cầu điều tra các vấn đề mà kết quả rất quan trọng.

Để đạt được tâm trí điều tra và để là một điều tra viên khách quan, điều quan trọng là phải nhận thức được các lối tắt heuristic và các xu hướng điều tra tiêu cực khác có thể trở thành trở ngại cho kết quả thành công. Ví dụ, một điều tra viên giỏi cần phải tập trung vào mục tiêu giải quyết vụ án và thực hiện bắt giữ một cách kịp thời, nhưng trở nên quá tập trung vào mục tiêu có thể dẫn đến “tầm nhìn đường hầm”, đó là sự tập trung nhất quyết (single-minded focus) vào một nghi phạm hoặc giả thuyết ưa thích đến mức các nghi phạm hoặc giả thuyết thay thế khác bị bỏ qua. Hơn nữa, một điều tra viên giỏi cần phải chịu trách nhiệm và giải trình về kết quả của cuộc điều tra; tuy nhiên, nếu bị đưa đến mức cực đoan, một điều tra viên có thể nắm quyền sở hữu hoàn toàn cuộc điều tra, dẫn tới loại trừ việc cho phép người khác đưa ra các ý tưởng để hướng dẫn và ảnh hưởng. Cuối cùng, một điều tra viên giỏi cần phải cẩn thận về lượng thông tin được chia sẻ với người khác. Tuy nhiên, bí mật quá mức có thể ức chế chia sẻ thông tin với những người có thể đóng góp vào kết quả thành công của vụ án. Tư duy như một điều tra viên khách quan, thường cần phải xem xét và đánh giá một số giả thuyết hoặc khả năng cạnh tranh lẫn nhau về cách một tội phạm được thực hiện và nghi phạm có thể là ai. Thông thường, các điều tra viên mới, hoặc những người không quen với tâm trí khách quan, sẽ tập trung vào một giả thuyết ưa thích về các sự kiện hoặc một nghi phạm ưa thích, và vội vàng là người đầu tiên đi đến kết luận và thực hiện bắt giữ. Có một cái bẫy trong các lối tắt và sự vội vàng tập trung để thực hiện một cuộc bắt giữ nhanh chóng. Trong cái bẫy này, các nghi phạm và giả thuyết khả thi khác bị bỏ qua hoặc loại bỏ quá nhanh chóng. Điều này đôi khi khiến các cuộc điều tra bị chệch hướng bởi “tầm nhìn đường hầm”. Tệ hơn nữa, tầm nhìn đường hầm có thể dẫn đến việc giải thích sai bằng chứng, cuối cùng dẫn đến cáo buộc chống lại một người vô tội, trong khi người có tội vẫn chưa được tìm ra.

Để tóm tắt những quan sát của Kim Rossmo (2009) trong cuốn sách về các thất bại của điều tra tội phạm, ta có thể nói rằng “tầm nhìn đường hầm” và sự thiếu khách quan đã là một phần của những phát hiện trong nhiều cuộc thẩm vấn công chúng. Các ủy viên tại các cuộc thẩm vấn công khai đã kết luận rằng, thi thoảng, các điều tra viên không ngừng theo đuổi một nghi phạm ưa thích. Đôi khi, một nghi phạm thay thế đáng lẽ phải rõ ràng, hoặc có bằng chứng ngoại phạm đã khiến các điều tra viên dừng lại và đánh giá lại nghi phạm ưa thích của họ, nhưng tầm nhìn đường hầm đã được đặt ra và tâm trí điều tra khách quan đã bị mất (Rossmo, 2009).

Tương tự, và không hẳn là không liên quan đến tầm nhìn đường hầm, các ứng phó tư duy tiêu cực khác cũng xuất hiện và có thể được quan sát trong các hành vi về quyền sở hữu vụ án và bí mật quá mức. Dường như việc một điều tra viên nắm quyền sở hữu cuộc điều tra của mình, và duy trì một mức độ bí mật nào đó trong việc quản lý thông tin liên quan đến vụ án, là hoàn toàn chấp nhận được và thậm chí đáng mong muốn. Tuy nhiên, như chuyện xảy ra với bất kỳ hành vi nào của con người, nó có thể ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả điều tra. Thông tin được chia sẻ phù hợp với đúng người thường có thể tiết lộ các kết nối đóng góp vào bằng chứng của vụ án và các điều tra viên phải để ngỏ cho việc chia sẻ thích hợp này. Nhiều ví dụ tiêu cực có thể được tìm thấy khi một điều tra viên cảnh sát, hoặc thậm chí là một nhóm điều tra, đã chấp nhận thái độ rằng việc tiến hành một cuộc điều tra là lãnh địa độc quyền của riêng họ (Campbell, 1996). Với quyền sở hữu độc quyền đó, không ai khác có quyền hoặc được phép tham gia và thông tin liên quan cần chia sẻ với người khác có thể được bảo vệ một cách đố kỵ. Các cơ hội bị bỏ lỡ cho các điều tra viên khác để xem xét các chi tiết mà có thể kết nối một hình mẫu thực tế tương tự hoặc tạo kết nối với một nghi phạm khả thi.

 

Chủ đề 5: Hiểu tâm trí điều tra

Khi chúng ta nói về tâm trí điều tra, một phần, chúng ta đang nói về sự tự nhận thức (self-awareness) và sự nhận thức có tổ chức (organizational-awareness) để tránh kết quả tiêu cực. Sau khi học và thực hành, nhận thức này có thể là một mạng lưới an toàn chống lại các thực hành điều tra có tính phá hoại (tức là tầm nhìn đường hầm, quyền sở hữu vụ án và bí mật quá mức). Điều tra hình sự có thể đòi hỏi tư duy phức tạp trong đó điều tra viên phải đánh giá và xác định tính hợp lệ của thông tin và bằng chứng để hướng dẫn quá trình điều tra. Tư duy này cố gắng chuyển từ một vị trí của sự nghi ngờ đơn thuần sang một trong những căn cứ hợp lý cho niềm tin để thực hiện một vụ bắt giữ và cuối cùng là nêu rõ bằng chứng mà tòa án dựa vào để có thể đưa ra kết luận về tội phạm vượt ra sự nghi ngờ hợp lý. Đây là một quá trình thu thập và ghi lại thông tin có ý thức, và tư duy phân tích để tạo cơ sở hợp lý cho niềm tin hỗ trợ các hành động bào chữa được của việc bắt giữ và buộc tội. Từ quá trình có ý thức này, điều tra viên tại tòa án có thể đưa ra một bản đồ tinh thần (mental map) để mô tả cách họ đưa ra kết luận của mình. Khi chúng ta tiến tới tìm hiểu quá trình tư duy điều tra, hãy ghi nhớ rằng:

  • Tư duy điều tra là tư duy kỷ luật, và các điều tra viên phải nhận biết và kiểm soát có ý thức tư duy của chính họ
  • Đây là một quá trình tham gia có chủ định ở mức độ cao về tư duy phân tích
  • Quá trình tư duy này được tập trung về mặt chiến lược, ưu tiên các kế hoạch và hành động điều tra để đạt được kết quả
  • Xây dựng bản đồ tinh thần, điều tra viên lựa chọn thận trọng một đường lối điều tra để theo.
  • Anh ta hoặc cô ta theo đường lối đó biết rằng kết quả của cuộc điều tra sẽ chỉ được tòa án chấp nhận nếu lý do căn bản của đường lối đó có thể được nhớ lại một cách chính xác và chi tiết.

 

Tóm tắt

Trong chương này, chúng tôi đã xác định rằng các quá trình tư duy điều tra là khác biệt rõ rệt với các quá trình tư duy mà hầu hết mọi người sử dụng trong cuộc sống hàng ngày của họ. Các điều tra viên cảnh sát có các trách nhiệm quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ của họ, đòi hỏi họ phải học cách suy nghĩ và ứng phó một cách có cấu trúc và có trách nhiệm. Đến đây, chúng tôi đã minh họa một số quá trình tư duy tiêu cực phổ biến mà các điều tra viên phải tránh, và chúng tôi đã xem xét các đặc điểm và giá trị cần được theo đuổi để trở thành một điều tra viên tội phạm. Chúng tôi đã mô tả tư duy có cấu trúc và có trách nhiệm là phương tiện để đạt được một tâm trí điều tra. Bạn sẽ thấy rằng tư duy điều tra và tâm trí điều tra là chủ đề xuyên suốt cuốn sách này.

 

Câu hỏi nghiên cứu

  • Đưa ra hai lý do tại sao điều rất quan trọng đối với một điều tra viên cảnh sát là thường xuyên đánh giá xét nét tất cả các thông tin họ gặp phải.
  • Đưa ra hai lý do tại sao bằng chứng thu thập được như một phần của cuộc điều tra phải được thu thập theo cách có cấu trúc.
  • Ý chúng ta là gì khi chúng ta nói rằng một điều tra viên phải “switched on”?
  • Tóm tắt Lý thuyết Trao đổi Locard (Petherick, 2010) trong một câu duy nhất.
  • Liệt kê bảy đặc điểm thường thấy ở các điều tra viên giỏi.
  • Các kỹ năng mà một cảnh sát thời hiện đại phải đạt được để ứng phó với các sự kiện và điều tra tội phạm là gì?
  • Bước đầu tiên trong việc phát triển tâm trí điều tra là gì?
  • Mức độ kiến thức pháp y mà một điều tra viên thời hiện đại phải đạt được để trở thành một điều tra viên hiệu quả là gì?
  • Tại sao các điều tra viên cảnh sát phải chú ý đến các lối tắt heuristic được thảo luận bởi Shaw và Oppenheimer (2008)?
  • Ngoài các lối tắt heuristic, ba xu hướng điều tra tiêu cực khác có thể trở thành trở ngại cho kết quả điều tra thành công là gì?
  • Tại sao các điều tra viên phải lưu tâm đến việc giữ bí mật quá mức?

(còn tiếp)

Nguồn: Rod Gehl & Darryl Plecas, Justice Institute of British Columbia 

dịch bởi Nguyễn Trang Nhung, đăng lần đầu trên  Mạng lưới Nghiệp đoàn

Xin ghi rõ nguồn để tôn trọng công sức của người dịch.


Danh sách những chương đã dịch:

(click để truy cập)

Chương 1: Giới thiệu

Chương 2: Một số khái niệm cơ bản quan trọng

 

 

Hits: 39

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *