Đọc các kỳ trước tại ĐÂY

Ở Anh, các công đoàn gia tăng nhân số do giới chủ công nhận các công đoàn và các thủ tục thương lượng tập thể. Vì các lãnh đạo công đoàn tin vào cách làm này, họ tin rằng họ có thể tự hoạt động mà không cần những sự hỗ trợ chính trị và pháp lý. Thất bại của các công đoàn kỹ sư vào năm 1898 đã không khiến giới chủ ngừng công nhận các công đoàn, và ở giai đoạn này, thương lượng tập thể đã lan ra khỏi các ngành nghề thủ công, để vào ngành khai thác than và sản xuất bông. Tuy nhiên, khác với công đoàn của các ngành thủ công, than và bông, các công đoàn mới phát sinh vẫn phải đối mặt với những cuộc đấu tranh gian khó. Các công đoàn trong ngành hàng hải, đường sắt và công nghiệp khí đốt thường bị từ chối công nhận, nhưng những công đoàn mới này đã sống sót được nhờ sẵn sàng tuyển thành viên từ các ngành nghề khác. Trong suốt thập niên 1910, các công đoàn tổng hợp hoặc đa ngành nghề đã phát triển nhanh nhất. Hai trong ba công đoàn lớn nhất của nửa sau thế kỷ 20 – gồm Công đoàn Công nhân Vận tải & Phổ thông (Transport and General Workers Union) và Công đoàn Công nhân viên Thành phố & Công nhân Phổ thông (General and Municipal Workers Union) – là các hậu duệ trực tiếp của những công đoàn mới năm 1889.

Dù sự tăng nhân số của các công đoàn là một đặc điểm rõ rệt của giai đoạn đầu thế kỷ 20 ở Anh, cũng như ở Australasia, quá trình tăng trưởng này thường kém ổn định và tùy thuộc vào các chu kỳ kinh tế. Trong những năm thừa mứa việc làm, kéo dài từ 1910 đến 1920, nó đã bùng nổ, kèm theo sự leo thang của những cuộc bạo động trong ngành khai khoáng, đường sắt, cảng biển, và nhiều nơi khác. Như trong những thuộc địa ngày trước, những cuộc bạo động này nhuốm màu “chủ nghĩa công đoàn” (1). Tuy nhiên, đà tăng trưởng này đột ngột tạm dừng vào năm 1920, khi số thành viên công đoàn đang chiếm 45% lực lượng lao động. Do tình trạng thất nghiệp nặng nề sau đó, tỉ lệ này đã sụt giảm cho đến những năm đầu thập niên 1930. Dù công đoàn ở các nước khác cũng ngừng mở rộng do nạn thất nghiệp, các công đoàn Anh đã sụt giảm ở mức nghiêm trọng, khi chỉ còn chiếm 22.6% lực lượng lao động. Nhưng điều này đã không khiến các xung đột công nghiệp giảm đi, do các công đoàn đã cương quyết chống lại đòi hỏi giảm lương của giới chủ. Năm 1921, với việc thành lập một Hội đồng Chung, Đại hội Công Đoàn (TUC) đã tự trang bị để phối hợp các hoạt động phản kháng công nghiệp. Vũ khí này đã được đưa vào thử nghiệm năm 1926, khi họ kêu gọi tổng đình công để ủng hộ Liên đoàn Thợ mỏ (Miners Federation). Xung đột ở quy mô này chắc chắn đã khiến các công đoàn rơi vào thế đối đầu với chính phủ. Do khía cạnh đại cục này của cuộc tranh chấp, cuối cùng TUC đã đứng ra kêu gọi ngừng đình công. Về phần mình, chính phủ không thiên về phương án can thiệp mạnh hơn hoặc giới hạn các hoạt động của công đoàn. Họ chỉ thiết lập cái gọi là các giới hạn hợp pháp cho hành động của công đoàn, và xác nhận nó bằng đạo luật năm 1927. Giới chủ cũng không chuyển sang phủ nhận các công đoàn sau vụ việc.

(Còn tiếp. Đọc các kỳ sau tại ĐÂY )

Dịch bởi Phạm Đình Bá và Nguyễn Vũ Hiệp – Unions Network

Bài gốc: Encilopedia Britannica

Ghi chú của người dịch:

(1) Chủ nghĩa công đoàn (syndicalism): một phong trào đòi chuyển giao quyền sở hữu và kiểm soát các phương tiện sản xuất và phân phối cho các công đoàn. Chịu ảnh hưởng từ Proudhon và nhà triết học xã hội người Pháp, ông Georges Sorel (1847–1922), chủ nghĩa công đoàn phát triển trong các công đoàn Pháp hồi cuối thế kỷ 19. Nó lớn mạnh nhất trong khoảng giữa năm 1900 và 1914, đặc biệt là ở Pháp, Ý, Tây Ban Nha và Mỹ.

Hits: 17

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *