Đọc các kỳ trước tại ĐÂY

Để khắc phục điểm yếu của mình trong thương lượng công nghiệp, các công đoàn ở Australia đã chuyển sang tìm sự hỗ trợ nơi chính phủ và pháp luật. Họ đòi thiết lập các hệ thống, trong đó xung đột lợi ích giữa chủ và thợ phải được giải quyết bằng tòa án trọng tài, nhằm buộc chủ thuê phải thương lượng với thợ. Giải pháp có hiệu quả đầu tiên theo hướng này đã được ban hành bởi chính phủ của phe Tự do ở New Zealand. Đạo luật Hòa giải và Trọng tài Công nghiệp (Industrial Conciliation and Arbitration Act) năm 1894 đã được soạn thảo bởi William Pember Reeves – thành viên cấp tiến nhất của chính phủ, một người theo chủ nghĩa xã hội trong cánh Tự do. Để giải quyết việc giới chủ không tuân thủ các quyết định trọng tài, Reeves đã phát minh ra một hệ thống mới, trong đó sự tham gia là tự nguyện với các công đoàn, nhưng là bắt buộc với giới chủ. Một công đoàn đã chọn đăng ký theo đạo luật của Reeves có thể đưa bất cứ chủ thuê nào ra trước Tòa án Trọng tài; và các phán quyết của Tòa này có hiệu lực pháp lý, khiến người chủ bắt buộc phải thực hiện.

Theo sau New Zealand, Australia đã áp dụng luật về trọng tài cưỡng chế ở cả cấp tiểu bang và liên bang. Các mốc đáng nhớ bao gồm Đạo luật năm 1900 ở tiểu bang Tây Úc, Đạo luật năm 1901 ở tiểu bang New South Wales, và Luật năm 1904 của Liên bang. Hệ thống mới đã không được thiết lập một cách dễ dàng. Phe đối lập của giới chủ rất mạnh, và họ đã chỉ bị quật ngã bởi một tổ hợp các lực lượng chính trị khác nhau, bao gồm phe Tự do và các đảng Lao động mới.

Kinh nghiệm New Zealand cũng thu hút sự chú ý ở Anh. Trong Đại hội Công đoàn Anh (Trades Union Congress – TUC), những công đoàn yếu, mới thành lập, chưa được giới chủ công nhận đã ủng hộ luật trọng tài cưỡng chế, vì họ cho rằng luật này sẽ giúp họ đạt được sự công nhận đó. Dù viễn kiến của họ đã trở thành hiện thực trong Thế chiến I, hồi đầu thế kỷ 20, hầu hết các công đoàn vẫn hoài nghi về khả năng thành công của phương án này. Những thỏa thuận tập thể có hiệu lực pháp lý đòi hỏi các công đoàn phải dính líu đến tòa án nhiều hơn, trong khi các quan tòa Anh được xem là thiếu khả năng đưa ra phán quyết vô tư trong những vấn đề lao động. Sau phán quyết Taff Vale năm 1901, các công đoàn đã tăng cường ủng hộ Đảng Lao động, để giảm quyền can thiệp của các quan tòa xuống mức thấp nhất có thể. Trong Đạo luật Tranh chấp Thương mại (Trade Disputes Act) năm 1906, các công đoàn Anh đã bảo vệ thành công các quyền miễn trừ mà họ đòi hỏi. Quyền miễn trừ này tiếp tục là nền tảng cho việc thực hiện quan hệ lao động ở Anh đến những năm 1970.

Trong một bối cảnh xã hội khác, các công đoàn Australia tin rằng luật trọng tài cưỡng chế sẽ hoạt động vì lợi ích của họ, và chuyện đã xảy ra đúng như vậy. Vào thập niên 1890, rất ít người nghĩ rằng xu hướng công đoàn hóa sẽ đặc biệt phổ biến ở 2 nước này, nhưng 20 năm sau, Australia là một trong những nước có phong trào công đoàn phát triển nhất thế giới. Các công đoàn cũng lan rộng ở New Zealand theo cách tương tự. Trừ một đợt sụt giảm nhẹ vào đầu thập niên 1920, sự gia tăng số thành viên công đoàn ở Australia đã hầu như không bị ngăn chặn cho đến năm 1927. Quá trình này khiến tỉ lệ thành viên công đoàn trong tổng số người lao động tăng từ 9% lên 47%. Luật trọng tài cưỡng chế rõ ràng đã công nhận và bảo vệ các công đoàn, khi mà nhờ nó, ngay cả những công đoàn yếu nhất cũng có thể buộc giới chủ điều chỉnh tiền lương và điều kiện lao động theo phán quyết của tòa trọng tài. Và khi các tòa trọng tài ra phán quyết rằng trong khâu tuyển dụng, những thành viên của công đoàn sẽ được hưởng nhiều ưu tiên hơn, các công đoàn càng tăng trưởng mạnh thêm ở cả hai nước. Trong trường hợp New Zealand, đạo luật sửa đổi vào năm 1936 – theo đó người lao động bắt buộc phải tham gia công đoàn – đã khiến nhân số của các công đoàn tăng chóng mặt. Ở Australia, một bước tiến triển quan trọng khác đã đến vào năm 1907, với phán quyết của Tòa án Trọng tài về vụ Harvester. Phán quyết này khẳng định rằng một nền công nghiệp trước tiên phải cung cấp một mức lương đủ sống. Nhờ nó, người lao động thiếu kỹ năng được hưởng một mức lương cơ bản cao hơn mức giá khi đó một khoảng đáng kể. Tuy nhiên, ở cả 2 nước này, các công đoàn bị lệ thuộc vào sự hỗ trợ pháp lý ở mức độ khác nhau. Các công đoàn có số thành viên nhỏ và phân bố rải rác (loại này chiếm phần đông) gần như hoàn toàn bị lệ thuộc. Trong khi đó, những tổ chức lớn hơn và tập trung hơn có một sự lựa chọn khác, là thương lượng trực tiếp và đình công.

Trong những năm ngay trước và sau Thế chiến I, khuynh hướng thay thế này đã nhận được một sự ủng hộ ngày càng tăng trong các công đoàn của thợ mỏ, thợ đường sắt và phu bến cảng, nơi mà, như ở nước Anh, tư tưởng về những hành động đấu tranh trực tiếp của công đoàn đã tạo được một số ảnh hưởng. Việc một số công đoàn từ chối chính trị nghị viện, và tỏ ra thù địch với mọi thứ xuất phát từ nhà nước, đã tạo ra một khía cạnh đặc biệt trong bối cảnh của luật trọng tài cưỡng chế. Ở New Zealand, một Liên đoàn Lao động (Federation of Labour) có tính bạo động đã phát triển trong thế đối lập với hệ thống trọng tài, và vào năm 1912 – 1923, nó đã gây ra một cuộc đối đầu bạo lực ở các thị trấn hải cảng và khai khoáng. Tuy nhiên, cuộc bạo động đã bị ngăn chặn bởi giới chủ (giờ đây được huy động để bảo vệ hệ thống trọng tài), các nông dân và chính quyền. Quan trọng hơn, vì việc tham gia Đạo luật Trọng tài rất có giá với đa số các công đoàn, số này không liên kết với Liên đoàn Lao động. Trong và sau cuộc chiến, ý tưởng về “Một Đại Công đoàn”, thứ thống nhất các tổ chức hiện có để tối đa hóa sức mạnh đình công, đã được truyền bá ở một phạm vi nhất định. Dường như nó đã trì hoãn sự xuất hiện của một bản sao của TUC ở Australia, trong khi đây là thứ mà các công đoàn liên thuộc địa hồi thế kỷ trước đã hướng đến. Cuối cùng hy vọng về một kế hoạch lớn hơn phai nhạt đi, và Hội đồng Công đoàn Australia (Australian Council of Trade Unions – ACTU) được thành lập vào năm 1927. Dù những người muốn biến ACTU thành phương tiện để thúc đẩy sự liên kết khi đình công cũng góp phần khiến tổ chức này ra đời, trong thực tế sự tồn tại của ACTU lệ thuộc nhiều vào chức năng của nó trong hệ thống trọng tài cấp Liên bang, khi nó đại diện cho các công đoàn trong chuyện mức lương cơ bản và các tranh chấp cấp quốc gia khác.

(Còn tiếp. Đọc các kỳ sau tại ĐÂY )

Dịch bởi Nguyễn Đình Bá và Nguyễn Vũ Hiệp – Unions Network

Bài gốc: Encilopedia Britannica

Hits: 86

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *