Mạng lưới Nghiệp đoàn xin dịch và giới thiệu với các bạn một sổ tay về nghiệp vụ công đoàn, do Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) xuất bản vào năm 2002, mang tên “Trade Union Administration: A Caribbean Workers’ Education Guide”. Đây là một tài liệu tham khảo hữu ích, giúp chúng ta hình dung những thách thức mà công đoàn ở các nước đang phát triển có thể phải đối mặt trong quá trình toàn cầu hóa, cùng những phương thức quản lý cơ bản để vượt qua chúng.

Xin click vào ĐÂY để đọc những chương đã dịch, hoặc click vào ĐÂY để truy cập qua mục lục.

*

Chương 2:
Mục đích và vai trò của công đoàn

Mục tiêu:

– Xác định bản chất của công đoàn

– Hiểu về chức năng của một tổ chức công đoàn ở vùng Caribbean

 

2.1. Định nghĩa công đoàn

Công đoàn là tổ chức bao gồm các thành viên thuộc nhiều lĩnh vực, ngành nghề, và có chuyên môn đa dạng. Công đoàn có chức năng đại diện cho các thành viên của tổ chức tại công sở và trong xã hội. Đặc biệt, tổ chức thúc đẩy lợi ích của mình thông qua quá trình ban hành chính sách và thương lượng tập thể.

 

2.2. Mục đích của công đoàn

Ở mỗi quốc gia, các quy định về công đoàn (thường là Luật Công đoàn) sẽ đưa ra định nghĩa pháp lý về công đoàn và các mục tiêu của nó. Bộ Luật Quan hệ lao động 1976, được ban hành theo Đạo luật Quan hệ lao động và Tranh chấp công nghiệp 1975 của Jamaica, quy định các mục tiêu chính của công đoàn như sau:

“Mục tiêu chính của công đoàn là thúc đẩy lợi ích của các thành viên, đồng thời vẫn coi trọng lợi ích của toàn lực lượng lao động và lớn hơn là lợi ích của toàn quốc gia. Để đạt được mục tiêu này, các tổ chức công đoàn có nghĩa vụ duy trì thỏa thuận bằng việc đảm bảo hợp tác với nhà quản lý, để từ đó, thúc đẩy hiệu suất và các quan hệ công nghiệp.

Do đó, công đoàn phải:

– duy trì hợp tác với các nhà quản lý và các tổ chức công đoàn khác trong cùng lĩnh vực hoặc ở cấp địa phương để cùng thương lượng, tư vấn, và truyền thông, và để giải quyết các tranh chấp;

– đảm bảo các chuyên gia và thành viên của tổ chức có thể giám sát được mọi hoạt động của công đoàn;

– cung cấp các khóa đào tạo trong phạm vi năng lực và nghĩa vụ của công đoàn và trong các hoạt động thường xuyên của công đoàn;

– cung cấp cơ hội giáo dục bình đẳng giúp nâng cao năng lực các thành viên;

– phục vụ nhu cầu của các thành viên, và tạo ra các kênh đối thoại hiệu quả giữa nhân viên của công đoàn với các thành viên của nó;

– khuyến khích các thành viên tham gia vào hoạt động của công đoàn bằng việc tạo ra các phương tiện thuận lợi nhất cho họ, bao gồm cả tổng hợp và cung cấp thông tin;

– thông tin về quy định và chính sách của công đoàn;

– cung cấp dịch vụ tư vấn đầy đủ cho các thành viên, đặc biệt là giúp họ hiểu được các điều khoản và điều kiện lao động; và

– xác định xu hướng các quan hệ công nghiệp để giúp thành viên dự đoán và thích nghi với mọi thay đổi.”

Các quy định của nhà nước về những chức năng của công đoàn vẫn còn hạn chế, để phù hợp với mục đích lập pháp. Tuy nhiên, bản thân các tổ chức công đoàn cũng quy định chức năng của mình trong điều lệ tổ chức. Hầu hết đều thêm những chức năng khác bên cạnh những chức năng đã được nêu trên, bao gồm cả can thiệp kinh tế thông qua các khoản tài trợ từ các hoạt động hợp tác, kinh doanh của công đoàn, và vai trò chính trị…

 

2.3. Vai trò của công đoàn

Nói chung, có thể tóm tắt chức năng của các tổ chức công đoàn vùng Caribbean bằng những điều dưới đây:

– Vai trò chính trị, sử dụng quyền lực tập thể để đưa ra quyết định thay mặt các thành viên của nó và cộng đồng;

– Vai trò thị trường, bằng việc can thiệp vào việc thỏa thuận lương bổng và có ảnh hưởng đến nền kinh tế;

– Vai trò điều tiết, bằng việc tạo ra các tiêu chuẩn trong quan hệ lao động và các điều khoản và điều kiện;

– Vai trò dân chủ hóa, trong việc tạo ra tính dân chủ công nghiệp tại các công sở;

– Vai trò dịch vụ, trong việc thúc đẩy sự can thiệp của các thành viên;

– Vai trò thúc đẩy trong việc giúp phát triển tiềm năng của các thành viên; và

– Vai trò phúc lợi trong việc hỗ trợ các nhóm đặc biệt.

 

2.3.1. Vai trò chính trị

Trong nhiều trường hợp, các tổ chức công đoàn được thành lập tại vùng Caribbean trước khi có sự xuất hiện của các đảng phái chính trị (tiến hóa từ công đoàn). Kết quả cho mối liên hệ mật thiết này là hai kiểu tổ chức này thường xuyên được kết nối với nhau. Vào giai đoạn đầu của sự phát triển, một số tổ chức công đoàn có chức năng như những tổ chức chịu thuế, giúp tăng lương bổng của các thành viên, những người này có thể trở thành người bỏ phiếu chỉ bằng việc đạt được những yêu cầu cần thiết.

Phiếu bầu của các thành viên công đoàn rất quan trọng để giúp người lãnh đạo của lực lượng lao động trở thành chính trị gia. Ở tất cả các nước trong khu vực này, dù ở bất cứ thời điểm nào, lãnh đạo của các tổ chức công đoàn đều trở thành chính trị gia.

Thông qua việc lãnh đạo của mình, công đoàn có thể vận động cho những chính sách xã hội và chính sách lao động lớn hơn sẽ trở thành luật. Thêm nữa, họ có thể đảm bảo các quỹ đầu tư sẽ đổ vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng, từ đó, đường sá, nhà ở, và nhà vệ sinh công cộng sẽ tăng lên.

Thời gian gần đây, một vài khu vực đã tách ra khỏi sự lãnh đạo phát sinh từ mối liên hệ giữa công đoàn và các đảng phái chính trị. Nhiều lãnh đạo chính trị xuất thân từ luật sư, nhà kinh tế học, nhà khoa học nông nghiệp và những nghề nghiệp tương tự mà không cần đến sự hỗ trợ của công đoàn. Tuy nhiên, vẫn có những nhà lãnh đạo đạt được vị trí cao nhờ sự liên hệ của họ với công đoàn.

Nhiều tổ chức công đoàn có thể sử dụng tầm ảnh hưởng của họ, đôi khi cả quyền lực, để tác động đến các quyết định chính trị.

Nhiều người cũng nhận thấy quan hệ quyền lực là nền tảng cho các quan hệ công nghiệp, và công đoàn là tổ chức chính trị. Một số nhận thấy công đoàn biểu hiện quyền lực đối trọng với Nhà nước, và cả trong khu vực tư nhân, thay mặt cho các thành viên của nó (chủ yếu thuộc tầng lớp lao động).

Khi biểu hiện quyền lực chính trị của mình, công đoàn cần phải cẩn trọng với cơ cấu chính trị đảng phái trong cộng đồng. Ở một số khu vực, công đoàn vẫn liên hệ với các đảng phái chính trị. Ở những khu vực khác, mối liên hệ này ít khăng khít hơn. Ở những khi vực khác nữa, công đoàn duy trì việc đứng ngoài tiến trình chính trị đảng phái trong khi vẫn gây ảnh hưởng đến tiến trình đó, duy trì việc không cam kết cũng như không tham gia vào bất cứ đảng phái nào, và tạo dựng quyền lực chỉ dựa trên sự ủng hộ của các thành viên.

Trên thực tế, các đảng phái chính trị cũng đã củng cố và phát triển cơ chế riêng của nó, đặc biệt vì mục tiêu tranh cử. Chúng tạo ra địa vị và cơ hội cho thành viên của mình, và bớt dựa vào công đoàn hơn.

Bởi vì công đoàn có nền tảng và sự cam kết sâu sắc với các thành viên của mình – phần lớn đến từ tầng lớp lao động, nên chúng sẽ thường mâu thuẫn với các đảng phái chính trị – thành viên từ các tầng lớp khác nhau, liên minh với nhau, và hoạt động vì những lợi ích mà không phải lúc nào cũng là lợi ích của đa số.

Các chính sách ổn định hóa và tái cơ cấu của các đảng phái chính trị đáng ra phải có liên hệ với các phong trào lao động. Tuy nhiên, chúng lại dẫn tới sự tha hóa và gián đoạn mối quan hệ giữa các đảng phái và công đoàn.

Xu hướng đang lên trong khu vực là các tổ chức công đoàn không còn mối quan hệ khắng khít với các đảng phái chính trị nữa.

 

2.3.2. Vai trò thị trường

Vai trò thị trường, hay vai trò kinh tế, của các công đoàn là vai trò chiếm ưu thế của các tổ chức công đoàn vùng Caribbean. Công đoàn đứng ra thương lượng tiền công và lương bổng, giúp tăng lợi nhuận cho các doanh nghiệp và tăng sức mạnh của các thành viên của nó trong nền kinh tế.

Trong xã hội nơi đa phần mọi người đều là người làm công, vai trò của công đoàn trong việc điều tiết nền kinh tế địa phương cực kì quan trọng. Lương của người lao động là một yếu tố quan trọng để quyết định các sản phẩm, dịch vụ địa phương có thể cạnh tranh với các sản phẩm, dịch vụ bên ngoài hay không.

Ở nhiều quốc gia vùng Caribbean, nhà nước và công đoàn, khu vực tư và công đoàn luôn trong tình trạng căng thẳng về vai trò thị trường của công đoàn.

Do vai trò tương đối lớn của khu vực công (là người sử dụng lao động của khu vực Caribbean), những thỏa thuận tiền công và lương bổng từ khu vực công thường là thức đo cho thực trạng nền kinh tế ở hầu hết khu vực. Có một xu hướng là các thỏa thuận ở khu vực công thường được coi là biểu hiện cho mức độ dàn xếp ở các lĩnh vực khác của nền kinh tế. Và, có một giả định ngầm rằng chính phủ nên là ông chủ rộng rãi và hào phóng hơn những ông chủ khác trong cộng đồng. Cũng như một nhận thức rằng, chính phủ không bao giờ được nói rằng nó không thể trả lương, bởi nó có quyền sử dụng tiền thuế để trả cho khoản tăng lương.

Trong khi tối đa hóa lợi ích của các thành viên, công đoàn luôn nhận thức được sức ảnh hưởng từ những thỏa thuận của nó đến tình trạng lạm phát và tình trạng việc làm. Nhìn chung, các quốc gia vùng Caribbean đều có nền kinh tế mở, dựa vào thương mại. Trong nhiều trường hợp, lạm phát được quyết định bởi giá sản phẩm, dịch vụ nhập khẩu. Không có bằng chứng nào cho thấy rằng công đoàn phải chịu trách nhiệm cho xu hướng lạm phát đẩy chi phí ở khu vực này.

Ở một số quốc gia, công đoàn bị cáo buộc là góp phần gây ra tình trạng tiền công cao và chi phí lao động cao, dẫn tới tình trạng thất nghiệp do đầu tư không được khuyến khích, và các doanh nghiệp đang hoạt động thì do dự bởi chi phí cao.

Về tổng thể, các quốc gia vùng Caribbean không cung cấp thông tin về phân phối thu nhập để đánh giá sự biến động của công lao động. Có một vài ý kiến cho rằng đang có sự bất bình đẳng trong phân chia tiền công và tiền lương. Ở một vài quốc gia, những lĩnh vực không có đoàn thể, như ngân hàng nước ngoài hay lĩnh vực tài chính, đang trả mức lương vượt quá múc trung bình quốc gia (thường bị ảnh hưởng bởi thương lượng tập thể).

Tóm lại, chức năng kinh tế hay thị trường của công đoàn ở vùng Caribbean khá là đối kháng. Công đoàn tập trung vào việc bảo vệ công nhân của họ khỏi những thiệt hại từ lạm phát, và cố gắng nâng cao chất lượng cuộc sống (thường bị kìm hãm vì những nguyên nhân lịch sử). Họ cũng cố gắng bảo vệ quyền được lao động của các thành viên và hỗ trợ các chính sách kinh tế vi mô cũng như vĩ mô để nâng cao chất lượng việc làm.

 

2.3.3. Vai trò điều tiết

Một trong những chức năng cơ bản của hiệp hội thủ công ban đầu là đưa ra quy chế học nghề và tiêu chuẩn lao động bắt buộc cho thợ thủ công lành nghề và nghệ nhân, việc này có liên quan đến mức thù lao của họ. Các tổ chức công đoàn vẫn có ảnh hưởng đến việc quyết định và tạo ra các tiêu chuẩn công việc nơi công sở.

Càng ngày, các nhà quản lý càng tìm cách để lấy lại quyền kiếm soát công sở của họ và quyến đơn phương quyết định những vấn đề liên quan để bản chất công việc và các điều kiện làm việc khác. Ngay cả ở tầm quốc tế, các ông chủ đều cho rằng những tiêu chuẩn làm việc theo các Hiệp định và Khuyến nghị của ILO đang dần trở nên khó chịu và khó duy trì. Xu hướng hiện tại là lật ngược lại những thành tựu mà công đoàn đã đạt được.

Quyền lực của công đoàn ở mức độ công sở quyết định khả năng thực hiện chức năng điều tiết của nó. Các tổ chức công đoàn mạnh chấp nhận sự dàn xếp để quyền lực của nhà quản lý và công đoàn ngang nhau tại công sở. Cùng thỏa thuận các quy trình để giải quyết những vấn quan trọng nơi công sở như: khiếu nại, kỷ luật, đánh giá công việc, sa thải, thay đổi công việc, phúc lợi và sức khỏe, cùng với quyền thỏa thuận các điều khoản và điều kiện thông qua thương lượng tập thể, cung cấp nền tảng vững chắc giúp công đoàn thực hiện chức năng điều tiết của mình.

Ngày nay, công đoàn đang cố gắng mở rộng những thỏa thuận chung trên để có thể bao hàm cả những lĩnh vực như: đào tạo, quyền bình đẳng cho người lao động bán thời gian, quấy rối tình dục, chữa các căn bệnh mãn tính, và các lĩnh vực khác. Mặt khác, một số ông chủ lại đang tìm cách phớt lờ công đoàn bằng cách ký hợp đồng trực tiếp với người lao động thay vì khuyến khích sự tham gia của công đoàn.

 

2.3.4. Vai trò dân chủ hóa

Các thành viên của công đoàn có cơ hội được bầu chọn ra người đứng đầu, ban quản lý, và thông qua hệ thống đại biểu, họ có quyền bầu chọn cả người điều hành và những lãnh đạo khác. Quá trình chuẩn bị cho thương lượng tập thể cũng khuyến khích sự tham gia của người lao động. Các công đoàn đang là mảnh đất màu mỡ cho sự phát triển của dân chủ sau này, cho tự do hội họp, quyền tự do ngôn luận, và quyền tự do lựa chọn.

Theo truyền thống, sự phân chia của tư bản và lao động đã tạo ra những nhà quản lý thấm nhuần quyền quản lý, tức là, người lao động chỉ đơn thuần là một nguồn lực có thể điều khiển như những nguồn lực khác.

Quản lý gia trưởng, chuyên quyền từ trên xuống dưới là đặc điểm của quan hệ xã hội nơi công sở. Thật vậy, có quan niệm cho rằng chính đồn điền đã tạo ra hình mẫu quan hệ này tại các công sở khác của vùng Caribbean.

Thông qua các sắc lệnh và chỉ thị, các quyết định trở nên quan trọng hàng đầu và được đưa xuống thông qua nhiều cấp khác đến các thành viên. Nếu như có ai đó thách thức những chỉ thị này, họ sẽ bị hệ thống đánh dấu. Sự phù hợp và tuân thủ được đánh giá cao. Hệ thống phân cấp trong các công sở tuân theo hệ thống của xã hội rộng lớn hơn, với các cấp bậc quản trị và quản lý xuất phát từ các tầng lớp khác nhau. Và đôi khi, một nhóm thiểu số khác xuất thân từ những người công nhân. Quyền lực trong xã hội phản ánh quyền lực nơi công sở.

Việc được tiếp cận với việc tham gia chính trị thông qua quyền bầu cử đã dẫn đến nhu cầu của người lao động đối với nền dân chủ kinh tế, được định nghĩa là quyền tham gia vào dân chủ công nghiệp.

Các thành viên công đoàn đòi hỏi cho người lao động có quyền tham gia vào Ban Giám đốc để biểu hiện cho dân chủ nơi công sở.

 

2.3.5. Vai trò dịch vụ

Công đoàn cố gắng phát triển các dịch vụ có ích đối với mỗi cá nhân thành viên của nó ngoài phạm vi thương lượng tập thể. Ở giai đoạn đầu, việc này diễn ra dưới hình thức hỗ trợ lẫn nhau. Tuy nhiên, với sự xuất hiện của chính sách phúc lợi, với các điều khoản về bảo hiểm cũng như những cơ chế tương tự, nhu cầu này đã giảm đi.

Nhưng công đoàn đã nhận thấy nhu cầu mở rộng vai trò của mình trong việc hỗ trợ các thành viên của nó ở nhiều lĩnh vực khác nhau, và đã thay mặt thành viên của nó tiến hành nhiều công việc phi truyền thống. Một vài trong số các tổ chức hợp tác thành công nhất, đặc biệt là công đoàn tín dụng, được công đoàn phát triển thay mặt các thành viên của mình. Công đoàn cũng phát triển cả phương thức cho thuê nhà đất, các trạm giao thông và dịch vụ, ngân hàng, hiệu giặt là, rạp chiếu phim, các cửa hàng cửa hiệu, chương trình bảo hiểm và các phương thức khác để đem lại lợi ích cho thành viên.

Một trong những vấn đề lớn thu hút sự quan tâm của một số tổ chức công đoàn là quỹ hưu trí của các thành viên. Trong nhiều trường hợp, công đoàn đàm phán lương hưu cho người lao động. Khoản đóng góp sẽ được tập hợp và quản lý bởi công ty quản lý quỹ chuyên nghiệp, và các công ty này có thể trở nên cực kì giàu có. Công đoàn cũng nhận thấy họ phải phát triển chuyên môn quản lý các quỹ này thay mặt cho các thành viên của mình.

Cũng trong thời gian gần đây, việc giải thể công ty hoặc một phần công ty đã cho người lao động cơ hội được sở hữu và điều hành doanh nghiệp. Công đoàn cũng có thể đưa ra các dịch vụ chuyên môn, cố vấn và quản lý để hỗ trợ thành lập doanh nghiệp cho người lao động, và trong nhiều trường hợp, công đoàn còn trở thành cổ đông của doanh nghiệp.

Các dịch vụ thành viên phi truyền thống rất hấp dẫn và có thể trở thành đầu mối nhằm chiêu mộ thêm thành viên, những người bị thu hút bởi hình ảnh của công đoàn là một tổ chức đa dạng và hiệu quả.

Công đoàn cũng cung cấp các dịch vụ pháp lý và y tế cho thành viên. Một số tổ chức công đoàn nhận thấy chi phí đắt đỏ của đại diện pháp lý ở vùng Caribbean, do đó, họ tìm cách cung cấp dịch vụ pháp lý cho chính thành viên của mình. Việc này đặc biệt quan trọng trong những lĩnh vực mà thuong lượng tập thể và quy trình khiếu nại được quy định chặt chẽ.

Trong một số trường hợp, công đoàn hợp tác với các bác sĩ để cung cấp dịch vụ cho thành viên của mình với một hệ thống chủ động. Kiểm tra y tế định kỳ, thường xuyên giúp ngăn chặn việc sử dụng thuốc, và giúp các thành viên khỏe mạnh hơn.

 

2.3.6. Vai trò thúc đẩy

Công đoàn cho các thành viên của mình cơ hội để tăng lòng kiêu hãnh của mình, để đạt đến các vị trí lãnh đạo, và để trở nên xuất sắc hơn. Nếu thiếu đi những phương tiện động lực này, nhiều người sẽ cảm thấy rất khó để tồn tại. Nhiều người đã đạt đến chức vụ quản lý hoặc các chức vụ lãnh đạo khác từ xuất phát điểm là người lao động bình thường, nhưng được đào tạo và cho cơ hội lãnh đạo trong các phong trào lao động.

Công đoàn có thể phát triển các tổ chức đa chức năng, đa diện để hỗ trợ tối đa cho các thành viên của nó. Vì vậy, với những mong muốn đa dạng đó, công đoàn có thể cung cấp hỗ trợ mang tính tổ chức để nâng cao hiệu quả của chúng. Các nhóm thanh niên, phụ nữ, và người cao tuổi có cơ hội phát triển bản thân thông qua những chương trình phù hợp.

Vai trò của công đoàn trong việc giáo dục hết sức cần thiết để giúp các thành viên phát triển tiềm năng của họ.

 

2.3.7. Vai trò phúc lợi

Một số tổ chức công đoàn rất năng nổ trong việc cung cấp các dịch vụ phúc lợi cho thành viên của nó và thậm chí là cho cả cộng đồng. Việc này diễn ra dưới nhiều hình thức, bao gồm cả tạo công ăn việc làm cho người khuyết tật, trở thành hình mẫu cho cộng đồng, hay cung cấp các dịch vụ gia đình, bao gồm giữ trẻ, trung tâm chăm sóc trẻ em, và viện dưỡng lão, cũng như các trung tâm giải trí và phục hồi tại các vùng trũng.

Trên thực tế, các chức năng của công đoàn đã được phát triển dựa trên những điều kiện lịch sử. Trong một vài trường hợp, chức năng của công đoàn thương mại nằm trong chức năng hẹp của công đoàn doanh nghiệp, hạn chế sự can thiệp của chúng vào thị trường và việc điều tiết việc làm. Ở những khu vực khác, công đoàn là các tổ chức đa chức năng, đa diện, phù hợp hơn với ý tưởng về việc công đoàn là một phần của phong trào.

Trong một số trường hợp, công đoàn vượt ra ngoài giới hạn đại diện cho các thành viên của nó và đạt tới việc đại diện cho cả những người không phải thành viên của nó, bao gồm người thất nghiệp, người khuyết tật và những người cần được hỗ trợ trong cộng đồng.

 

Câu hỏi:

– Hãy cho biết lý do tại sao công đoàn lại không nên hạn chế vai trò của nó theo chủ nghĩa công đoàn doanh nghiệp?

– Hãy tranh luận, phản biện về mối quan hệ giữa công đoàn và các đảng phái chính trị.

Nguồn: ILO

Dịch bởi Hải Anh – CTV Mạng lưới Nghiệp đoàn

Ảnh minh họa: Verite.org

Xin ghi rõ nguồn khi phổ biến để tôn trọng công sức của người dịch.

Hits: 38

One thought on “Sổ tay hướng dẫn quản lý công đoàn – Chương 2: Mục đích và vai trò của công đoàn”

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *