Trong buổi hội thảo cuối năm của Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển Truyền thông (IPS), diễn ra hôm 28/12/2018 tại Hà Nội, giáo sư Nguyễn Sĩ Dũng đã có một bài thuyết trình mang tên “Cải cách thể chế và khu vực công 2018” [1]. Trong bài, ông Dũng đã đặt hy vọng vào phương án “hợp nhất chức danh Chủ tịch nước và Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam”, đồng thời trình bày chủ trương “nhà nước kiến tạo và phát triển”.

 

1. Hy vọng “nhất thể hóa”

Trong buổi tiếp xúc cử tri ngày 08/10/2018, ông Nguyễn Phú Trọng đã tuyên bố rằng việc ông được giới thiệu để bầu làm Chủ tịch nước là do tình huống, chứ không phải do Việt Nam chuyển sang cơ chế kiêm nhiệm hoặc “nhất thể hóa”. Dù vậy, giáo sư Nguyễn Sĩ Dũng tin rằng sự kiện này là một bước quan trọng, khiến việc “nhất thể hóa” sẽ diễn ra dễ dàng hơn trong tương lai.

Theo ông Dũng, thì ở hầu hết các nước trên thế giới, người đứng đầu nhánh hành pháp của nhà nước cũng là người đứng đầu đảng cầm quyền. Tuy nhiên, từ khi ông Hồ Chí Minh qua đời vào năm 1969 đến nay, chức Chủ tịch nước và Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam luôn do 2 người khác nhau nắm giữ. Tình huống này gây ra nhiều vướng mắc trong việc điều hành quốc gia. Ông Dũng cho rằng việc “nhất thể hóa” hai chức danh Chủ tịch nước và Tổng Bí thư sẽ giải quyết được những vướng mắc này, theo 4 cách:

Thứ nhất, nó giúp tiết kiệm chi phí để vận hành nhà nước, khi bớt đi một ông Chủ tịch chỉ có vai trò nghi thức.

Thứ hai, nó làm các quy định của Hiến pháp trở nên đáng tin cậy hơn. Chẳng hạn, hiện Hiến pháp quy định rằng Chủ tịch nước nắm quyền thống lĩnh các lực lượng vũ trang; nhưng trong thưc tế các lực lượng vũ trang chỉ nghe lời Quân ủy Trung ương, nằm dưới quyền Tổng Bí thư đảng Cộng sản. Ông Dũng cho rằng khi Tổng Bí thư nắm quyền Chủ tịch nước, những vướng mắc như vậy sẽ không còn, khiến Hiến pháp có hiệu lực trên thực tế, làm người dân tin vào pháp luật hơn.

Thứ ba, nó tăng tính chính danh của cả chức vụ Chủ tịch nước lẫn Tổng Bí thư. Chẳng hạn, khi xảy ra các thảm họa quốc gia, sẽ chỉ có một nguyên thủ lên tiếng để tập hợp sức mạnh của dân tộc, thay vì chia sức mạnh cho 2 người như trước. Khi Tổng Bí thư, tức người nắm quyền lực thật ở Việt Nam đi thăm nước ngoài, ông cũng dễ dàng được nguyên thủ các nước tiếp đón hơn.

Thứ tư, sau khi “nhất thể hóa” hai chức danh, Việt Nam sẽ dễ dàng chuyển sang mô hình bán Tổng thống, trong đó Chủ tịch nắm lực lượng vũ trang, còn Thủ tướng nắm quyền quản lý kinh tế. Ông Dũng cổ vũ mô hình này, vì cho rằng nó đã đem lại sự phát triển cho nhiều nước Đông Bắc Á như Hàn Quốc và Đài Loan.

Giáo sư Dũng cho rằng trong năm 2018, nền chính trị Việt Nam đã có nhiều thay đổi để hướng đến mục tiêu “nhất thể hóa”. Nổi bật là các hoạt động để tinh giản hóa bộ máy – như xu hướng sáp nhập 3 văn phòng của chính quyền địa phương, xu hướng sáp nhập Thanh tra Nhà nước với Ủy ban Kiểm tra Trung ương đảng… Tuy nhiên, do thiếu lý thuyết dẫn dắt, các hoạt động vừa nêu chủ yếu mang tính phong trào, dẫn đến nhiều sai lệch mà chính quyền sẽ phải sửa lại. Vì vậy, ông Dũng cho rằng quá trình cải cách này phải được hướng dẫn bằng một lý thuyết về mô hình nhà nước.

 

2. Chủ trương “nhà nước kiến tạo và phát triển”

Giáo sư Nguyễn Sĩ Dũng cho rằng hiện nay, thế giới có 3 mô hình nhà nước tiêu biểu.

Thứ nhất là mô hình “nhà nước điều chỉnh” theo kiểu Anh – Mỹ. Trong mô hình này, nhà nước hạn chế can thiệp vào hoạt động kinh tế, và chỉ điều chỉnh chúng bằng các công cụ pháp luật.

Thứ hai là mô hình “nhà nước phúc lợi” theo kiểu Bắc Âu và Baltic. Trong mô hình này, người dân phải dùng hầu hết thu nhập để đóng thuế, đổi lại nhà nước bao cấp hầu hết nhu cầu của người dân.

Thứ ba là mô hình “nhà nước kiến tạo và phát triển” của các nước Đông Bắc Á, như Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc và Đài Loan. Mô hình này công nhận kinh tế thị trường, nhưng đặt nền kinh tế dưới sự định hướng của nhà nước. Ông Dũng nhắc đến các chaebol được chính quyền Hàn Quốc bảo hộ, và coi chúng như ví dụ tiêu biểu của mô hình này.

Vậy đâu là mô hình nhà nước phù hợp với Việt Nam? Ông Dũng cho rằng văn hóa của từng xã hội sẽ quyết định mô hình nhà nước. Do khác biệt văn hóa, người Việt Nam sẽ không chấp nhận mức thuế cao như người Bắc Âu. Và nếu Việt Nam bị giới hạn bởi các hiệp định về tự do thương mại nhiều đến mức “đi lạc” vào mô hình “nhà nước điều chỉnh”, thì Việt Nam sẽ chỉ trở thành một Philippines thứ 2 ở Đông Nam Á.

Ông Dũng tin rằng dù nằm trong vùng Đông Nam Á, Việt Nam vẫn bị định hình bởi văn hóa Đông Bắc Á, trong đó xã hội lệ thuộc nhiều vào mệnh lệnh của nhà nước, và dân chúng có lý tưởng học hành, thi cử để làm quan. Vì vậy, Việt Nam phải theo mô hình “nhà nước kiến tạo và phát triển”, ngoài ra không còn các nào khác. Tuy nhiên, để chuyển sang mô hình này, Việt Nam cần làm 2 điều.

Một, là phải tách biệt giữa chính trị và hành chính. Cụ thể, người làm chính trị chỉ nên quyết định các chủ trương; còn các chuyên gia trong bộ máy hành chính sẽ đảm nhiệm việc soạn thảo các chi tiết kỹ thuật của chính sách và pháp luật. Nhờ sự tách bạch này, bộ máy nhà nước sẽ thoát khỏi tình trạng thiếu chuyên nghiệp, chậm thay đổi và tham nhũng tràn lan.

Hai, là phải phát triển một đội ngũ công chức hành chính công vụ tinh hoa, thông qua hệ thống khoa cử. Đây là sự nối tiếp của truyền thống khoa bảng, “học để đi thi, làm quan giúp nước”, mà các nước Đông Bắc Á đều có. Ông Dũng coi cơ quan quản lý thi tuyển của Đài Loan như một ví dụ tiêu biểu của truyền thống này.

Trong một hội thảo trước, ông Dũng cũng cho rằng chính phủ Việt Nam nên nâng đỡ các “chaebol” trong khu vực tư nhân, giống như Hàn Quốc từng làm. Ông khen ngợi tập đoàn Vingroup, vì cho rằng Vin có chính sách coi trọng nhân tài và các quy trình hiệu quả.

Giáo sư Nguyễn Sĩ Dũng tin rằng nếu áp dụng cơ chế “nhất thể hóa” để xây dựng “nhà nước kiến tạo và phát triển”, Việt Nam sẽ trở thành một “con rồng châu Á” như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Đài Loan.

 

3. Đôi điều suy nghĩ

Nếu xem xét vấn đề bằng thang giá trị của giáo sư Nguyễn Sĩ Dũng, tôi thấy chủ trương của ông có rất nhiều điểm hay. Về mặt thời sự, chủ trương này vừa bao gồm 2 khẩu hiệu thịnh hành là “nhất thể hóa” và “nhà nước kiến tạo, phát triển”; vừa bao gồm ước vọng của ông Dũng về một nền hành chính chuyên nghiệp, trong sạch và hiệu quả hơn. Về mặt giai tầng, nó tạo cơ hội phát triển cho cả giới quan chức, cán bộ (thông qua sự công nhận vai trò chính trị của Đảng), giới tài phiệt (thông qua việc cổ vũ các “chaebol”), lẫn giới trí thức và bình dân (thông qua việc tuyển chọn nhân tài bằng thi cử). Về mặt đối ngoại, nó cân bằng giữa Trung Quốc và Mỹ, giữa nhu cầu hội nhập và nhu cầu giữ an ninh, bản sắc quốc gia.

Về phần tôi, tôi thấy dù theo thuyết pháp trị hay pháp quyền, chúng ta cũng nên ủng hộ việc xây dựng một nền hành chính chuyên nghiệp, tách bạch với chính trị, và việc dùng các phương pháp công bằng (mà khoa cử chỉ là một ví dụ) để tuyển nhân tài cho nền hành chính đó.

Tuy nhiên, tôi thấy chủ trương của giáo sư Dũng sẽ vấp phải 3 trở ngại trong thực tế. Đó là tình hình giáo dục – thi cử ở Việt Nam, năng lực của các “chaebol” Việt Nam, và tình hình “giới tinh hoa” Việt Nam.

Tình hình giáo dục – thi cử ở Việt Nam đang thế nào, có lẽ ai cũng biết, nên không cần nhắc lại. Chuyện này không mới, vì gần 90 năm trước, học giả Phạm Quỳnh cũng từng than thở rằng do điều kiện địa lý, lịch sử và chính trị, người Việt Nam chỉ quen học để thi đỗ, làm quan, chứ không quen học để tìm tri thức [2]. Ông Phạm Quỳnh cho rằng văn hóa khoa cử hẹp hòi đó đã khiến cả nền học thuật lẫn nền chính trị của Việt Nam bị suy đồi và tụt hậu. Như vậy, dường như cả văn hóa khoa cử truyền thống lẫn tình hình nền khoa cử hiện nay của Việt Nam đều cản trở, thay vì tạo thuận lợi cho chủ trương của giáo sư Nguyễn Sĩ Dũng.

Về yếu tố thứ hai, hiện các “chaebol” của Việt Nam chưa chứng minh được năng lực của mình. Báo cáo tài chính thường niên của Vingroup cho thấy trong những năm trước, họ bị lỗ trong mảng bán lẻ và nông nghiệp sạch, phải dùng lợi nhuận từ mảng kinh doanh bất động sản để bù lỗ. Nếu Vingroup không còn được mua đất công giá rẻ, liệu tập đoàn này có thể tự đứng vững, và mở rộng sang các lĩnh vực công nghệ cao hay không? Nên để Vingroup tự chứng minh năng lực của mình thêm một thời gian, để không lãng phí tài nguyên quốc gia vào một “quả đấm thép” rởm kiểu mới.

Về yếu tố sau cùng, nhiều trí thức tin rằng do hoàn cảnh lịch sử, giới tinh hoa của Việt Nam đã bị mai một đi. Nếu đây là sự thật, thì các học giả Việt Nam nên nghĩ cách tái tạo giới tinh hoa, trước khi bàn xem nên dùng giới này cho khu vực hành chính công hay khu vực khác. Mà để tái tạo một giai tầng trong xã hội, có lẽ cần lựa theo các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể, thay vì chỉ dựa vào ý muốn chủ quan của một nhà nước hoặc nhà trường.

Hiện nay, nhà nước Việt Nam đang tinh giản, trong khi các doanh nghiệp tư nhân và tổ chức dân sự đang ngày một đa dạng hơn. Trong thời đại toàn cầu hóa, hầu hết tri thức đang đến từ nước ngoài, thay vì từ trong nước và từ nhà nước. Trong thời đại công nghệ thông tin, các công nghệ mới cho phép mỗi cá nhân tự học tập, làm việc mà không cần phải đến trường học hoặc văn phòng. Trong bối cảnh xã hội này và tình trạng suy sụp của nền giáo dục – thi cử Việt Nam, chắc chắn giới tinh hoa sẽ không phục hồi chỉ nhờ một hệ thống khoa cử để tuyển chọn công chức.

Như vậy, dù tạm giả định rằng Việt Nam phù hợp với mô hình Đông Bắc Á hơn mô hình của phương Tây, ta vẫn thấy chủ trương “nhà nước kiến tạo” của giáo sư Nguyễn Sĩ Dũng chưa phù hợp với một số điều kiện thực tế của đất nước.

Còn nếu nhìn chủ trương này qua lăng kính của các hệ thống phương Tây, ta sẽ nhanh chóng kết luận rằng nó quá ưu ái cho các lực lượng độc tài và độc quyền, trong khi hạ thấp các giá trị được cho là phổ cập như nhân quyền, bình đẳng.

Nhưng dù vậy, chủ trương này vẫn là một hướng đi độc đáo, đem lại nhiều ý tưởng mà những người theo khuynh hướng cải cách ở Việt Nam có thể tham khảo.

Tú Cầu

Bài đã đăng trên Việt Nam Thời Báo

Tài liệu tham khảo:

[1] Tọa đàm “Việt Nam – Kinh tế, chính sách và cải cách thể chế năm 2018; Dự báo năm 2019 và Lễ tổng kết Câu lạc bộ Café Số 2018”

[2] Bàn về Quốc học (bài báo của Phạm Quỳnh năm 1931)

Hits: 35

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *