Đọc các kỳ trước tại ĐÂY

Trong điều kiện đầy đủ việc làm và lạm phát theo sau Thế chiến II, hệ thống quan hệ công nghiệp của cả Anh lẫn châu Úc trở nên căng thẳng. Những công đoàn từng bám vào luật trọng tài bắt buộc khi còn yếu, thì giờ đây, khi đã hồi phục sức mạnh, lại nổi giận trước những giới hạn mà luật này đặt ra. Ở giai đoạn đầu, đã có những xung đột liên quan đến những công đoàn bạo động theo kiểu truyền thống của thợ mỏ và thợ cầu cảng. Khi Chiến tranh Lạnh dâng cao, ảnh hưởng của Chủ nghĩa Cộng sản trong những công đoàn kiểu đó buộc chính phủ phải đưa ra những biện pháp đối phó quyết liệt, khiến các cuộc đình công của thợ mỏ than Australia năm 1949 và thợ cầu cảng New Zealand năm 1951 bị dẹp yên một cách dứt điểm. Tuy nhiên, cũng như thời trước, đa số các công đoàn đã không chuyển sang đối đầu với hệ thống luật trọng tài bắt buộc. Nhưng dù giai đoạn “phiêu lưu” của những cuộc bạo động mang màu sắc Cộng sản đã qua đi, xu hướng thiên về thương lượng trực tiếp và đình công đã trụ lại ở cả 2 nước. Được thiết lập như một giải pháp thay thế cho xung đột quan hệ sản xuất, hệ thống luật trọng tài bắt buộc luôn phải đối mặt với một câu hỏi trong thực tế, rằng nó sẽ làm gì để đối phó với đình công. Australia đã rơi vào khủng hoảng vào năm 1960, khi các công đoàn bị phạt vì đã đình công với tần số ngày một tăng. Khi nhà chức trách bỏ tù một cán bộ công đoàn, trong nỗ lực phục hồi lề luật vào năm 1969, họ đã tạo ra một làn sóng biểu tình, dẫn đến việc tòa ngấm ngầm trì hoãn việc phê chuẩn bản án. Các tình tiết dần được hé lộ. Chính sự linh hoạt của hệ thống – khả năng của nó trong việc đáp ứng nhiều biến thể của thế cân bằng quyền lực trong quan hệ sản xuất, ở nhiều thời điểm và trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau – đã khiến các công đoàn tham gia vào hệ thống. Quả vậy, sự linh hoạt (và sự phức tạp) đã trở thành những đặc trưng rõ rệt của hệ thống , khi mà người ta ngày càng nghi ngờ liệu hệ thống có còn hữu dụng hay không. Trong những năm 1980, chính phủ Australia đã ủy thác việc soạn một bản báo cáo hoàn chỉnh, nhưng Báo cáo Hancock (Hancock Report) đã đề xuất rằng không nên có những sửa đổi mang tính nền tảng. Luật trọng tài bắt buộc đã ăn sâu vào mạng lưới sinh hoạt quốc gia của cả hai nước, và tích hợp các công đoàn ở hai nước này ở mức độ cao hơn so với trong các nền dân chủ khác.

Ở nước Anh thời hậu chiến, người ta cho rằng chính sự gia tăng sức mạnh của các công đoàn đã khiến lạm phát gia tăng, đồng thời khiến nền công nghiệp bị thừa người và gián đoạn. Từ năm 1945 đến năm 1951, khi Đảng Lao động đang cầm quyền và tiếp tục ban hành lệnh cấm đình công trong thời chiến, các công đoàn đã được tích hợp với chính phủ một cách bất thường. Chính phủ đã hành động để dẹp yên một loạt các cuộc đình công ở bến tàu, mà không bị các công đoàn phản đối, như trong một diễn biến gần như song song ở Australia. Tuy nhiên, sang những năm 1950 và 1960, các công đoàn và chính quyền đã rơi vào thế đối lập. Tiền lệ về việc áp dụng lập trọng tài bắt buộc trong thời chiến đã không bắt rễ sâu, vì thế đã bị bãi bỏ, trong khi người ta ngày càng nhận ra rằng việc thương lượng tự nguyện như lúc đầu sẽ gây hậu quả xấu về mặt kinh tế. Trong giai đoạn thừa mứa việc làm, những tổ chức của người bán hàng đã lan rộng một cách nhanh chóng trong nền công nghiệp, và được gắn với một khuynh hướng đang gia tăng của các hoạt động đình công không có đăng ký. Những tổ chức tự nguyện của người lao động và người sử dụng lao động ở Anh xuất hiện chỉ để tan vỡ, và người ta đã bổ nhiệm một Ủy ban Hoàng gia về Công đoàn và Tổ chức của Người Sử dụng Lao động để tìm hiểu vấn đề này vào năm 1965. Những giải pháp quá thiên về hướng tự nguyện mà ủy ban này đề xuất đã không làm thỏa mãn một chính quyền đang định hành động một cách gấp rút. Năm 1969, một chính phủ của Đảng Lao động đã đề xuất những hạn chế pháp lý đối với các cuộc đình công không có đăng ký, và người vi phạm phải nộp phạt. Dù đề xuất này bị rút lại, chính phủ Bảo thủ nối tiếp họ đã giới thiệu một nguyên tắc pháp lý mới trong Đạo luật Quan hệ Công nghiệp (Industrial Relations Act) năm 1971 – văn bản bao gồm luật về những hình thức thực hành công nghiệp có tính bất công, và luật về những thỏa thuận có tính ràng buộc pháp lý. Những luật này và nhiều điều khoản khác được thi hành bởi một Tòa án Quan hệ Công nghiệp đặc biệt – điều trái ngược với truyền thống của người Anh trong việc tránh sự can thiệp của pháp luật. Ngay cả khi đó, các công đoàn cũng vẫn từ chối đi vào các khuôn khổ pháp lý đã được tạo ra. Và chính phủ Bảo thủ này đã bị bao vây bởi những cuộc bạo động công nghiệp mới – thứ không chỉ cho thấy các luật mà nó soạn ra không vận hành được, mà còn khiến nó thua trong cuộc bầu cử, do không duy trì được sự kiểm soát của pháp luật đối với các hoạt động thương lượng mức lương.

Ở cả 3 nước, những thay đổi sâu sắc của cơ cấu dân số có việc làm trong suốt phần còn lại của thế kỷ 20 đã xói mòn nền tảng nhân sự truyền thống của các công đoàn. Khi chuyển đổi để hướng đến giới cổ cồn trắng, nữ giới, và người lao động trong khu vực dịch vụ, các công đoàn đã cố gắng bắt kịp sự thay đổi nhanh chóng về mặt thành phần của lực lượng lao động – cũng như hồi đầu thế kỷ, nó đã vượt qua sự chia cắt mới hình thành giữa những người lao động chân tay có kỹ năng và không có kỹ năng. Tuy nhiên, dù cơ cấu nhân sự của các công đoàn đã thay đổi một cách sâu sắc, khi họ tăng đáng kể số đại biểu của người lao động cổ cồn trắng và nữ giới, các công đoàn đã không bắt kịp sự thay đổi. Năm 1948, tỉ lệ người lao động tham gia công đoàn ở Anh đã tăng về mức của năm 1920, trước khi tăng mạnh trong thập niên 1970, để vượt ngưỡng 50% lần đầu tiên trong lịch sử. Từ đỉnh cao của năm 1979, nó đã rớt xuống. Nhờ tích hợp với nhà nước, các công đoàn ở Australia được bảo vệ nhiều hơn trước những hậu quả của sự thay đổi cơ cấu lao động, song tình trạng này không chắc chắn. Tỉ lệ thành viên công đoàn trên tổng số người lao động của Australia chạm đỉnh 60% vào năm 1954; vượt qua đợt suy giảm kế tiếp vào đầu thập niên 1970; song đã giảm xuống còn 42% vào cuối thập niên 1980. Tỉ lệ thất nghiệp cao từ thập niên 1970, cùng với sự suy giảm số việc làm trong các thành trì của công đoàn như ngành sản xuất, khai mỏ và cảng biển, đã củng cố xu hướng đó. Ở Anh, sự suy giảm này được tăng tốc bởi một loạt các vụ giải tán công đoàn, trong đó lớn nhất là vụ Công đoàn Thợ mỏ Quốc gia (National Union of Mineworkers) phải chịu án phạt do cuộc đình công lớn năm 1984 – 1985. Những hạn chế pháp lý áp lên các công đoàn Anh, được thử nghiệm trong thập niên 1970, đã tiếp tục được đưa ra trong các thập kỷ kế tiếp. Nhưng nếu các công đoàn Anh đã phải sống trong khí hậu chính trị và công nghiệp khắc nghiệt hơn các công đoàn Australia, việc thích nghi với thay đổi đã trở thành một vấn đề chung.

(Còn tiếp. Đọc các kỳ sau tại ĐÂY )

Dịch bởi Nguyễn Vũ Hiệp – Unions Network

Bài gốc: Encilopedia Britannica

Ảnh minh họa: George Burgin

Hits: 21

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *