Gia tài đồ sộ bao gồm các truyện ngắn, thơ và các các lý thuyết phê bình văn học là minh chứng cho tầm vóc của Poe như một nhân vật quan trọng trong nền văn chương thế giới. Ảnh hưởng của ông đến hình thức thơ ngắn và truyện ngắn là không thể phủ nhận. Trong lịch sử văn chương và các sách giáo khoa, Poe không chỉ được coi như vị “kiến ​​trúc sư” chính cho truyện ngắn hiện đại mà còn là người tiên phong cho phong trào “nghệ thuật vị nghệ thuật” của văn học châu Âu thế kỷ thứ mười chín.

Khác với thế hệ các nhà nhà phê bình đi trước chủ yếu quan tâm đến các khái quát về đạo đức hay ý thức hệ, phê bình của Poe tập trung vào các chi tiết mang tính hình thức như phong cách hay cấu trúc tác phẩm, các yếu tố góp phần vào hiệu quả hay thất bại tác phẩm đó. Người đọc nhận thấy ở ông kĩ thuật cũng như khả năng xử lí ngôn ngữ xuất sắc cùng với một trí tưởng tượng luôn tràn đầy cảm hứng và độc nhất vô nhị.

Giới văn nghệ sĩ theo trường phái Tượng trưng của Pháp vào cuối thế kỷ XIX, những người cũng ghi dấu ấn vào sự thay đổi của văn chương hiện đại đã chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các tác phẩm thơ và truyện ngắn của ông. Chính sự giao thoa giữa triết học và nghệ thuật này đã củng cố vị trí quan trọng của Poe trong lịch sử văn chương.

Sinh thời, cha mẹ Poe đều là những diễn viên chuyên nghiệp hoạt động tại đoàn kịch nghệ Boston. Không may, hai người qua đời trước khi Poe được ba tuổi. Poe được nhận nuôi và chăm sóc một cách bất hợp pháp bởi John Allan, một thương nhân giàu có tại Richmond, Virginia. Nhờ đó, cậu có cơ hội theo học tại các trường tốt nhất và được nhận vào trường Đại học Virginia (Charlottesville) vào năm 1825. Trong giai đoạn này, mặc dù đạt thành tích học tập xuất sắc, Poe bị buộc phải rời trường sau một năm bởi ông không nhận được sự hỗ trợ tài chính từ cha nuôi của mình. Sau khi Poe trở về Richmond vào năm 1827, mối quan hệ giữa hai cha con chấm dứt.

Ngay sau khi rời Boston, Poe nhập ngũ và cho ra đời hai tuyển tập thơ đầu tiên của mình “Tamerlane và Other Poems” và “Al Aaraaf, Tamerlane, and Minor Poems” (1829). Dù vậy, cả hai cuốn đều không nhận được nhiều sự chú ý từ giới phê bình và công chúng.

Cũng trong năm 1829, Poe giải ngũ, đạt tới cấp bậc Trung sĩ trung đoàn và được nhận vào Học viện Quân sự Hoa Kỳ tại West Point. Tuy nhiên, vì một mặt không nhận được hỗ trợ tài chính cho việc học từ cha nuôi, mặt khác không có được từ ông sự cho phép để rời khỏi Học viện, Poe chủ động không thực hiện các nhiệm vụ được giao và cố ý vi phạm các quy định của viện để có thể rời khỏi đó. Ông tới New York và cho xuất bản “Poems” (1831) – tuyển tập thơ thứ 3 của mình, rồi đến Baltimore và sống cùng người dì Maria Clemm.

Trong những năm đầu của sự nghiệp, các truyện ngắn đầu tiên của ông chủ yếu xuất hiện trong cuốn Philadelphia Saturday Courier. Trong số đó, truyện “MS. Found in a Bottle” của ông đã được Baltimore Visitor Saturday trao giải câu chuyện hay nhất. Tuy nhiên, số tiền kiếm được vẫn không đủ để Poe có thể tự trang trải cuộc sống một cách độc lập. Người cha nuôi Allan qua đời vào năm 1834 và không để lại cho ông chút tài sản thừa kế nào.

Những năm sau đó, tình trạng tài chính của Poe được cải thiện dần khi ông chuyển về Richmond cùng dì và cô em họ 12 tuổi Virginia – người mà ông kết hôn sau này vào năm 1836, nhận một chân biên tập viên tại The South Literary Messenger – một tạp chí văn học tại Richmond.

Đây là nơi dừng chân đầu tiên trong số những tạp chí mà Poe sẽ tham gia chỉ đạo trong vòng mười năm sau đó; là bệ phóng cho sự nghiệp nổi bật của ông – trở thành “người đàn ông của ngôn từ” tại Mỹ.

Danh tiếng của Poe không chỉ đến từ việc ông thuộc vào hàng ngũ nhà thơ kiêm tác giả tiểu thuyết bậc nhất; nó còn đến từ trình độ phê bình văn chương cùng với trí tưởng tượng và góc nhìn sâu sắc của ông – điều mà cho đến nay vẫn còn gây nhiều tranh cãi trong văn học Mỹ.

Mặc dù dành được sự chú ý nhất định từ công chúng vào giao đoạn 1830 – 1840, Poe vẫn chỉ nhận được số lợi nhuận ít ỏi từ các tác phẩm của mình. Ông kiếm thêm thu nhập trong vai trò của một người biên tập cho các Tạp chí Burton’s Gentleman, Graham ở Philadelphia và Broadway ở New York.

Sau khi người vợ của ông qua đời do căn bệnh lao phổi vào năm 1847, một cách chóng vánh, Poe lao vào những cuộc tình khác. Tuy nhiên vì những lý do không rõ, ông đến Baltimore vào cuối tháng 9 năm 1849 mặc dù đang trong quá trình chuẩn bị cho cuộc hôn nhân thứ hai của mình. Ngày 3 tháng 10, ông được phát hiện trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê và qua đời bốn ngày sau đó, không có cơ hội để giải thích những gì đã xảy ra trong những ngày cuối cùng của cuộc đời mình.

Đóng góp đáng chú ý nhất của Poe cho nền văn học thế giới là phương pháp phân tích mà ông đã thực hành cả trên hai phương diện là một nhà văn và nhà phê bình các tác phẩm đương thời.

Poe tuyên bố ông muốn xây dựng một hệ thống lý tưởng nghệ thuật chặt chẽ – trong bối cảnh đương thời mà ông cho là chỉ quan tâm đến giá trị thực dụng của văn học – một khuynh hướng mà ông gọi là “dị giáo của Sư phạm.”

Ngoài việc đề ra những điều kiện tiên quyết cho một chủ nghĩa thẩm mỹ thuần túy, ông nhấn mạnh vào chủ nghĩa hình thức của văn chương – điều có liên kết với lý tưởng triết học của ông: thông qua nỗ lực sử dụng ngôn ngữ một cách chính xác, dù không hoàn hảo, một viễn cảnh chân lý và điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của loài người vẫn có thể được biểu lộ.

Lý thuyết về sáng tạo văn chương của Poe có thể được tóm tắt ở hai điểm chính: thứ nhất, để có thể được coi là thành công, một tác phẩm phải có tác động nhất định đến người đọc; Thứ hai, bản thân tác giả phải là người chủ động suy xét để tạo ra tác động này, chứ không để nó phụ thuộc vào cảm hứng hoặc ngẫu nhiên.

Nếu như thơ cần phải gợi lên trong lòng người đọc khả năng cảm thụ cái đẹp – một tác động lý tưởng là liên hệ người đọc với nỗi buồn, sự xa lạ và mất mát; thì trong văn xuôi, câu chuyện phải tiết lộ một chân lí, “mang tính suy lí” hay gợi lên “nỗi khiếp sợ, đam mê, hoặc cảm giác ghê rợn.”

Ngoài có chung một nền tảng lý thuyết, văn chương của Poe còn ghi dấu ấn ở những xúc cảm tâm lí mãnh liệt, đặc biệt là các câu chuyện kinh dị, trong đó bao gồm cả những những tác phẩm hay và nổi tiếng nhất của ông.

Ba câu chuyện “The Black Cat”, “Cask of Amontillado” và “The Tell-Tale Heart” được kể theo ngôi thứ nhất, thông qua đó Poe có thể tự do khám phá thế giới nội tâm của nhân vật. Những khám phá về tâm lý học sau này của Fyodor Dostoyevsky và trường phái hiện thực tâm lý được đặt trên nền tảng kĩ thuật kể chuyện của Poe.

Trong các tác phẩm truyện mang hơi hướng Gothic như “The Fall of the House of Usher,” “The Masque of the Red Death,” hay “Ligeia”, các phương pháp tượng trưng và ẩn dụ được sử dụng, giữ cho các tác phẩm một cảm giác bí ẩn – lí do khiến những câu chuyện này luôn có một chỗ đứng trong lòng người đọc; đồng thời chúng cũng gợi liên tưởng đến các tác phẩm tượng trưng của Nathaniel Hawthorne và Herman Melville.

Thế hệ nhà văn sau đó chịu ảnh hưởng từ Poe có thể kể đến Ambrose Bierce và H.P. Lovecraft – họ cùng thuộc về một nhánh riêng rẽ của nền văn học kinh dị được tiên phong bởi Poe.

Không chỉ là người mở đầu cho văn học kinh dị hiện đại, Poe còn mở lối cho hai thể loại văn chương thịnh hành khác: khoa học viễn tưởng và truyện trinh thám.

Được truyền cảm hứng bởi tinh thần thời đại của cuộc cách mạng Công nghiệp vào đầu thế kỷ XIX, cộng thêm với niềm đam mê khoa học và công nghệ, hai truyện ngắn có cốt truyện xuất sắc “The Unparalleled Adventure of Hans Pfaall” và “Von Kempelen and His Discovery” đã ra đời, dự báo trước cho một thể loại văn học sẽ phổ biến ở thế kỉ 20.

Tương tự như vậy, ba câu chuyện giàu tính suy tư của ông gồm ”The Murders in the Rue Morgue,” “The Purloined Letter,” và “The Mystery of Marie Roget” đã xây dựng một hệ thống các nhân vật chính đặc trưng và các quy ước văn chương cho dòng tiểu thuyết trinh thám: thường là một tay thám tử nghiệp dư giải được một vụ án mà các nhà chức trách phải bó tay, đi cùng với một cộng sự ghi chép lại chuỗi suy luận của anh trong quá trình điều tra.

Được coi như ông tổ cho các trào lưu văn chương quan trọng như Chủ nghĩa biểu tượng và Chủ nghĩa siêu thực lại có ảnh hưởng đến nhiều tác giả nổi tiếng, bản thân Poe cũng chịu ảnh hưởng bởi nhiều tác giả và phong trào văn học.

Kĩ thuật sử dụng các yếu tố ma thuật và quỷ dữ của Poe chịu ảnh hưởng từ các tác phẩm của E.T.A. Hoffman cũng như tiểu thuyết Gothic của Ann Radcliffe, trong khi cảm xúc chủ đạo trong nhiều tác phẩm của ông – nỗi thất vọng và u sầu lại phản ánh đặc điểm của trào lưu văn học Lãng mạn đầu thế kỷ XIX.

Khả năng thiên tài của Poe nằm ở chỗ: ông tái hiện lại những nỗi ám ảnh cá nhân của mình và của thế hệ văn chương trước dưới một hình thức nghệ thuật hoàn hảo, cùng lúc lại tạo ra những hình thức mới, một phương thức biểu đạt nghệ thuật mới cho lứa nghệ sĩ sau này.

Được nhớ đến bởi các tiểu thuyết ngắn, Poe thực chất lại bắt đầu sự nghiệp của mình bằng các tác phẩm thơ ca từ thời niên thiếu. Những vần thơ đầu tiên chịu ảnh hưởng bởi các tác giả Lãng mạn người Anh như Lord Byron, John Keats, và Percy Bysshe Shelley; tuy nhiên có thể nhận thấy chúng báo trước quan điểm chủ quan riêng và chất thần bí, siêu thực ở các bài thơ sau này của ông.

“Tamerlane” và “Al Aaraaf” thể hiện bước tiến của Poe từ việc khắc họa các vai anh hùng trong thơ Byron đến miêu tả những chuyến hành trình trong tưởng tượng hay tiềm thức của chính mình.

“Tamerlane” – hồi tưởng lại “Cuộc hành hương của Childe Harold” của Byron – kể về cuộc đời và những chuyến phiêu lưu của một kẻ xâm lược Mông Cổ ở thế kỉ mười bốn; còn “Al Aaraaf” dẫn người đọc đến một thế giới không có thực, nơi không điều tốt đẹp hay cái xấu xa vĩnh hằng nào có thể tồn tại ngoài một vẻ đẹp tuyệt đối.

Các bài thơ “To Helen,” “Lenore” và “The Raven” đều khắc họa cuộc hành trình khám phá sự biến mất của một cái đẹp lý tưởng và những tranh đấu để giành lại nó. Chủ thể trong cả ba bài thơ này đều là một chàng trai đau buồn trước sự ra đi của người mình yêu.

“To Helen” kể về một người phụ nữ (mà trong mắt người kể chuyện) là hiện thân cho vẻ đẹp cổ điển của Hy Lạp cổ đại và Rome. Nó được ca ngợi là một trong những bài thơ tình đẹp nhất được viết bằng tiếng Anh. “Lenore” là sự tưởng nhớ đến người đã khuất bằng việc khóc than hay ăn mừng sự sống, vượt ra ngoài những ranh giới của trần thế.

Trong khi đó, “The Raven” là sự hòa trộn giữa các lý tưởng triết học với thẩm mỹ của Poe. Trong bài thơ mang nặng tính nội tâm này, một học giả trẻ tuổi chịu đau khổ bởi lời nguyền rủa “Không bao giờ nữa” được lặp đi lặp lại của một con quạ – nó trả lời cho câu hỏi của anh về xác suất anh có thể gặp lại người yêu cũ ở thế giới bên kia.

Trong ấn bản tiếng Pháp của “The Raven”, Charles Baudelaire bình luận ở phần giới thiệu: “Đó là thơ của những đêm dài thao thức mộng mị, của nỗi tuyệt vọng; Nó chẳng thiếu điều gì: dù là cơn sốt của những lý tưởng, trận chiến của màu sắc, những lý luận bệnh hoạn, cơn khủng bố… hay thậm chí sự vui vẻ đến kỳ lạ của đau khổ khiến nó càng trở nên khủng khiếp hơn.”

Những bài thơ của Poe cũng rất phù hợp để đọc thành lời. Kết hợp giữa âm thanh với nhịp điệu, ông sử dụng các kỹ thuật như phương pháp lặp, song song, vần trong, phép điệu và phép cộng hưởng để tạo ra những tác phẩm giàu tính âm nhạc và đầy ám ảnh, có một không hai trong nền thơ ca Mỹ. Ví dụ như trong bài “The Bells”, từ “chuông” được lặp nhiều lần dưới các cấu trúc khác nhau, tái hiện âm điệu của nhiều loại chuông được mô tả trong bài.

Dù khi còn sống, các tác phẩm của ông không nhận được nhiều sự chú ý, Poe vẫn được coi như một tác giả bậc thầy của văn chương hư cấu, một nhà thơ, người đàn ông của ngôn từ; và sự chú ý nhất định từ công chúng cũng đến với ông đặc biệt là với tác phẩm “The Raven.”

Tuy nhiên sau cái chết của Poe, người ta vẫn còn nhiều nhận định và đánh giá trái chiều về ông. Vấn đề này được khởi xướng bởi Poe RW Griswold, người bạn cũng như người phụ trách tài sản văn chương của Poe sau khi ông qua đời, người đã khẳng định trong cáo phó ở New York Tribune rằng những vấn đề tâm lý xuất hiện ở nhiều nhân vật trong các tác phầm hư cấu của Poe thực chất chính là những vấn đề mà bản thân Poe gặp phải.

Sự bôi nhọ của Griswold gợi lên cả sự thông cảm lẫn những lời chỉ trích đến Poe và các tác phẩm của ông, khiến cho nhiều nhà tiểu sử hàng đầu của thế kỷ mười chín bảo vệ, đôi khi quá nhiệt tình, tên tuổi của Poe.

Mãi cho tới năm 1941 phiên bản tiểu sử về Poe dưới góc nhìn của tác giả A.H. Quinn mới cho thấy một cái nhìn khách quan cả về bản thân, sự nghiệp cũng như mối quan hệ giữa đời tư và khả năng tưởng tượng của ông. Tuy nhiên, giới văn học ở thế kỉ 20 vẫn đánh đồng Poe với những tên sát nhân và người điên trong các tác phẩm của ông, đặc biệt trong các nghiên cứu về phân tâm học của Marie Bonaparte và Joseph Wood Krutch.

Thêm vào cuộc tranh cãi về sự tỉnh táo hay sự chín chắn của Poe (Paul Elmer More so sánh ông với “đứa trẻ chưa chín chắn và người đàn ông bất an”), là câu hỏi liệu các tác phẩm của Poe có thể đươc coi như là văn chương một cách nghiêm túc.

Về phía những người phê bình Poe là những nhân vật nổi tiếng như Henry James, Aldous Huxley, và T. S. Eliot – họ coi các tác phẩm của Poe là non nớt, thô tục và làm giảm giá trị của nghệ thuật. Ngược lại, các nhà văn như Bernard Shaw và William Carlos Williams lại cho rằng các tác phẩm của ông đã chạm đến giá trị cao nhất của văn chương.

So với các nhà phê bình khác trên thế giới đặc biệt là ở Pháp, các nhà phê bình Anh và Mỹ đánh giá Poe cao hơn. Nối tiếp những bản dịch và bình luận của Charles Baudelaire trong những năm 1850, các tác phẩm của Poe cũng nhận được sự ngưỡng mộ đặc biệt từ các nhà văn Pháp, đặc biệt là những người liên quan đến chủ nghĩa Tượng trưng ở cuối thế kỷ 19; họ ngưỡng mộ những ước muốn siêu việt của Poe trên cương vị một nhà thơ; hay Phong trào Siêu thực của thế kỷ thứ hai mươi, vốn đánh giá cao trí tưởng tượng kỳ lạ và ngông cuồng của Poe; các tác giả như Paul Valery, người đã nghiên cứu các lý thuyết của Poe và liên tưởng đến một lý tưởng về chủ nghĩa duy lý tối cao.

Ngoài ra, các tác phẩm của ông cũng nhận được sự đánh giá cao tại các quốc gia khác. Đã có nhiều công trình nghiên cứu ảnh hưởng của ông đối với nền văn học thế giới, đặc biệt là ở Nga, Nhật Bản, Scandinavia và Mỹ Latinh.

Ngày nay, Poe được công nhận là một trong những nhà tiên phong hàng đầu của văn học hiện đại, cả ở những hình thức văn chương phổ biến như truyện kinh dị và tiểu thuyết trinh thám, hay ở trong những hình thức phức tạp hơn và có ý thức về cái Tôi hơn, thể hiện được phong cách nghệ thuật chủ đạo của thế kỷ XX.

Trái với những nhà phê bình trước đây đánh đồng tác giả và tác phẩm là một, các nhà phê bình của 25 năm qua đã phát triển một góc nhìn về Poe như một nghệ sĩ độc lập, người quan tâm đến việc thể hiện phẩm chất hơn là cố gắng biểu đạt “linh hồn” của mình; ông duy trì một sự tách bạch thay vì tự viết về bản thân mình trong các tác phẩm của ông.

Trong khi có những nhà phê bình như Yvor Winters muốn xóa ông ra khỏi lịch sử văn chương, người ta không thể không nhắc đến các tác phẩm của ông khi đề cập bất kỳ quan niệm nào liên quan đến chủ nghĩa hiện đại trong nền văn học thế giới.

Herbert Marshall McLuhan đã viết trong một bài luận mang tựa đề “Edgar Poe’s Tradition”: “Trong khi những quý ông New England thư thái đọc về Plato và Đức Phật bên bàn trà, Browning và Tennyson giải khuây cho tâm trí người Anh bằng một màn sương mù, Poe không bao giờ lừa phỉnh bản thân, quay lưng lại với những bệnh dịch của thời đại mình. Người cùng thời với Baudelaire và bậc tiền bối của Conrad cùng Eliot –  không ai khác, chính ông là người đã soi ngọn đuốc dẫn lối cho chúng ta vào tận cùng của vực thẳm.”

Nguồn: Poetry Foundation

Người dịch: Lưu Bích Ngọc – Học viên lớp “Nguyên tắc dịch thuật Anh – Việt và Việt – Anh

 

* Đọc thêm: Phương pháp sáng tác của Edgar Allan Poe

* Một số bài thơ nổi tiếng của Edgar Allan Poe:

 

The Bells

I.

Hear the sledges with the bells—
Silver bells!
What a world of merriment their melody foretells!
How they tinkle, tinkle, tinkle,
In the icy air of night!
While the stars that oversprinkle
All the heavens, seem to twinkle
With a crystalline delight;
Keeping time, time, time,
In a sort of Runic rhyme,
To the tintinabulation that so musically wells
From the bells, bells, bells, bells,
Bells, bells, bells—
From the jingling and the tinkling of the bells.

II.

Hear the mellow wedding bells,
Golden bells!
What a world of happiness their harmony foretells!
Through the balmy air of night
How they ring out their delight!
From the molten-golden notes,
And all in tune,
What a liquid ditty floats
To the turtle-dove that listens, while she gloats
On the moon!
Oh, from out the sounding cells,
What a gush of euphony voluminously wells!
How it swells!
How it dwells
On the Future! how it tells
Of the rapture that impels
To the swinging and the ringing
Of the bells, bells, bells,
Of the bells, bells, bells, bells,
Bells, bells, bells—
To the rhyming and the chiming of the bells!

III.

Hear the loud alarum bells—
Brazen bells!
What tale of terror, now, their turbulency tells!
In the startled ear of night
How they scream out their affright!
Too much horrified to speak,
They can only shriek, shriek,
Out of tune,
In a clamorous appealing to the mercy of the fire,
In a mad expostulation with the deaf and frantic fire,
Leaping higher, higher, higher,
With a desperate desire,
And a resolute endeavor
Now—now to sit or never,
By the side of the pale-faced moon.
Oh, the bells, bells, bells!
What a tale their terror tells
Of Despair!
How they clang, and clash, and roar!
What a horror they outpour
On the bosom of the palpitating air!
Yet the ear it fully knows,
By the twanging,
And the clanging,
How the danger ebbs and flows;
Yet the ear distinctly tells,
In the jangling,
And the wrangling.
How the danger sinks and swells,
By the sinking or the swelling in the anger of the bells—
Of the bells—
Of the bells, bells, bells, bells,
Bells, bells, bells—
In the clamor and the clangor of the bells!

IV.

Hear the tolling of the bells—
Iron bells!
What a world of solemn thought their monody compels!
In the silence of the night,
How we shiver with affright
At the melancholy menace of their tone!
For every sound that floats
From the rust within their throats
Is a groan.
And the people—ah, the people—
They that dwell up in the steeple,
All alone,
And who tolling, tolling, tolling,
In that muffled monotone,
Feel a glory in so rolling
On the human heart a stone—
They are neither man nor woman—
They are neither brute nor human—
They are Ghouls:
And their king it is who tolls;
And he rolls, rolls, rolls,
Rolls
A pæan from the bells!
And his merry bosom swells
With the pæan of the bells!
And he dances, and he yells;
Keeping time, time, time,
In a sort of Runic rhyme,
To the pæan of the bells—
Of the bells:
Keeping time, time, time,
In a sort of Runic rhyme,
To the throbbing of the bells—
Of the bells, bells, bells—
To the sobbing of the bells;
Keeping time, time, time,
As he knells, knells, knells,
In a happy Runic rhyme,
To the rolling of the bells—
Of the bells, bells, bells—
To the tolling of the bells,
Of the bells, bells, bells, bells—
Bells, bells, bells—
To the moaning and the groaning of the bells.

 

*

 

A Dream Within A Dream

Take this kiss upon the brow!
And, in parting from you now,
Thus much let me avow –
You are not wrong, who deem
That my days have been a dream;
Yet if hope has flown away
In a night, or in a day,
In a vision, or in none
Is it therefore the less gone?
All that we see or seem
Is but a dream within a dream.

I stand amid the roar
Of a surf-tormented shore,
And I hold within my hand
Grains of the golden sand –
How few! Yet how they creep
Through my fingers to the deep,
While I weep – while I weep!
O God! can I not grasp
Them with a tighter clasp?
O God! Can I not save
One from the pitiless wave?
Is all that we see or seem
But a dream within a dream?

 

*

 

The Raven

Once upon a midnight dreary, while I pondered, weak and weary,
Over many a quaint and curious volume of forgotten lore,
While I nodded, nearly napping, suddenly there came a tapping,
As of someone gently rapping, rapping at my chamber door.
” ‘Tis some visitor,” I muttered, “tapping at my chamber door;
Only this, and nothing more.”

Ah, distinctly I remember, it was in the bleak December,
And each separate dying ember wrought its ghost upon the floor.
Eagerly I wished the morrow; vainly I had sought to borrow
From my books surcease of sorrow, sorrow for the lost Lenore,.
For the rare and radiant maiden whom the angels name Lenore,
Nameless here forevermore.

And the silken sad uncertain rustling of each purple curtain
Thrilled me—filled me with fantastic terrors never felt before;
So that now, to still the beating of my heart, I stood repeating,
” ‘Tis some visitor entreating entrance at my chamber door,
Some late visitor entreating entrance at my chamber door.
This it is, and nothing more.”

Presently my soul grew stronger; hesitating then no longer,
“Sir,” said I, “or madam, truly your forgiveness I implore;
But the fact is, I was napping, and so gently you came rapping,
And so faintly you came tapping, tapping at my chamber door,
That I scarce was sure I heard you.” Here I opened wide the door;—
Darkness there, and nothing more.

Deep into the darkness peering, long I stood there, wondering, fearing
Doubting, dreaming dreams no mortals ever dared to dream before;
But the silence was unbroken, and the stillness gave no token,
And the only word there spoken was the whispered word,
Lenore?, This I whispered, and an echo murmured back the word,
“Lenore!” Merely this, and nothing more.

Back into the chamber turning, all my soul within me burning,
Soon again I heard a tapping, something louder than before,
“Surely,” said I, “surely, that is something at my window lattice.
Let me see, then, what thereat is, and this mystery explore.
Let my heart be still a moment, and this mystery explore.
” ‘Tis the wind, and nothing more.”

Open here I flung the shutter, when, with many a flirt and flutter,
In there stepped a stately raven, of the saintly days of yore.
Not the least obeisance made he; not a minute stopped or stayed he;
But with mien of lord or lady, perched above my chamber door.
Perched upon a bust of Pallas, just above my chamber door,
Perched, and sat, and nothing more.

Then this ebony bird beguiling my sad fancy into smiling,
By the grave and stern decorum of the countenance it wore,
“Though thy crest be shorn and shaven thou,” I said, “art sure no craven,
Ghastly, grim, and ancient raven, wandering from the nightly shore.
Tell me what the lordly name is on the Night’s Plutonian shore.”
Quoth the raven, “Nevermore.”

Much I marvelled this ungainly fowl to hear discourse so plainly,
Though its answer little meaning, little relevancy bore;
For we cannot help agreeing that no living human being
Ever yet was blessed with seeing bird above his chamber door,
Bird or beast upon the sculptured bust above his chamber door,
With such name as “Nevermore.”

But the raven, sitting lonely on that placid bust, spoke only
That one word, as if his soul in that one word he did outpour.
Nothing further then he uttered; not a feather then he fluttered;
Till I scarcely more than muttered, “Other friends have flown before;
On the morrow he will leave me, as my hopes have flown before.”
Then the bird said, “Nevermore.”

Startled at the stillness broken by reply so aptly spoken,
“Doubtless,” said I, “what it utters is its only stock and store,
Caught from some unhappy master, whom unmerciful disaster
Followed fast and followed faster, till his songs one burden bore,—
Till the dirges of his hope that melancholy burden bore
Of “Never—nevermore.”

But the raven still beguiling all my sad soul into smiling,
Straight I wheeled a cushioned seat in front of bird, and bust and door;
Then, upon the velvet sinking, I betook myself to linking
Fancy unto fancy, thinking what this ominous bird of yore —
What this grim, ungainly, ghastly, gaunt and ominous bird of yore
Meant in croaking “Nevermore.”

Thus I sat engaged in guessing, but no syllable expressing
To the fowl, whose fiery eyes now burned into my bosom’s core;
This and more I sat divining, with my head at ease reclining
On the cushion’s velvet lining that the lamplight gloated o’er,
But whose velvet violet lining with the lamplight gloating o’er
She shall press, ah, nevermore!

Then, methought, the air grew denser, perfumed from an unseen censer
Swung by seraphim whose footfalls tinkled on the tufted floor.
“Wretch,” I cried, “thy God hath lent thee — by these angels he hath
Sent thee respite—respite and nepenthe from thy memories of Lenore!
Quaff, O quaff this kind nepenthe, and forget this lost Lenore!”
Quoth the raven, “Nevermore!”

“Prophet!” said I, “thing of evil!–prophet still, if bird or devil!
Whether tempter sent, or whether tempest tossed thee here ashore,
Desolate, yet all undaunted, on this desert land enchanted–
On this home by horror haunted–tell me truly, I implore:
Is there–is there balm in Gilead?–tell me–tell me I implore!”
Quoth the raven, “Nevermore.”

“Prophet!” said I, “thing of evil–prophet still, if bird or devil!
By that heaven that bends above us–by that God we both adore–
Tell this soul with sorrow laden, if, within the distant Aidenn,
It shall clasp a sainted maiden, whom the angels name Lenore—
Clasp a rare and radiant maiden, whom the angels name Lenore?
Quoth the raven, “Nevermore.”

“Be that word our sign of parting, bird or fiend!” I shrieked, upstarting–
“Get thee back into the tempest and the Night’s Plutonian shore!
Leave no black plume as a token of that lie thy soul hath spoken!
Leave my loneliness unbroken! — quit the bust above my door!
Take thy beak from out my heart, and take thy form from off my door!”
Quoth the raven, “Nevermore.”

And the raven, never flitting, still is sitting, still is sitting
On the pallid bust of Pallas just above my chamber door;
And his eyes have all the seeming of a demon’s that is dreaming.
And the lamplight o’er him streaming throws his shadow on the floor;
And my soul from out that shadow that lies floating on the floor
Shall be lifted—nevermore!

Hits: 7

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *