Unions Network: Năm 1947, sau quá trình nghiên cứu kéo dài 4 năm, Ủy ban Tự do Báo chí Mỹ đã công bố bản báo cáo mang tên “Một nền Báo chí Tự do & Có Trách nhiệm”. Báo cáo khẳng định rằng vào thời điểm đó, quyền lực báo chí ở Mỹ đang tập trung trong tay một vài công ty, trong khi báo chí ngày càng có khả năng chi phối xã hội. Nhờ thế độc quyền, các công ty lớn đã kiểm soát dư luận vì lợi ích cá nhân; đồng thời lạm dụng các tin tức giật gân, sai sự thật để kiếm tiền. Khi phân tích những vấn đề vừa nêu, để tìm hướng xây dựng một nền báo chí tự do, công bằng và có trách nhiệm hơn, bản báo cáo đã góp phần khai sinh các chuẩn mực của nền báo chí phương Tây hiện đại.

Do nền báo chí Việt Nam đang gặp những vấn đề gần giống báo chí Mỹ cách đây 70 năm, chúng tôi xin dịch bản báo cáo và đăng thành từng phần, để làm tài liệu tham khảo cho những bạn quan tâm. Xin click vào ĐÂY để đọc những chương đã dịch, hoặc click vào ĐÂY để truy cập qua mục lục.

Để hỗ tham gia hoặc hỗ trợ tài chính cho các dự án dịch của Mạng lưới Nghiệp đoàn, xin liên hệ với chúng tôi qua hộp thư unionsnetwork@gmail.com hoặc fanpage.

*

Chương 1.2: Các nguyên tắc

Tự do báo chí là tối cần thiết đối với tự do chính trị. Ở nơi mà con người không thể truyền tải suy nghĩ của mình tới người khác thì tự do không được đảm bảo. Ở nơi có tự do biểu đạt sẽ luôn hiện hữu bước khởi đầu hướng tới một xã hội tự do và các công cụ mở rộng tự do. Do đó tự do biểu đạt là độc nhất trong số các quyền tự do: nó bảo vệ và thúc đẩy tất cả các quyền tự do khác. Tự do ngôn luận và tự do báo chí được là những quyền đầu tiên được đưa vào Tuyên ngôn Nhân quyền Mỹ.

Xã hội văn minh là một hệ thống vận hành bằng các ý tưởng – sống và thay đổi nhờ tận dụng các ý tưởng. Do đó xã hội văn minh phải đảm bảo có càng nhiều càng tốt các ý tưởng để các thành viên trong xã hội tận dụng. Xã hội phải đảm bảo quyền tự do biểu đạt, bất cứ sự cản trở dòng chảy ý tưởng nào cần bị loại bỏ. Hơn nữa, sự đổi mới về ý tưởng có khả năng kích thích sự phản kháng. Những ý tưởng có giá trị ban đầu thường có dạng thô, khó biện hộ và thậm chí còn nguy hiểm. Chúng cần có cơ hội để phát triển qua quá trình phê bình tự do cũng như cơ hội để sống sót trên nền tảng giá trị của mình. Do đó, người xuất bản những ý tưởng cần được bảo vệ đặc biệt.

Nguyên nhân của sự thù địch mà những nhà phê bình hoặc những người thúc đẩy đổi mới gặp phải không chỉ đơn thuần là việc đàn áp, phản đối những người này dễ và tự nhiên hơn so với tranh cãi với họ. Những yếu tố phi lý thường hiện hữu trong những nhà phê bình, những người thúc đẩy đổi mới và cả độc giả. Việc phát biểu các ý kiến phê bình hoặc ý tưởng mới hiếm khi dẫn tới lý trí thuần túy, không cảm xúc. Và phản ứng thì không nhất thiết dẫn tới một cuộc tranh luận, mà luôn dịch chuyển qua lại giữa sự trí khôn, định kiến và sự thiên vị đầy cảm tính của độc giả. Tự do báo chí để mưu cầu lý lẽ có thể bị giải thích là là tự do báo chí để mưu cầu những đam mê, sự thiếu hiểu biết, thô tục và yếm thế của công chúng. Vì tự do báo chí luôn gặp nguy hiểm, nên bản thân báo chí cũng nguy hiểm. Tự do báo chí phản ánh một điều bình thường là nếu chúng ta định sống tiến bộ, chúng ta phải sống mạo hiểm.

Những trung tâm quyền lực xã hội hiện hành nằm trên con đường của dòng chảy các ý tưởng. Người đầu tiên bảo vệ của tự do biểu đạt trước ảnh hưởng của những trung tâm này là chính quyền. Chính quyền hành động bằng cách duy trì trật tự, và đại diện cho tự do ngôn luận, tự do biểu đạt để thực thi các hình phạt cơ bản đối với những hành vi biểu đạt lợi ích cá nhân hoặc oán giận cá nhân – như phá hoại, tống tiền, đe dọa và tham nhũng.

Nhưng bất cứ chủ thể nào có đủ quyền lực để bảo vệ tự do cũng đủ năng lực để đe dọa tự do. Mọi chính quyền hiện đại – theo chủ nghĩa tự do hoặc chủ nghĩa khác, có một vị trí đặc biệt trong lĩnh vực ý tưởng; tính ổn định của chính quyền lại rất mong manh trước những lời phê bình về năng lực của họ. Một chính quyền hình thành từ phổ thông đầu phiếu cũng không là ngoại lệ trong nguyên tắc này. Vì dư luận là một yếu tố ảnh hưởng tới nguồn sống của chính quyền nên chính quyền đó cũng có thể bị cám dỗ kiểm soát các ý tưởng, hình ảnh mà công chúng tranh luận.

Nếu định hiện thực hóa tự do báo chí, chính quyền phải đặt ra giới hạn về việc can thiệp, điều tiết, hoặc đàn áp những tiếng nói của báo chí hoặc thao túng dữ liệu công bố cho công chúng.

Chính quyền phải tự đặt giới hạn cho chính quyền, không chỉ vì tự do biểu đạt phản ánh những lợi ích quan trọng của cộng đồng mà còn vì đó là một quyền đạo đức (moral right). Nó là một quyền đạo đức vì nó bao gồm khía cạnh nghĩa vụ.

Trong thực tế, những động cơ của sự biểu đạt không phải lúc nào cũng mang tính nghĩa vụ. Những động cơ này vốn và nên đa dạng như chính cảm xúc của con người – nghiêm trang và vui vẻ, tình cờ và có tính toán, khéo léo và lười biếng. Nhưng có một mạch biểu đạt lại bao gồm sự thôi thúc của nghĩa vụ – đó là biểu đạt suy nghĩ. Nếu một người ưu tư với một ý tưởng, anh ta không chỉ khao khát biểu đạt ý tưởng đó mà anh ta còn nên biểu đạt nó. Anh ta nợ việc đó với lương tâm của mình cũng như với lợi ích chung. Biểu đạt ý tưởng cần được coi là nghĩa vụ đối với cộng đồng và cả những thực thể lớn hơn cộng đồng cho phép chúng ta nói ra sự thực. Đó cũng là nghĩa vụ của nhà khoa học với kết quả nghiên cứu của mình, như Socrates đã làm với luận ngữ của ông; đó là nghĩa vụ của mỗi người với chính niềm tin của mình. Vì nghĩa vụ này đối với những thực thể rộng lớn hơn nhà nước, tự do ngôn luận và tự do báo chí là quyền đạo đức mà nhà nước không được phép vi phạm.

Quyền đạo đức của tự do biểu đạt đã có vị trí pháp lý vì lương tâm của công dân là sức sống của nhà nước. Ngoài vai trò truyền thống của tự do báo chí – thúc đẩy “chiến thắng của sự thực trước dối trá” trong công luận, chúng tôi nhận thấy các cuộc thảo luận công khai là một điều kiện cần thiết cho một xã hội tự do và tự do biểu đạt là điều kiện cần thiết để có các cuộc thảo luận công khai đầy đủ. Thảo luận công khai giúp khám phá hơi thở và sức mạnh tinh thần; nó cũng tối quan trọng để xây dựng một công chúng mạnh mẽ về tinh thần, và thiếu vắng nó thì một xã hội tự quản trị sẽ không thể vận hành. Trách nhiệm của mỗi cá nhân trước các suy nghĩ của mình vừa đặt nền tảng cơ bản cho các quyền của cá nhân này, vừa là khởi nguồn của quá trình tự quản trị của xã hội.

Điều này không có nghĩa là mọi công dân đều có quyền đạo đức hoặc quyền hợp pháp để sở hữu một tờ báo, hoặc trở thành biên tập viên hoặc sử dụng một công cụ truyền thông nào đó để tiếp cận với độc giả. Nhưng nó lại nằm trong ý tưởng về tự do báo chí rằng bất cứ ý tưởng nào cũng có cơ hội, kể cả nếu nó không được những người sở hữu hoặc quản lý báo chí chia sẻ. Báo chí không tự do nếu những người điều hành báo chí hành xử như thể vị trí của họ cho phép họ có đặc quyền không cần nghe những ý tưởng mà tự do báo chí vốn đã đưa ra trước công luận.

Nhưng quyền đạo đức đối với tự do biểu đạt công khai không phải là vô điều kiện. Do tuyên bố về quyền dựa trên trách nhiệm của một người đối với lợi ích chung và với suy nghĩ của anh ta, nền tảng cơ bản của tuyên bố này biến mất khi nghĩa vụ bị từ chối hoặc lơ là. Thiếu vắng các nghĩa vụ đạo đức được chấp thuận thì sẽ không có quyền đạo đức. Do đó, khi kẻ tuyên bố có quyền đạo đức đối với tự do biểu đạt là một kẻ nói dối, hạng đàng điếm có thể bán rẻ quan điểm chính trị của mình, một kẻ kích động thù hận và nghi kỵ, thì tuyên bố của hắn không được đảm bảo và không có cơ sở. Ít nhất, từ góc độ đạo đức, tự do biểu đạt không bao gồm quyền nói dối với tư cách là một công cụ chính sách có chủ ý.

Quyền tự do biểu đạt công khai bao gồm cả quyền được sai lầm. Tự do là một cuộc thử nghiệm. Bản thân tranh luận không thể tồn tại trừ khi các ý tưởng sai có thể được đưa ra một cách đúng đắn từ những người tin rằng ý tưởng đó đúng. Nhưng quyền tự do của một người có phát biểu sai phải gắn liền với giả định rằng người đó đang cố gắng tìm ra sự thật. Điều mà quyền đạo đức không quy định là quyền sai lầm có chủ ý hoặc do thiếu trách nhiệm.

Nhưng quyền đạo đức có thể bị thu hồi trong khi quyền pháp lý được giữ lại. Bảo vệ pháp lý không thể thay đổi theo biên độ của định hướng đạo đức nội tại trong ý chí của mỗi cá nhân; nó cũng không ngừng khi một người từ bỏ nền tảng đạo đức đối với quyền của mình. Thậm chí việc sử dụng có trách nhiệm đối với tự do nên được coi là bắt buộc về pháp lý còn không đáng mong đợi, kể cả nếu có thể thực hiện được; vì trong trường hợp đó tự do tự kiềm chế – một nguyên liệu không thể đối với bất cứ quốc gia tự do nào, sẽ bị thay thế bằng các cơ chế.

Ta sẽ phải cho phép nhiều luận điệu dối trá, hạ đẳng, dễ bị mua chuộc tiếp tục trú ẩn dưới thứ “tự do báo chí” vốn được xây dựng cho nhiều mục đích khác nhau, vì việc tước đoạt quyền pháp lý khi quyền đạo đức không còn có thể là một phương thuốc tệ hại hơn cả căn bệnh. Mỗi định nghĩa về sự lạm dụng lại có thể dẫn tới sự lạm dụng định nghĩa. Nếu các quan tòa phải xác định sự tha hóa bên trong ý định của cá nhân, những lời phê bình thật thà và cần thiết sẽ phải đối mặt với một mối đe dọa mới.

Dù giả định rằng không nên dùng các biện pháp pháp lý để ngăn chặn việc lạm dụng báo chí, thì cũng có giới hạn trong sự khoan dung của pháp luật. Sự trừng phạt về pháp lý đối với việc sử dụng sai trái các quyền tự do biểu đạt như vu khống, biểu đạt thô thục, kích động bạo loạn, xúi giục nổi loạn đều có nguyên tắc chung; theo đó là việc phát ngôn hoặc xuất bản xâm phạm nghiêm trọng, có thể chứng minh được đối với quyền của cá nhân hoặc các quyền lợi xã hội tối quan trọng. Vì có thêm danh mục lạm dụng trong định nghĩa này nên việc mở rộng các biện pháp trừng phạt pháp lý là xác đáng. Trách nhiệm chứng minh (the burden of proof) thuộc về những người mở rộng danh mục này. Nhưng giả định nêu trên không nhằm khiến xã hội trở nên thụ động, thiếu nghị lực trước những diễn biến mới trong việc sử dụng sai trái quyền lực rộng lớn của báo chí.

(còn tiếp)


Cuốn sách này được CTV Mạng lưới Nghiệp đoàn dịch từ bản tiếng Anh của Thư viện Đại học Osmania, đăng trên Internet Archieve. Xin ghi rõ nguồn Mạng lưới Nghiệp đoàn để tôn trọng công sức của người dịch.

Để đọc những chương đã dịch, xin click vào ĐÂY.

Để truy cập qua mục lục, xin click vào ĐÂY.

Hits: 30

One thought on “Một nền Báo chí Tự do & Có Trách nhiệm (A Free & Respondsible Press): Chương 1.2 – Các nguyên tắc”

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *